Quản lý nhà nước đối với hệ thống đường giao thông nông thôn huyện châu thành, tỉnh bến tre - Pdf 49

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 76% dân số sống ở nông
thôn, 73% lực lượng lao động xã hội đang làm việc và sinh sống nhờ vào các hoạt
động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng
nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Đảng và Nhà nước luôn quan tâm trong
công tác xây dựng phát triển nông thôn, cải thiện, nâng cao mức sống của người
nông dân, nhất là những vùng sâu vùng xa, miền núi hải đảo. Với phương châm
"Nhà nước và nhân dân cùng làm, dân làm là chính, có sự hướng dẫn, hỗ trợ của
Nhà nước", Chính phủ đã dành nguồn vốn đáng kể cho đầu tư và phát triển hệ
thống đường giao thông nông thôn (GTNT).
Giao thông nông thôn là một trong những lĩnh vực được tập trung quan tâm
phát triển mạnh trong nhiều năm qua. Với mục tiêu giảm tỷ lệ đói nghèo, từng bước
cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế.
Vì vậy giao thông nông thôn là một phần quan trọng trong kết cấu hạ tầng kỹ thuật
của cả nước, nâng đỡ cho sản xuất, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. Hệ thống giao
thông nông thôn được phát triển sẽ thúc đẩy giao lưu giữa các vùng sản xuất nông
nghiệp với các thị trấn, các cộng đồng dân cư, các trung tâm kinh tế, thúc đẩy tiêu
dùng, thúc đẩy đầu tư xây dựng ở khu vực dân cư, tạo điều kiện phát triển văn hóa
xã hội và củng cố an ninh quốc phòng.
Dưới tác động của nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của nhiều
ngành kinh tế xã hội và tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó là sự thay
đổi về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của huyện Châu Thành nói riêng và tỉnh Bến
Tre nói chung tác động tích cực đến quá trình đẩy mạnh xây dựng và phát triển hệ
thống GTNT. Tuy nhiê n, vớ i Nguồn lực còn hạn chế (vốn, lao động, đất đai…), sự
quan tâm của các cấp chính quyền còn chưa cao, mức sống của dân cư nông thôn nói
chung còn thấp, tỷ lệ các hộ nghèo cũng như nhận thức của người dân về việc xây dựng
hệ thống GTNT chưa cao nên ảnh hưởng đến việc phát triển mạng lưới GTNT cho
huyện Châu Thành, chưa đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu xã hội của cộng
đồng dân cư nông thôn.
Hệ thống đường giao thông nông thôn là các công trình được dùng để phục

Tuần 8

NỘI DUNG CÔNG VIỆC
- Báo cáo lãnh đạo phòng Kinh tế và Hạ tầng về
kế hoạch thực tập để trưởng phòng sắp xếp, bố
trí người hướng dẫn.
- Tiếp xúc, làm quen với các nhân viên, anh chị
trong cơ quan.
- Tìm hiểu qui chế cơ quan.
- Làm quen với môi trường công vụ.
- Tìm hiểu về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và các mối quan hệ của phòng Kinh tế và
Hạ tầng.
- Tiếp xúc một số công việc của cơ quan.
- Có mặt thường xuyên tại cơ quan thực tập, học
tập và hỗ trợ cán bộ, công chức trong cơ quan
các công việc được giao.
- Tìm hiểu một số quy trình nghiệp vụ của phòng
Kinh tế và Hạ tầng.
- Nghiên cứu các văn bản liên quan đến chuyên
đề thực tập.
- Liên hệ với giảng viên hướng dẫn về tên đề tài
báo cáo thực tập chính thức.
- Thực hiện các công việc do cơ quan thực tập
giao.
- Chuẩn bị tài liệu viết đề cương báo cáo thực tập.
- Thu tập tài liệu liên quan đến chuyên đề thực
tập.
- Viết sơ lược đề cương báo cáo thực tập.
- Tiếp tục hỗ trợ cơ quan hoàn thành tốt các công

văn đi trong ngày.
Tham gia buổi khảo sát vi phạm hành lang lộ giới đường Hồ Chí Minh.
Khảo sát một số tuyến đường bê tông có gờ giảm tốc do người dân 2 bên đường
tự làm dễ gây tai nạn giao thông.
III. KẾT QUẢ THỰC TẬP
Trong thời gian thực tập tại phòng kinh tế và Hạ tầng, tôi đã học hỏi, trau dồi cho
bản thân được một số kỹ năng như:
- Kỹ năng soạn thảo văn bản hành chính thông thường.
- Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và xử lý công việc.
- Kỹ năng giao tiếp với cấp trên, các anh, chị trong phòng và nhất là với nhân
dân đến làm việc.
- Kỹ năng xử lý công việc.
- Kỹ năng phân tích, tổng hợp.
Biết được quy trình làm việc và giải quyết công việc tại cơ quan thực tập.
Giúp tôi biết được quy hoạch hệ thống đường GTNT của Huyện mình trong
thời gian tới.
Có cơ hội được tiếp xúc với những công việc thực tế để áp dụng những kiến
thực được học trên ghế nhà trường.


Phần 2: BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
I. TỔNG QUAN VỀ PHÒNG KINH TẾ VÀ HẠ TẦNG HUYỆN CHÂU THÀNH
1.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
1.1.1. Vị trí và chức năng
Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện (dưới đây gọi tắt là Phòng) là cơ quan chuyên
môn thuộc UBND huyện, Phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công
tác của UBND huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về
chuyên môn, nghiệp vụ của các Sở: Công Thương, Xây dựng, Khoa học và Công
nghệ, Giao thông vận tải. Phòng có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được dự toán
kinh phí để hoạt động và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của

thực hiện việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, thu hồi giấy phép xây dựng công trình và kiểm
tra việc xây dựng công trình theo giấy phép được cấp trên địa bàn theo sự phân công,
phân cấp của UBND tỉnh.


Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về công thương, giao thông vận tải, xây
dựng cho cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện.
Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện việc xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa,
duy tu, bảo trì, quản lý, khai thác, sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn
huyện theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của UBND tỉnh, huyện.
Giúp UBND huyện trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách về nhà ở và
công sở; quản lý quỹ nhà ở và quyền quản lý sử dụng công sở trên địa bàn huyện theo
phân cấp của UBND tỉnh; tổ chức thực hiện công tác điều tra, thống kê, đánh giá định
kỳ về nhà ở và công sở trên địa bàn huyện; tổ chức thực hiện việc cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định của UBND tỉnh;
tổng hợp tình hình đăng ký, chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình
xây dựng trên địa bàn huyện.
Thực hiện một số nghiệp vụ khác do UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện giao
hoặc theo quy định của pháp luật.
1.2. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của phòng Kinh tế và Hạ tầng UBND huyện Châu Thành được
thể hiện trong sơ đồ sau:
TRƯỞNG PHÒNG
(Phụ trách chung)

PHÓ
PHÓ TRƯỞNG
TRƯỞNG PHÒNG
PHÒNG


thông;
thông; văn
văn
thư
thư lưu
lưu trữ;
trữ;
hạ
hạ tầng
tầng kỹ
kỹ
thuật
thuật đô
đô
thị.
thị.

Chuyên
Chuyên
viên
viên hợp
hợp
đồng
đồng phụ
phụ
trách
trách
thương
thương mại;
mại;

cửa
cửa điện
điện tử.
tử.

Chuyên
Chuyên viên
viên
phụ
phụ trách
trách
công
công
nghiệp;
nghiệp; tiểu
tiểu
thủ
thủ công
công
nghiệp;
nghiệp;
khoa
khoa học
học &
&
công
công nghệ;
nghệ;
tổng
tổng hợp.

viên
viên phụ
phụ
trách
trách kiến
kiến
trúc;
trúc; quy
quy
hoạch
hoạch xây
xây
dựng;
dựng; phát
phát
triển
triển đô
đô thị.
thị.

1.3. Nhân sự
Phòng Kinh tế và Hạ tầng có 09 người (5 nam, 4 nữ). Trong đó, 02 công chức giữ
chức vụ lãnh đạo, 07 chuyên viên.
Về trình độ: Đội ngũ cán bộ, công chức phòng Kinh tế và Hạ tầng có bằng đại
học là 07 người, chiếm tỷ lệ 77,78%, cao đẳng là 02 người, chiếm 22,22%.


Về độ tuổi dưới 30 có 02 người chiếm tỷ lệ 22,22%, độ tuổi từ 30-40 là 06
người chiếm 66,67% và độ tuổi từ 40-50 là 01 người chiếm tỷ lệ 11,11%.
1.4. Các mối quan hệ

cửa. Đối với những huyện, thị chưa có Bộ phận tiếp nhận một cửa thì nộp hồ sơ tại
phòng Kinh tế và Hạ tầng đối với các huyện, tại phòng Quản lý đô thị đối với các thị
xã. Bộ phận tiếp nhận kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ thì ghi phiếu hẹn cho cá nhân,
tổ chức (trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì hướng dẫn cá nhân, tổ chức hoàn chỉnh hồ
sơ), sau đó chuyển hồ sơ trong ngày đến Phòng Kinh tế và Hạ tầng đối với các huyện,
tại phòng Quản lý đô thị đối với các thị xã thẩm định.
Bước 2: Phòng Kinh tế và Hạ tầng đối với các huyện, phòng Quản lý đô thị đối
với các thị xã thẩm định cho ra kết quả. Trường hợp hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng
chưa đảm bảo về mặt kỹ thuật chuyên môn thì cơ quan thẩm định hồ sơ phải có văn
bản trả lời chính thức trong vòng 07 ngày làm việc. Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ không
tính vào thời hạn cấp Giấy phép xây dựng.
Bước 3. Tổ chức, cá nhân nhận kết quả và nộp lệ phí theo quy định tại nơi nộp
hồ sơ.
II. TỔNG QUAN VỀ CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO
2.1. Cơ sở lý luận


2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm về quản lý nhà nước
Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực
Nhà nước và sử dụng pháp luật Nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con
người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà
nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định
và phát triển của xã hội.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với hệ thống đường giao thông nông thôn
GTNT được định nghĩa là sự di chuyển người và hàng hoá ở cấp huyện và
cấp xã. GTNT có thể chia thành 3 loại nhỏ như sau: cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu,
đường thuỷ và cảng), phương tiện vận chuyển và con người. [2]
Đường GTNT là đường thuộc khu vực nông thôn. Được định nghĩa là loại
đường giá tương đối thấp, lưu lượng xe ít, các đường nhánh, các đường phục vụ chủ

130.864km, chiếm 44,81%. Giá trị của hệ thống GTNT lên tới hàng nhiều tỷ đô la
nếu không được khai thác, quản lý, bảo dưỡng tốt sẽ là một sự lãng phí rất lớn và
ảnh hưởng đến số đông người hưởng lợi.


