BỘ GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-----------------------------
Nguyễn Thị Định
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CỦA HỌ BỌ CÁNH CỨNG
ĂN LÁ (CHRYSOMELIDAE) VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA
CHÚNG VỚI THỰC VẬT TRONG ĐIỀU KIỆN MÔI
TRƯỜNG CỦA VƯỜN QUỐC GIA NÚI CHÚA, TỈNH
NINH THUẬN, VIỆT NAM BẰNG PHƯƠNG PHÁP
SINH HỌC PHÂN TỬ
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 9 42 01 20
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2018
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS. TS. Nguyễn Văn Sinh
Người hướng dẫn khoa học 2: TS. Jesús Gómez-Zurita
chúng có liên kết chặt chẽ với thực vật trong toàn bộ đời sống và việc
thu bắt mẫu của chúng tương đối đơn giản. Do đó, Chrysomelidae là
nhóm côn trùng phù hợp làm đối tượng cho việc nghiên cứu sự phụ
thuộc của các quần xã sinh vật trong hệ sinh thái.
Vườn Quốc Gia (VQG) Núi Chúa bao gồm diện tích rừng bán khô
hạn độc đáo nhất Việt Nam và quần xã thực vật ở đây có sự thay đổi rõ
rệt theo độ cao từ rừng khô trên đất thấp, qua rừng chuyển tiếp (rừng
bán ẩm) tới rừng ẩm thường xanh trên núi cao. Vì vậy, VQG Núi Chúa
là địa điểm lý tưởng để thực hiện nghiên cứu của luận án.
Vì tất cả các lý do trên tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng của họ
bọ cánh cứng ăn lá (Chrysomelidae) và mối quan hệ của chúng với
thực vật trong điều kiện môi trường của vườn quốc gia Núi Chúa,
tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam bằng phương pháp sinh học phân tử”
2
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Đánh giá sự đa dạng loài và sự biến động theo không gian của họ
Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa.
Xác định thức ăn của các loài họ Chrysomelidae và đánh giá sự
thay đổi thức ăn của chúng theo không gian.
3. Các nội dung nghiên cứu chính của luận án
Sử dụng bộ ba mã vạch ADN để đánh giá sự đa dạng loài của họ
Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa.
Sử dụng bộ ba mã vạch ADN để xác định thức ăn của các loài họ
Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa.
Xác định sự biến đổi thành phần của họ Chrysomelidae và thức ăn
của chúng theo không gian ở VQG Núi Chúa.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
của tất cả các sinh vật theo không gian và thời gian, sử dụng phân loại
(số lượng các loài), đặc điểm chức năng và sự tương tác giữa các loài
có ảnh hưởng đến động lực và chức năng của chúng. Thậm chí quan
trọng hơn sẽ là đánh giá sự dịch chuyển của đa dạng sinh học trong
không gian hoặc thời gian. Hiện nay, chúng ta không thể làm được
điều này với độ chính xác cao bởi vì các số liệu còn thiếu.
Khủng hoảng đa dạng sinh học: là sự mất đi của gen, các loài và các
hệ sinh thái. Vos et al. (2015) ước tính rằng sự mất đi trong tự nhiên
có thể gần với tỷ lệ 0,1 loài trên một triệu loài trên một năm và do đó
tỷ lệ tuyệt chủng hiện nay là cao hơn 1.000 lần so với tỷ lệ tự nhiên và
trong tương lai có thể sẽ cao hơn 10.000 lần. Levin (2002) cho thấy
rằng trung bình cứ 20 phút có một loài trên trái đất bị mất đi.
Trở ngại phân loại trong nghiên cứu đa dạng sinh học: Việc thiếu tên
khoa học và những khó khăn trong việc xác định loài trong nghiên cứu
sinh thái là "trở ngại phân loại" (New, 1984). Điều này đang có ảnh
hưởng rất lớn cho khoa học bảo tồn. Nhiều loài sẽ bị tuyệt chủng
trước khi chúng được mô tả và chúng ta vẫn tiếp tục không biết chính
xác có bao nhiêu loài trên hành tinh của chúng ta. Các "trở ngại phân
4
loại" đã dẫn tới sự hiểu biết không đầy đủ về phần lớn đa dạng sinh
học toàn cầu.