Hàng trăm nghìn km cầu, đường nông thôn đuợc xây dựng mới, phục hồi và
nâng cấp. Theo số liệu thống kê, đến 01/07/2011 cả nước đã có 8940 xã, chiếm 98,6%
tổng số xã cả nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2,3% so với năm 2006),
trong đó đi lại được 4 mùa là 8803 xã, chiếm 97,1% ( tăng 3,5% so với năm 2006);
trong đó xã có đường ô tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa là 7917 xã
chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm 2006).
2.1.3. Tiêu chuẩn kỹ thuật đường giao thông nông thôn
Do Bộ Giao thông vận tải qui định thì đường GTNT gồm 4 loại đường AH,
A, B và C với chiều rộng mặt đường của loại đường AH và A là 3,5m, đường loại B
là 3,0m và loại C là 2,0m. chiều rộng nền đường l o ạ i đ ư ờ n g A H l à 6,5m, AHMN
là 6,0m, loại A là 5,0m, loại B là 4,0m và đường loại C là 3,0m. Kết cấu mặt đường
và nền móng rất khác nhau tuỳ thuộc điều kiện tự nhiên và xã hội tại mỗi vùng lãnh
thổ.[18]
2.1.4. Vai trò, vị trí của quản lý nhà nước đối với hệ thống đường giao thông
nông thôn
Theo phân cấp thông lệ quốc tế, mạng lưới GTNT thuộc loại 3. Chức năng
của nó là gắn kết hệ thống GTNT tại khu vực nông thôn với mạng lưới thứ cấp
(loại 2) và mạng lưới chính yếu (loại 1) thành hệ thống giao thông liên hoàn phục
vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trong GTNT thì đường bộ có vai
trò chủ đạo, quan trọng nhất sau đó là đường thuỷ nội địa.
Đường bộ nông thôn là đường từ cấp huyện trở xuống bao gồm đường
huyện, đường xã và đường thôn xóm. Song chỉ có hệ thống đường huyện và đường
xã là được phân cấp trong Nghị định 11/2010/NĐ - CP ngày 24 tháng 02 năm 2010
của Chính phủ quy định về Quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
còn mạng lưới đường thôn xóm chưa được phân cấp.

Sự cần thiết phải phát triển đường giao thông nông thôn:
Do tính chất quan trọng của hệ thống đường GTNT đối với phát triển kinh tế
và xã hội, do đó cần thiết phải đầu tư và phát triển GTNT.
Do tính chất phức tạp của công trình giao thông, nó lại không tập trung mà
phân bố rải rác khắp các bản làng và thôn xóm nên nó đòi hỏi phải có quy hoạch
tổng thể để xây dựng hệ thống GTNT hợp lý phục vụ cho phát triển kinh tế và xã
hội. Vì vậy mà việc đầu tư xây dựng GTNT đòi hỏi một số lượng vốn lớn mới có thể
đáp ứng được.
Việc xây dựng hệ thống đường GTNT phải được tiến hành nhanh chóng do
nó chịu ảnh hưởng của thời tiết. Nếu mùa mưa lũ kéo về sẽ gây cản trở cho quá trình
xây dựng. Do vậy mà nó đòi hỏi phải huy động tối đa các nguồn lực như vật liệu,
lao động và vốn...
Các công trình GTNT rất nhỏ lẻ do đó nguồn lao động tốt nhất cho các công
trình này là lấy tại chỗ, ở ngay địa phương đó như vậy sẽ giảm được chi phí xây
dựng. Các công trình giao thông này sẽ phát huy tác dụng ngay tại địa phương nơi
chính nó được xây dựng lên. Nó lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết và thời
gian sử dụng do đó cần phải có công tác sửa chữa và bảo dưỡng hợp lý để phát huy
hết tác dụng.
2.1.5. Quan điểm về quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn
Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh
xã hội hóa trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý
nhà nước đối với hệ thống đường GTNT. Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn hỗ trợ,
có chính sách giúp đỡ các gia đình thuộc diện chính sách, người nghèo, vùng dân
tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn khác. Chính sách "Nhà nước và nhân
dân cùng làm" trong phát triển GTNT giai đoạn vừa qua đã đóng góp tích cực vào
việc phát triển GTNT song cũng cần được xem xét lại cho phù hợp với tình hình
giai đoạn phát triển tiếp theo, đặc biệt là khi nước ta đã trở thành thành viên chính
thức của tổ chức thương mại thế giới ( WTO).
2.1.6. Một số vấn đề trong khai thác, sử dụng và quản lý nhà nước đối với hệ
thống đường giao thông nông thôn

thôn và mọi nỗ lực cần được bỏ ra nên tập trung vào một mạng lưới nòng cốt
được lựa chọn một cách cẩn thận, đồng thời dựa vào các nguồn lực địa phương
càng nhiều càng tốt. Sự quản lý gắn liền với những ai tham gia vào quá trình chọn
lựa tuyến đường ngay từ ban đầu, vì nếu họ không có tiếng nói thì sẽ không muốn
đóng góp.
Đường nông thôn chủ yếu là đường đất nên rất dễ bị lầy lội, sụt lún do
nước mưa, nước lũ, mương máng chảy cạnh đường hoặc bắc qua đường, nước ngầm
mao dẫn từ dưới lên hoặc hai bên vào làm đường bị hỏng. Vào mùa mưa việc bảo
dưỡng đường lại càng khó khăn hơn nữa.
Từ trước đến nay, việc bảo dưỡng duy tu chưa được coi trọng và trên thực tế
việc bảo dưỡng cũng chưa đúng kỹ thuật. Bảo dưỡng thường xuyên có nghĩa là
phải đảm bảo con đường phục vụ tốt một cách liên tục.
Còn có rất nhiều loại hỏng hóc và sự cố cần được bảo dưỡng tuy nhiên thực
tế việc bảo dưỡng vẫn chưa thực sự được quan tâm. Tình trạng hiện nay của công tác
bảo dưỡng đường GTNT là dựa vào nguồn lao động công ích và phụ thuộc vào
mức sống từng địa phương, còn lại hầu như bị thả nổi. Điều quan trọng bây giờ là
phải nâng cao ý thức của mỗi người dân trong việc bảo vệ con đường, đồng thời
thay đổi nhận thức của mọi người từ các nhà quản lý về việc nâng cấp và bảo dưỡng
thường xuyên, tránh rơi vào tình trạng thích xây mới hơn là bảo dưỡng.
Về mặt quản lý nhà nước
Từ các bộ ngành đến các địa phương trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông địa phương, GTNT vẫn chưa được quan tâm một cách đầy đủ, chưa có
quy hoạch phát triển lâu dài, vẫn còn có những chắp vá và chưa đồng bộ.
Phát triển GTNT chưa kết hợp chặt chẽ với các cụm kinh tế, cụm dân cư, định
canh, định cư và an ninh quốc phòng.


Về tổ chức quản lý chuyên ngành từ các bộ, ban ngành đến các tỉnh, huyện
chưa có một hệ thống tổ chức hoàn chỉnh, có huyện thì có phòng giao thông huyện,
có huyện thì hợp thành phòng giao thông công nghiệp hoặc giao thông xây dựng,

TT

Loại vùng

Mức đầu tư
(%)

Ngân sách địa
phương (%)

Đóng góp của
dân (%)

1

Vùng núi

80

20

0

2

Cao nguyên

60

30

Với vị trí nằm ngoài bao quanh thị xã đồng xoài, nên hệ thống QL và đường tỉnh
có dạng hướng tâm về trung tâm thị xã. Cụ thể là QL 14 xuyên suốt qua huyện theo
hướng Đông –Tây về thị xã, huyện Bù Đăng trong tỉnh với các tỉnh vùng tây nguyên,
QL 13 xuyên suốt qua huyện theo hướng Bắc – Nam nối Châu Thành với Bình Dương
và Thành Phố Hồ Chí Minh và qua nước bạn Campuchia, qua huyện Lộc Ninh; ĐT 751
trong phạm vi tỉnh Bến Tre kéo dài từ cầu bà và đến Thị trấn Châu Thành, là trục đối
ngoại của tỉnh nối Châu Thành với tỉnh Tây Ninh, ĐT 756 (QL 14 (Minh Lập) – Lộc
Hiệp), ĐT 239. Với các trục hướng tâm nêu trên, hệ thống đường huyện như những
tuyến nhánh nối kết các điểm dân cư ra các trục hướng tâm và giữa các trục này với
nhau tạo ra mạng lưới giao thông liên hoàn rất thuận lợi cho người dân đi lại từ các xã
về trung tâm huyện và thị xã Đồng Xoài.
Hiện có 100% Các xã có đường ô tô đến trung tâm. Tuy nhiên, chất lượng mặt
đường chưa cao. Hầu hết là các đường cấp phối sỏi đỏ và đường đất, hệ thống rãnh
thoát nước dọc còn thiếu đồng bộ nên vào mùa mưa khả năng thoát nước kém, thường
tạo thành các dòng chảy mạnh gây sói lở nền, mặt đường, là nguyên nhân gây hư hỏng
đường đồng thời, tình trạng phương tiện vận tải hàng hóa chở quá tải đi trên các tuyến
đường huyện và xã cũng đã làm cho mặt đường nhanh chóng xuống cấp.
Theo số liệu báo cáo và khảo sát thực tế hệ thống đường bộ trên địa bàn huyện
có 680km, bao gồm:
- Tuyến QL đi qua địa bàn huyện với tổng chiều dài 40km.
- Tuyến đường tỉnh với tổng chiều dài 15,5km.
- 4 tuyến đường huyện với tổng chiều dài 113,9km.
- 33 tuyến đường xã và liên xã với tổng chiều dài 510,6km.
Về chất lượng mặt đường:
- Có 81,05km đường BTN và láng nhựa chiếm 12,03.%.
- Đường cấp phối sỏi đỏ và đất có 592,64km chiếm đến 87,97%.
So sánh các chỉ tiêu về mật độ và tỷ lệ nhựa hóa đường bộ hiện nay của huyện
Châu Thành với các huyện khác của tỉnh, thể hiện như sau:
- Về mật độ đường so với diện tích tự nhiên cuả huyện Châu Thành đạt 1,726km
/km2.


Huyện Hớn Quản

1,23

6.40

19,7%

3

Huyện Phước Long

0,70

6,90

21,1%

4

Huyện Lộc Ninh

0,63

0,48

25,4%

5

nội thị và lộ giới 55m ngoài nội thị, đường 4 làn xe, bề rộng mặt đường B = 25m, diện
tích sử dụng 98,1ha. Quốc lộ 14: Đoạn qua địa bàn huyện dài 22km, chạy từ ngã tư thị
trấn Châu Thành đến ranh xã Minh Lập lộ giới 75m, mặt đường BTN bề rộng B =12m,
hiện đang nâng cấp mở rộng, diện tích sử dụng 160,29 ha.
Đường tỉnh: Có 2 trục chính với tổng chiều dài 15,5km, diện tích sử dụng
36,4ha bao gồm:
ĐT – 751: Đoạn qua địa bàn huyện dài 7km, đầu tuyến tại ngã tư Châu Thành
đi qua Thị trấn Châu Thành, xã Minh Long lộ giới 42m đường 2 làn xe, mặt đường
BTN bề rộng B = 7 - 10m, diện tích sử dụng 19,44ha.
ĐT 756: Đoạn qua địa bàn huyện dài 8,5km, đầu tuyến tại QL 14 (xã Minh Lập)
đi Lộc Hiệp lộ giới 42m đường 2 làn xe, mặt đường BTN bề rộng B = 6m, diện tích sử
dụng 16,96ha.
b. Hiện trạng hệ thống đường huyện
Có 14 tuyến, tổng chiều dài 113,9km, diện tích sử dụng đất 139,4ha.