1.1.1.2. Sử dụng công cụ sinh học phân tử để tăng tốc độ đánh giá đa
dạng sinh học
Sử dụng công cụ sinh học phân tử để đánh giá đa dạng loài: Mã vạch
ADN dựa trên gen ty thể (thường xuyên nhất là gen COI) đã nổi lên
như một công cụ hữu ích để xác định các loài động vật. Mã vạch ADN
được sử dụng như một công cụ hiệu quả cho cả việc xác định các loài
động vật ăn thực vật.
1.1.2. Sự không đồng nhất của môi trường và ảnh hưởng của nó
đến đa dạng sinh học
Haller et al. (2013) cho rằng, có hai loại mô hình không gian trên
hành tinh của chúng ta: mô hình siêu quần thể, trong đó các cá thể
sinh sống ở hai hoặc nhiều mảnh rời rạc khác nhau và mô hình không
gian liên tục của dải biến đổi môi trường. Theo tác giả, sự không đồng
nhất về môi trường xuất phát từ hai yếu tố: đầu tiên là sự thay đổi của
môi trường, tiếp đến là sự phân mảnh liên tục trong không gian, được
mô tả bởi biên độ và quy mô không gian của nó. Cùng với nhau, các
thành phần này tạo lên một loạt các cảnh quan với mô hình không
đồng nhất. Họ kết luận rằng tính không đồng nhất không gian, bằng
cách tạo ra các chế độ lựa chọn khác nhau đã thúc đẩy sự đa dạng, là
một động lực quan trọng của sự hình thành loài .
1.1.3. Chrysomelidae là đối tượng thích hợp để áp dụng công cụ
sinh học phân tử trong đánh giá đa dạng sinh học và nghiên cứu sự
phụ thuộc lẫn nhau trong hệ sinh thái.
Bọ cánh cứng ăn thực vật nói chung và bọ cánh cứng ăn lá nói
riêng (Chrysomelidae), chúng đại diện cho một số lượng loài lớn, dễ
thấy và rất đa dạng của hoạt động ăn thực vật trong hệ sinh thái nhiệt
6
đới và ôn đới. Thêm vào đó, chúng cho thấy một sự đa dạng đáng chú
ý
của
việc ăn
rất hạn chế. Đặng Thị Đáp (1983) đã có kết quả ban đầu về ảnh
hưởng của cảnh quan tới sự phân bố của phân họ Cassidinae, tuy
7
nhiên chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của dải biến đổi môi trường
tới quần xã Chrysomelidae. Năm 2005, Tạ Huy Thịnh và cộng sự đã
có nghiên cứu bước đầu về côn trùng ở VQG Núi Chúa, tuy nhiên
chưa có nghiên cứu riêng về quần xã Chrysomelidae ở khu vực này.
1.1.3.2. Tình hình nghiên cứu Chrysomelidae trên thế giới
Chúng được nghiên cứu khá đầy đủ về thực vật chủ (Jolivet
và Hawkeswood 1995), về sinh học: nhận dạng, phát sinh loài, di
truyền, sinh thái ….(Jolivet, và Cox , 1996). Các nhà khoa học ngày
nay đã sử dụng sinh học phân tử để nghiên cứu sâu hơn về phát sinh
loài của Chrysomelidae (Montelongo và Gómez-Zurita, 2014; …)
cũng như đánh giá đa dạng của Chrysomelidae (Thormann et al.,
2016) và tìm kiếm thực vật chủ của chúng (De la Cadena et al. 2016;
Kishimoto-Yamada et al. 2013; Jurado-Rivera et al.2009…). Có nhiều
nghiên cứu về sự dịch chuyển loài theo dải độ cao, hầu hết các nghiên
cứu được thực hiện trong khu vực Nam và Trung Mỹ. Các nghiên cứu
này tập trung vào nhóm chân khớp giàu loài, cụ thể côn trùng
(24,5%), hầu hết cánh cứng và bướm, chỉ có một vài nghiên cứu về
Chrysomelidae theo dải độ cao. Hầu hết các nghiên cứu đều cho kết
quả rằng đa dạng loài thay đổi với độ cao.