ĐH1

139.4
5

16

3.2

2

x

Rất xấu


(m)

Mặt


số

hiện trạng (km) Chiều dài

Bảng tổng hợp hệ thống đường huyện


Tân Quan - Nha Bích (Đoạn 2)

12.2

16

19.52

Tân Quan - Phước An (Đoạn 1)

2.5

12

3

Tân Quan - Phước An (Đoạn 2)


8.7

5

16

13.92

8.7

ĐH5

Ấp Mỹ Hưng

6.2

5

11

6.82

6.2

x

ĐH6

Đường Hòa Vinh



7.2

5

12

8.64

7.2

x

ĐH9

Ranh Minh Hưng - Châu Thành

4.6

5

10

4.6

4.6

x

ĐH10 Đường đi Ấp 6


Trung tâm hành chính đi Tân
Quan

1.9

5

12

2.28

1.9

x

ĐH13

Nha Bích-Minh Thành-Minh
Hưng

6.5

5

12

7.8

6.5


5

3.5
2

x
x
x

x

c. Hiện trạng hệ thống đường xã và thị trấn
Thị trấn Châu Thành: Thị trấn Châu Thành là trung tâm kinh tế hành chính
của huyện với diện tích tự nhiên 3.196,8ha. Hệ thống đường xã có 13 tuyến lớn nhỏ
đan xen tổng chiều dài 25,37km, lộ giới 5 - 22.5m, diện tích bao chiếm 53,34ha có
chiều rộng từ 3 - 10m, chất lượng đường trung bình, mặt đường BTN cấp IV và nhiều
tuyến đường cấp phối sỏi đỏ, mật độ đường so với diện tích tự nhiên đạt 1,157km/km 2.
Xã Nha Bích: Nha Bích là một xã trung du miền núi nằm trên QL 14 về phía
đông thị trấn Châu Thành và cách trung tâm huyện khoảng 17km gồm có 6 ấp với diện
tích tự nhiên 4.976,7ha. Hệ thống đường xã có 19 tuyến có tổng chiều dài 42,52km, lộ
giới 6m, diện tích bao chiếm 38,76ha có chiều rộng từ 6m, nền rộng 7m, chất lượng
đường trung bình chủ yếu là đường cấp phối, vào mùa mưa nhiều đoạn đường lầy lội,
trơn trượt, mật độ đường so với diện tích tự nhiên đạt 0,89km/km2.
Xã Minh Thành: Minh Thành là một xã trung du miền núi nằm trên QL 14 về
phía đông Thị trấn Châu Thành, cách trung tâm huyện khoảng 10km gồm có 5 ấp với
diện tích tự nhiên 5.157,7ha. Hệ thống đường xã có 32 tuyến lớn nhỏ đan xen có tổng
chiều dài 35,41km, lộ giới 6 - 12m, diện tích bao chiếm 82ha có chiều rộng từ 6 - 7m,
nền rộng 6- 7m, chất lượng đường trung bình chủ yếu là đường cấp phối sỏi đỏ, vào
mùa mưa nhiều đoạn đường lầy lội, trơn trượt, mật độ đường so với diện tích tự nhiên

yếu là đường cấp phối sỏi đỏ, mật độ đường so với diện tích tự nhiên đạt 0,85km/km 2.
Xã Thành Tâm: Thành Tâm nằm về phía tây huyện Châu Thành, cách trung
tâm thị trấn huyện Châu Thành khoảng 3km gồm có 6 ấp với diện tích tự nhiên
4053.92ha. Hệ thống đường xã có 13 tuyến lớn nhỏ đan xen tổng chiều dài 37,30km,
lộ giới 5.5 - 7m, diện tích bao chiếm 52,22ha có chiều rộng từ 5.5 – 7m, chất lượng
đường trung bình chủ yếu là đường cấp phối sỏi đỏ, mật độ đường so với diện tích tự
nhiên đạt 0,933km/km2.
2.2.1.2. Thực trạng vốn đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nông thôn
huyện Châu Thành
Sản phẩm của ngành xây dựng là sản phẩm cố định, trải dài theo tuyến, quá
trình thi công di động và mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào thời tiết trong quá
trình xây dựng công trình. Đây là một bất lợi cho ngành xây dựng giao thông dẫn
đến tăng và phát sinh chi phí trong quá trình xây dựng.
Việc thu hồi vốn xây dựng một cách trực tiếp là hết sức khó khăn và thời
gian thu hồi vốn kéo dài, vì vậy khả năng thu hồi vốn trực tiếp từ ngành xây dựng
giao thông không có tính thuyết phục với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thông thường việc thu hồi vốn đầu tư vào ngành giao thông vận tải được thực hiện
gián tiếp thông qua thu thuế và các khoản thu khác do Nhà nước đảm nhận. Vì vậy
trong thời gian qua nguồn vốn cho xây dựng giao thông chủ yếu là ngân sách Nhà
nước gánh vác.
Tuy lượng vốn đầu tư vào giao thông thì lớn, thời gian thu hồi vốn lâu và ít
lợi nhuận song đó là việc làm hết sức cấp bách và rất cần thiết trong giai đoạn hiện


nay để thực hiện công việc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước với quan niệm
của Đảng là đầu tư xây dựng giao thông không chỉ thu lợi nhuận mà còn mang
tính phục vụ văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng. Hơn thế nữa nó còn có vai trò
quan trọng là một ngành có nhiều liên quan đến nhiều ngành khác, hỗ trợ thúc đẩy
nền kinh tế quốc dân.
Nguồn vốn sự nghiệp giao thông của huyện Châu Thành qua các năm gần đây


2

2012

1.700

1.700

0

3.400

3

2013

1.600

2.400

0

4.000

4

2014

2.000

thiếu nghiêm trọng gây nên những nguy hại không lường trước được cho người dân
khi lưu thông. Những suối này không đảm bảo thoát nước trong mùa mưa nên gây
nguy hại cho đường khu vực bên suối. Người dân không ra vào khu vực sống được do
những bất cập này để lại. Đồng thời hai bên đường cỏ, cây dại tranh nhau mọc rất
nhiều che chắn tầm nhìn và bề mặt một số con đường hiện hữu.
Bên cạnh đó việc huy động vốn để xây dựng GTNT ở một số địa phương vùng
sâu, nơi có mật độ dân cư thấp, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, nguồn vốn huy
động đạt rất thấp ,không đủ để đầu tư xây dựng công trình. Nguồn lực đầu tư là


nguyên nhân chính làm cản trở quá trình phát triển GTNT của huyện. Một số đoạn khó
đi lại khi đường xá hư hại một số người dân tự phát sửa chữa nhưng do cơ sở hạ tầng
thoát nước không đảm bảo nên vào mùa mưa lại hư hại.
Trong phương hướng quy hoạch sẽ tận dụng nâng cấp, mở rộng và kéo dài các
tuyến hiện có, làm mới một số đường có tính chiến lược và quan trọng phục vụ cho
phát triển kinh tế - Xã hội. Nắn thẳng những đoạn, đường có bán kính cong nhỏ, phát
triển thêm một số đường liên xã. Đặc biệt chú ý đến hệ thống thoát nước giao thông.
Việc nâng cấp xây dựng các cống thoát nước là cần thiết, đóng vai trò quan trọng, đi
đôi với việc sửa chữa và làm mới các con đường.
Nhìn chung hiện trạng giao thông huyện Châu Thành còn tồn tại những khó
khăn bất cập cần có những tầm nhìn quy hoạch giao thông chuyên sâu và thực sự hữu
ích, góp phần giải quyết đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, thỏa mãn nhu cầu vận
tải và góp phần đưa Châu Thành đi lên vươn tới một tầm cao mới.
2.2.1.4. Thực trạng về nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách của huyện
a. Luồng tuyến vận tải
Do huyện không có bến xe khách, nên khách có nhu cầu đi lại liên tỉnh sẽ đến
bến xe khách tỉnh Bến Tre tại thị xã Đồng Xoài hoặc đón xe ngay trên QL14, QL 13.
Cũng như các huyện khác của tỉnh Bến Tre, lượng khách có nhu cầu đi lại với nhiều
tỉnh trong cả nước, trong đó luồng khách đi về Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
Đông Nam Bộ chiếm tỷ lệ rất lớn. Hiện huyện không có tuyến vận tải hành khách cố

Thống kê phương tiện vận tải hàng hóa do huyện Châu Thành quản lý
Tăng bình
Chỉ tiêu
Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008
quân
Số phương tiện
Chiếc
126
127
268
313
346
28,7%
Tấn phương tiện
Tấn
632
637
704
835
865
8,2%
Trọng tải bình
Tấn/xe
5,0
5,0
2,6
2,7
2,5
-16,0%
quân

93,96

94,20

95,00

106,00

108,09

3,6%

8,47

8,50

9,00

10,00

10,17.

4,7%

90,1

90,2

94,7


huyện xem xét và hỗ trợ 70% kinh phí dự án từ nguồn quỹ của UBND huyện, 30%
kinh phí dự án do nhân dân hưởng lợi từ dự án đóng góp để xây dựng.
2.2.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý của cấp huyện về hệ thống đường giao thông
nông thôn
Đối với UBND thành phố: Dựa vào ngân sách thành phố phân bổ cho đường
GTNT phối hợp cân đối với các địa phương, huyện theo quy hoạch phát triển chung
của thành phố và các huyện. Hoàn thiện việc xây dựng các cơ chế chính sách, quy
trình quy phạm, các tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật GTNT.
Tổ chức kỹ thuật, quản lý an toàn giao thông vận tải trên địa bàn nông thôn.
Sở Giao thông công chính tham mưu cho UBND thành phố về xây dựng quy hoạch,
quy hoạch mạng lưới giao thông gắn với việc phát triển kinh tế của huyện. Hướng
dẫn quản lý thống nhất chất lượng kỹ thuật các công trình giao thông. Hướng dẫn
việc khai thác hợp lý các nguồn vật liệu tại chỗ nhằm giảm chi phí, nâng cao chất
lượng công trình, xây dựng cơ chế, biện pháp tạo vốn sử dụng hợp lý nguồn vốn hỗ
trợ cho GTNT. Xác định các thứ tự ưu tiên, theo dõi giúp đỡ các địa phương chỉ
đạo phong trào GTNT và tổng kết rút kinh nghiệm.
Đối với cấp huyện: Xuất phát từ việc phân cấp đường GTNT là đường từ
huyện tới đường liên xã, liên thôn nên sự lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và điều hành ở
các huyện, xác định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển đường GTNT
trong phạm vi huyện quyết định. Các biện pháp cụ thể về huy động các nguồn lực
cho giao thông, chỉ đạo các chiến dịch làm đường GTNT trên địa bàn. Kêu gọi vốn
đầu tư cho các công trình, quyết định về các vấn đề đất đai, giải toả có liên quan đến
việc phát triển đường giao GTNT, phân cấp việc sửa chữa đường cho các xã, thị trấn.
2.2.2.3. Trách nhiệm quản lý của cấp huyện về hệ thống đường giao thông nông
thôn
Quy định về tổ chức quản lý đường bộ nói chung và hệ thống đường GTNT
nói riêng đã được nêu trong Nghị định 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2010
của Chính phủ ban hành Cụ thể:
- Đối với các tuyến đường tỉnh, đường đô thị: Việc phân loại và điều chỉnh
hệ thống đường tỉnh, đường đô thị do Chủ tịch UBND thành phố quyết định sau khi