1.2.
Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu
vực nghiên cứu
sinh thái khô) theo độ cao tăng dần lên đến 449m (tương ứng với vùng
sinh thái chuyển tiếp và một phần của vùng sinh thái ẩm) và con
đường Đá Hang cách vịnh Vĩnh Hy 8-10 km về phía tây nam chỉ được
thu mẫu một lần trong đợt khảo sát đầu tiên (5/2012) (Hình 2.2) Các
mẫu vật họ Chrysomelidae được thu thập quanh những điểm cố định
dọc theo các tuyến đường rừng trong mỗi lần thu mẫu, tại mỗi điểm
thu mẫu việc thu thập mẫu vật được thực hiện trong 10 phút bằng cách
đập từ thảm cỏ, cây bụi và các cành cây thấp tới cao đến khi nào
không thể với được thì dừng (khoảng 2,5 m). Bọ cánh cứng thu được
được lưu trữ ngay lập tức trong các lọ có chứa ethanol tuyệt đối (96%)
10
cho bảo quản ADN, các lọ được đánh nhãn thời gian vị trí địa lý và
tuyến đường thu mẫu.
Hình 2.2: Sơ đồ thu mẫu Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa (a) Vị trí
VQG Núi Chúa trong bản đồ Việt Nam (b) Phác họa hình dáng VQG
Núi Chúa và các tuyến thu mẫu (c) Các vị trí thu mẫu trong các tuyến
thu mẫu ở VQG Núi Chúa, với vùng màu xám là vùng chuyển tiếp được
giả định
2.1.2. Phân chia sinh cảnh trong khu vực thu mẫu ở VQG Núi
Chúa
Sự phân chia sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu dựa trên sự các
kết quả nghiên cứu về VQG Núi Chúa trước đây kết hợp với việc phân
tích một số tham số của quần xã Chrysomelidae như chỉ số Sorensen –
Dice (chỉ số tương đồng) bằng việc sử dụng phương pháp cửa sổ trượt
(sliding window) (Barton et al. 2013).
phân cực và phân định loài được tối ưu hóa trên độ dài nhánh, bPTP
chạy trực tuyến trên trang web "bPTP server" ()
và chúng tôi đã sử dụng cùng một cây đầu vào gốc RAxML giống như
trong sử dụng mô hình GMYC.
Xác định loài dựa vào đặc điểm hình thái. Đầu tiên, các mẫu vật được
quan sát dưới kính lúp soi nổi và phân chia sơ bộ đến mức độ phân họ
sau đó các mẫu vật trong các phân họ được nhận dạng tới bậc phân
loại thấp nhất theo khóa định loại của Kimoto (2000, 1989, 1982,
1981) Kết quả được so sánh với kết quả từ phương pháp xác định loài
12
dựa trên dữ liệu ADN. Nếu các dạng hình thái có sự đa màu sắc sẽ
tiến hành kiểm tra đặc điểm của cơ quan sinh dục.
2.4. Phương pháp xác định thức ăn của các loài Chrysomelidae ở
VQG Núi Chúa: Sử dụng chương trình BAGpipe.
2.5.
Đánh giá độ giàu loài tiềm năng của Chrysomelidae ở
VQG Núi Chúa: Các tính toán được thực hiện trong phần mềm
EstimateS 9.1.
2.6.
Nhóm các phương pháp xác định mối liên quan của
Chrysomelidae với điều kiện môi trường
2.6.1. Phân tích biến động của quần xã Chrysomelidae theo không
gian: Sử dụng phần mềm EstimateS 9.1 (Colwell 2013) và gói
141 dạng loài hình thái (như trong bản chính luận án). Phần lớn mẫu
vật được xác định đến mức độ giống, một số mẫu vật chỉ xác định
được ở mức độ phân họ, chỉ có số ít mẫu vật được xác định đến loài.