kinh tế huyện. UBND xã cần bố trí cán bộ chuyên trách về giao thông có trình độ
và nghiệp vụ về giao thông.
Đối với đường thôn xóm và đường sản xuất, đường nội đồng: các tuyến
đường này do UBND xã chịu trách nhiệm quản lý, song UBND xã có thể phân công
cho trưởng thôn, xóm. Trưởng thôn, xóm có trách nhiệm lập kế hoạch về sửa chữa,
nâng cấp hàng năm đối với những tuyến đường trên địa bàn thôn, xóm và thông
qua hội nghị với toàn dân, sau đó trình UBND xã quyết định.
Huyện quản lý đối với các tuyến đường trong phạm vi toàn huyện. Giao nhiệm
vụ cho cơ quan chuyên môn của huyện trực tiếp quản lý các đường tỉnh, đường đô thị
được tỉnh giao và quản lý hệ thống đường huyện.
Bảng phân cấp trách nhiệm quản lý đường giao thông nông thôn của Huyện
Cơ quan quản lý
Loại đường
Cơ quan quản lý cấp trung
ương
+ Bộ Giao thông vận tải
Quản lý hệ thống đường QL trên cả nước
+ Cục đường bộ Việt Nam
Quản lý các đoạn tuyến QL do Bộ giao thông vận
tải giao
+ UBND tỉnh, thành phố
Quản lý một số đoạn tuyến QL do Cục đường bộ
trình Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải
Cơ quan quản lý cấp địa
phương
+ UBND tỉnh, thành phố
Quản lý các hệ thống đường bộ địa phương, tổ
chức quản lý các hệ thống đường tỉnh, đường đô thị
+ Sở giao thông vận tải
Quản lý các đoạn tuyến QL, đường đô thị, đường

- Mặt đường: Bằng phẳng, không có ổ gà, không đọng nước khi mưa.
- Công trình: Không bị tắc, sói lở và phải được tiêu thoát nước thường xuyên.
Tiền vật liệu cho duy tu, bảo dưỡng được cân đối giữa ngân sách huyện và
theo kế hoạch phân cấp ngân sách của thành phố và huyện. Các tuyến đường mới được
nâng cấp sau thời gian nghiệm thu đưa vào sử dụng từ 12, 18 và 24 tháng tuỳ theo
từng loại đường.
Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của nhà nước hỗ trợ cho dân làm nền đường,
trong đó tỉnh hỗ trợ nhựa đường, công tác lu lèn, hỗ trợ xe lu, gầm cầu, thuốc nổ.
Tạo vốn cho GTNT là nội dung quan trọng quyết định kết quả cuối cùng
của công tác phát triển GTNT của huyện trong những năm qua. Việc giải quyết vốn
dựa trên quan điểm: phát triển GTNT là sự nghiệp chính đáng của toàn dân, dân làm
là chính, nhà nước hỗ trợ và tổ chức thực hiện theo phương châm dân biết, dân làm,
dân sử dụng và dân quản lý. Quan điểm này phải được thể hiện thông qua sự giải
quyết các vấn đề từ nguồn vốn để tổ chức thực hiện đến việc bảo dưỡng, quản lý
công trình.
2.3. Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống đường giao thông
nông thôn huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre
2.3.1. Mặt đạt được
Xây dựng đường GTNT là một trong những tiêu chí nằm trong chương trình
nông thôn mới nên được UBND huyện tập trung đầu tư xây dựng nhằm thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội của địa phương.
Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng và hoàn thiện xong các đề án quy hoạch
GTNT trên địa bàn, quy hoạch GTNT huyện Châu Thành – tỉnh Bến Tre đến năm
2020 và tầm nhìn sau 2020. Đây là cơ sở để chính quyền các cấp triển khai đề án đồng
bộ trên địa bàn huyện và xã, huy động được tối đa các nguồn lực cần thiết cho sự phát


triển của hệ thống giao thông cũng như phát triển chung của toàn huyện; đồng thời
triển khai giúp người dân nắm bắt hướng đi, thu hút sự quan tâm của toàn dân địa
phương vào công cuộc phát triển chung.

dục nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng để họ từ chỗ thụ động trông chờ vào
nhà nước trở nên tự giác tham gia tích cực vào các chương trình làm đường GTNT.
Mức bồi thường và những quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng bởi dự án đường GTNT
chưa được đảm bảo làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Các quy hoạch chung về hệ thống đường GTNT chưa được công bố rộng rải để
người dân được biết và tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến.
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn còn thấp mà các khoản phí
đóng góp thì lại cao nhưng chất lượng các con đường thì lại chưa cao, thời gian
thi công thì kéo dài và theo thời gian nó xuống cấp nhanh chóng. Các nguồn lực
cho việc bảo dưỡng định kỳ tại địa phương lại rất ít. Nên các con đường bị xuống
cấp gây bụi bặm và đá văng trúng người khi ô tô, xe máy chạy qua.
Đặc thù của các công tình GTNT là phân tán và trải rộng trên các địa bàn.
Việc thi công xây dựng còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu địa


hình và nguồn vốn của địa phương. Bên cạnh đó chưa có chính sách huy động sự
tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người dân xây dựng các
công trình giao thông mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính. Cơ
chế chúng ta chưa thực sự rộng mở, vẫn rắp theo khuôn khổ và không có tính năng
động để điều chỉnh cho sát với thực tế yêu cầu.
Việc quản lý hiện nay vẫn mang nặng tính chất áp đặt từ trên xuống, không
bám sát thực tế và do vậy còn thiếu các qui định rõ ràng, không phù hợp với thực tế
đang phát triển. Việc xây dựng quy định chỉ mang tính tương đối, không phù hợp với
điều kiện, thực tế của nhiều vùng hoặc đôi khi chỉ mang tính chất cho có. Bên cạnh đó
vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt lĩnh vực xây dựng, quản lý và
khai thác các công trình GTNT.
Cán bộ quản lý còn thiếu về số lượng, năng lực cán bộ quản lý, điều hành còn hạn
chế làm ảnh hưởng đến quá trình xây dựng, quản lý hệ thống đường GTNT một cách
khoa học và hợp lý.
Công tác kiểm tra giám sát quá trình duy tu bảo dưỡng sửa chữa chưa thường