Trong các mẫu vật được xác định đến mức độ loài, có 13 loài được mô
tả là mới cho khoa học, bao gồm 11 loài trong giống Monolepta
Chevrolat: M. decreta, M. demimuta, M. densopunctata, M. dubia, M.
fluctuans, M. fuscicorne, M. interruptomarginata, M. ochracea, M.
quotidiana, M. semicostata, M. thomaswagneri và 2 loài trong giống
Paleosepharia Laboissiere: P. frontis và P. nuichua. Phần lớn các
mẫu vật thuộc trong phân họ Eumolpinae, Galerucinae và Alticinae.
Bẩy phân họ còn lại thu được rất ít mẫu vật trong đó hai phân họ
Cryptocephaninae và Hispinae không thu được mẫu vật trong một số
tuyến điều tra. Đa dạng loài trên một tuyến điều tra dao động từ 22
đến 58 loài và địa bàn thấp hơn (Ao Hồ và Đá Đỏ) có số lượng loài
14
thấp. Đa dạng loài ở trên và dưới 300 m dao động từ 85 đến 95 loài
(bảng 3.1).
Bảng 3.1: Đa dạng loài Chrysomelidae trong các tuyến điều tra và
theo độ cao ở VQG Núi Chúa (Ghi chú: Loài dựa trên đặc điểm hình
thái ở trên dấu “/” và loài dựa theo kết quả bPTP ở dưới dấu “/”)
Phân họ
Số
lượng
mẫu
vật
6/6
8/8
6/7
6/6
17/18
12/12
Bruchinae
7
3/3
-
-
2/2
2/2
-
-
2/2
1/1
-
-
-
-
1/1
1/1
1/1
Clytrinae
12
7/7
1/1
-
3/3
2/2
Cryptocephalinae
14
9/9
4/4
1/1
1/1
1/1
5/5
1/1
7/7
4/4
Eumolpinae
221
41/51
19/20
9/9
28/29
28/29
Hispinae
38
9/9
1/1
3/3
8/8
2/2
2/2
1/1
8/8
3/3
được kết hợp trong một đơn vị (bảng 3.3). Số lượng loài chỉ thu được
một cá thể chiếm 49,7% (loài theo phương pháp bPTP)
3.2.3. Tiềm năng đa dạng của Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa
Kết quả đánh giá tiềm năng đa dạng loài cho thấy tuyến Ao Hồ,
Suối Trục, Đá Đỏ, Mái Nhà và Núi Ông độ giàu loài được đánh giá
nhiều hơn từ 2 lần (loại trừ Jack 1) đến 4,3 lần (đánh giá Chao 2 cho
15
tuyến Mái Nhà) (bảng 3.4). Khi phân chia dữ liệu theo độ cao, kết quả
đánh giá sự đa dạng cho thấy trong cả hai sinh cảnh mẫu vật thu được
bằng khoảng 50-75% đa dạng được dự đoán của chúng. Xét trên tổng
thể cả khu vực thu mẫu, số lượng loài thu được của chúng tôi vượt
trên 60% sự đa dạng loài dự đoán có thể đạt được trong khu vực
nghiên cứu.
Bảng 3.2: Kết quả phân định loài dựa trên trình tự ADN gen cox1
của Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa theo các thuật toán và mô
hình khác nhau
Cây
Sự
tuyến
tính
Ngưỡng
Số loài
Số bó
164 [158-166]
173 [170-174]
155
63 [62-65]
62 [61-62]
65 [64-66]
76 [73-76]
67 [65-67]
94 [91-96]
66 [66-68]
67 [66-67]
-
500.063
505.887
522.670
527.336
2480.504
2491.387
2463.070
2466.495
-
122
119
124
39
124
39
Số loài
kết hợp
lại so
với loài
hình
thái
0
0
0
81
0
80
0
0
0
Bảng 3. 3: Sự không đồng thuận giữa loài hình thái và loài bPTP
của Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa
Loài bPTP
023-024
025-026
028-029
030-031
037-039
041-042
046-047
054-055
068-069
095-096
12
2
7
12
4
3
3
3
13
Cùng tuyến
thu mẫu
Cùng sinh
cảnh
Khoảng cách
ADN và sai số
có
không
có
có
có
Có
không
có
có
có
không
0.071±0.008
0.109±0.011
0.067±0.005
Đặc điểm hình thái khác