2.4.1.1. Định hướng việc đầu tư xây dựng công trình giao thông nông thôn trên
địa bàn Huyện


Ban quản lý dự án xã, thôn được sử dụng kinh phí thu từ các công trình giao
thông công cộng, từ nguồn phân bổ của huyện, tiền hỗ trợ từ các tổ chức, đơn vị tài
trợ (nếu có)… để duy tu và bảo dưỡng các công trình GTNT, đảm bảo cho công
trình ngày càng bền vững và phát huy hiệu quả.
GTNT do nhà nước và nhân dân cùng đầu tư xây dựng, được nhà nước
xem xét cấp kinh phí hỗ trợ trong các trường hợp: Cải tạo, nâng cấp, mở rộng
qui mô hoặc khôi phục công trình bị thiên tai phá hoại, theo dự án đầu tư xây
dựng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn để xây dựng công trình GTNT
theo qui định của Nhà nước và pháp luật. Người dân được tham gia vào các giai đoạn
của dự án như: giai đoạn chuẩn bị dự án, lập kế hoạch, thiết kế xây dựng, giám sát thi
công và quản lý sử dụng. Trước khi khởi công xây dựng công trình phải hình thành
tổ chức quản lý sử dụng và duy tu bảo dưỡng công trình để người dân có thể làm
chủ hoặc tham gia làm chủ đầu tư xây dựng.
2.4.1.2. Định hướng về công tác quản lý công trình giao thông nông thôn Huyện
Nâng cao năng lực cán bộ quản lý, điều hành. Tiếp tục rà soát điều chỉnh qui
hoạch, kế hoạch đầu tư theo định hướng phát triển hợp lý, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ
trong thời kỳ đổi mới. Tăng cường kiểm tra giám sát quá trình duy tu bảo dưỡng sửa
chữa thường xuyên đảm bảo quản lý khai thác bền vững, có hiệu quả và bảo vệ hành
lang giao thông nói chung và GTNT nói riêng, giữ gìn môi trường sinh thái xung quanh
các con đường giao thông của huyện và của các xã.
- Chủ tịch UBND các xã, thị trấn củng cố, kiện toàn ban quản lý công trình
giao thông, tổ chức kiểm tra, quản lý và khai thác hợp lý, sử dụng các công trình
giao thông đúng mục đích đảm bảo cho giao thông thông suốt và không bị ách tắc.
- Kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm công trình,
các hành vi lấn chiếm đường GTNT để sử dụng vào mục đích cá nhân.

xuất để thoát nghèo cần rất nhiều đến sự hỗ trợ của các ngành kinh tế khác và của
nhà nước về cơ chế và chính sách. Nên việc huy động hàng chục tỷ đồng để phát
triển củng cố mạng lưới GTNT là cả một vấn đề cần phải tính toán và cân nhắc.
Song nếu không lấy giao thông là khâu đột phá thì khó, và thậm chí không tạo được
một nền sản xuất hàng hoá cho nông nghiệp - nông thôn. Nên các cấp đảng bộ và
chính quyền địa phương đã xác định là phải tranh thủ huy động vốn từ các nguồn
đầu tư cho các dự án theo chương trình mục tiêu quốc gia, dự án hỗ trợ của nước
ngoài, nguồn vốn huy động trong dân, nguồn vốn ngân hàng nông nghiệp, ngân
hàng phục vụ người nghèo để xây dựng cơ sở hạ tầng và mở rộng sản xuất hàng
hoá kinh doanh dịch vụ.
Vốn lại là một trong những yếu tố quan trọng đến quyết định mức đầu tư của
một công trình. Hiện nay nguồn vốn để đầu tư cho phát triển GTNT còn rất hạn
hẹp, do đó chính phủ và Bộ giao thông vận tải cùng với các cấp địa phương đã có
nhièu chính sách thu hút vốn cho GTNT. Do nguồn ngân sách của nhà nước và
của địa phương còn hạn hẹp vì vậy mà chính sách thu hút vốn đầu tư ở đây chủ yếu
thực hiện theo phương châm là “Nhà nước và nhân dan cùng làm”. Nhà nước hỗ trợ
vật tư, kỹ thuật, nhân dân đóng góp ngày công lao động. Hình thức đóng góp của
nhân dân có thể bằng công lao động quy định hàng năm hoặc tiền tuỳ từng vùng,
từng khu vực cụ thể theo khả năng của từng địa phương.
Trong việc huy động vốn để xây dựng hệ thống đường trục xã, trục thôn,
xóm, đường nội đồng phải giữ nguyên tắc huy động vốn ở thôn nào, xã nào thì xây
dựng ở ngay thôn, xã đó. Thời gian, mức huy động phải căn cứ vào mùa vụ và sản
lượng, giá cả nông sản đến định xuất thu hàng năm. Các cấp cũng cần bàn với dân
về quy mô xây dựng, công khai các hạng mục đầu tư để xác định nguồn vốn cần có.
Nguồn vốn trong dân là một nguồn vốn lớn còn chưa được khai thác hết
tiềm năng của nó. Do vậy, khi huy động được nguồn vốn này cần phải có những
chính sách phù hợp như là cho họ thấy được lợi ích của việc đầu tư vào công trình
GTNT. Khuyến khích tư nhân bỏ vốn xây dựng rồi để cho họ thu lợi từ công trình
đó dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Hình thức này chỉ áp dụng đối
với việc xây dựng công trình cầu. Cho họ quyền thu lệ phí từ việc xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status