nhau
Màu sắc
không
không
Kích thước và lớp lông
không
không
không
không
không
không
không
Màu sắc ở trên đầu
Bộ phận sinh dục con đực
không
16
Bảng 3.4: Dự đoán đa dạng loài Chryromelidae đạt được trong
các tuyến thu mẫu, trong các sinh cảnh và trong toàn bộ khu vực
nghiên cứu ở VQG Núi Chúa (đánh giá là loài bPTP)
Tuyến
thu mẫu
52
58a
94
74
133a
155
151a
48,7±10,09
51,2±11,72
99,9±16,98
120,4±17,61
102,1±15,64
101,8±14,37
147,4±15,18
121,5±13,99
197,3±16,31
226,3±17,08
225,3±18,43
72
76,48
329,83
170,85
146,52
150,84
201,59
220,64
260,18
301,09
112,53
116,47
167,15
126,16
227,80
268,13
271,91
Một số mẫu vật và loài không thế được chia tới vị trí thu mẫu cụ thể. b Tính toán với đánh giá
cổ điển (Colwell 2013). c Tổng số mẫu không bao gồm mẫu vật thu được từ tuyến Đá Hang. d
Tổng số mẫu vật phân chia bới tuyến thu mẫu. e Tổng số mẫu vật phân chia bới vị trí thu mẫu.
ICE, Chao2, Jack1, Jack2: Người đánh giá độ giàu loài tiềm năng.
a
3.2.4. Đánh giá độ giàu loài của Chrysomelidae ở VQG Núi Chúa
Kết quả đánh giá tiềm năng đa dạng loài từ 225-300 loài trong khu
vực được thăm dò, chúng tôi nhận thấy rằng đa dạng alpha địa phương
ở Núi Chúa là rất cao. Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi phải cần có
một cái nhìn thận trọng tới sự đa dạng loài ở Núi Chúa, vì chúng tôi
chỉ thu mẫu ở các tầng thực vật thấp và chưa có sự xâm nhập sâu vào
trong rừng ẩm.
3.3. Thực vật chủ của Chrysomelidae
Chúng tôi sử dụng ADN của 146 mẫu vật trong phân họ
Galerucinae để khuếch đại gen PsbA-TrnH, việc khuếch đại chỉ thành
công ở 84 mẫu vật (32 loài). Trong đó, có 12 mẫu vật thu được 2 trình
tự gen PsbA-TrnH, do đó tổng số có 96 trình tự gen PsbA-TrnH thu
được, và được sắp xếp trong 35 họ thực vật. Số thực vật chủ của các
17
các quần xã từ sinh cảnh khô hơn của mỗi tuyến đường thu mẫu (ở độ
cao dưới 300 m) tạo thành cụm với nhau. Ở phần thấp hơn của các
tuyến đường thu mẫu cho thấy sự giống nhau đồng nhất hơn (sự khác
nhau xấp xỉ 28-34%), sự khác nhau chủ yếu là do các loài thay thế
(turnover), ngoại trừ trường hợp của tuyến Mái Nhà, tuyến đường thứ
2 có độ giàu loài cao nhất măc dù ở độ cao thấp hơn (364 m), nơi cho
thấy đóng góp của thành phần các loài tạo ổ cao trong tổng sự không
giống nhau. Một mô hình tương tự đạt được khi phân tích quần xã bọ
cánh cứng ăn lá trong phần ẩm hơn và cao hơn của mỗi tuyến đường
được phân tích, phản ánh sự giống nhau cao của tuyến đường Núi Ông
và Suối Trục, đóng góp chính tới toàn bộ sự giống nhau cao nhất của
hai tuyến đường. Quần xã trong vùng dịch chuyển cho thấy sự giống
nhau toàn thể cao nhất so với sinh cảnh ẩm. Tuy nhiên, các loài thay
thế trong vùng chuyển tiếp và rừng khô lại có sự giống nhau hơn (giá
trị khác nhau của chúng trong hai vùng này là 48%, sự khác nhau giữa
chúng với rừng ẩm là 61%, trong khi các loài tạo ổ trong vùng chuyển
tiếp và rừng ẩm là hầu như giống nhau và khác nhau tương đối so với
rừng khô (tương ứng 14%).
Như vậy quần xã Chrysomelidae phân bố không đồng đều trong
không gian. Chúng tôi chỉ sử dụng 129 loài Chrysomelidae đại diện
cho sự lấy mẫu xuyên tâm từ vịnh Vĩnh Hy (loại trừ mẫu vật thu được
từ tuyến Đá Hang). Tỷ lệ của các loài cánh cứng ăn lá giống nhau giữa
các tuyến thu mẫu và loại rừng được thu mẫu ở Núi Chúa là thấp
(Bảng 3.5 ), do đó tỷ lệ không giống nhau cao, điển hình trên 0,6 và sự
chiếm ưu thế của thành phần các loài thay thế (tỷ lệ 0,68-0,77) xuyên
qua phạm vi không gian nhỏ của khu vực nghiên cứu ở VQG Núi
Chúa . Đa dạng beta có đóng góp lớn tới đa dạng của toàn quần xã.
Đá
Hang
0.074
0.032
0.202
0.195
0.257
Mái
Nhà
0.197
0.171
0.112
0.378
0.366
Núi
Ông
0.183
0.136
0.108
0.233
0.460
Suối
Trục
0.192
0.135
0.147
0.224
theo sự thay đổi của độ cao
3.4.2.1. Sự sắp xếp phù hợp với quy chuẩn
Phân tích sự phù hợp với quy tắc tiêu chuẩn sử dụng bốn biến số
(Sinh cảnh, loài, tuyến thu mẫu và thời gian) và thực vật chủ ở mức độ
họ, đã đạt được mô hình có ý nghĩa cao (FCCA=1,452, Chi-sq=2,095,
d.f.=4; P=0,001) cho ra sự tác động của 4 biến số này tới tương tác
giữa cánh cứng ăn lá và thực vật chủ là thấp (6,93%) nó được đóng
góp khá đồng nhất qua 4 trục hợp với quy tắc tiêu chuẩn và các biến
số tác động độc lập với nhau bởi vì giá trị VIF (Yếu tố làm tăng sự
khác nhau trong phân tích) của chúng tôi là thấp (1,06-1,58) . Khi
kiểm tra sự phù hợp độc lập của từng biến số cho thấy cả 4 biến số
cùng ảnh hưởng tới tương tác giữa cánh cứng ăn lá và thực vật chủ
(p=0,01-0,0450,7). Sự khác nhau của mạng lưới
trong hai sinh cảnh là cao βWN = 0, 92, trong đó 83,7% là do bởi các
loài chia sẻ (βOS=0,77) và 16,3% là do bởi các loài thay thế (βST=0,15)
21
và sự khác nhau của hỗn hợp loài cấu thành lên mạng lưới là cao (βS =
0,57).
Kết quả của chúng tôi cho thấy ảnh hưởng quyết định của sinh
cảnh và các tuyến thu mẫu đến liên kết giữa Galerucinae và thực vật
chủ. Đa dạng beta cao của quần xã cánh cứng ăn lá và quần xã thực
xây dựng bởi 20 loài Galerucinae và 18 họ thực vật chủ. Số mạng lưới
nhỏ cấu tạo nên toàn bộ mạng lưới ở sinh cảnh ẩm lại nhiều hơn sinh
cảnh khô (tương ứng 7 và 6), và tính đối xứng của mạng lưới ở sinh
cảnh khô <0 còn ở sinh cảnh ẩm lại >0. Điều này cho thấy các loài
Galerucinae trong sinh cảnh ẩm thiên về sự chuyên biệt thức ăn hơn,
do trong sinh cảnh khô với điều kiện thức ăn nghèo nàn các loài
Galerucinae muốn tồn tại được phải ăn đa dạng các loại thực vật khác
nhau, còn trong sinh cảnh ẩm với điều kiện thức ăn dồi dào các thực
vật chủ cung cấp đủ lượng thức ăn cho các loài cánh cứng. Đây là sự
thích nghi của Galerucinae trong các điều kiện sống khác nhau.
3.4.3. Hoạt động bảo tồn ở VQG Núi Chúa cần chú ý đến sự mất
môi trường sống của quần xã Chrysomelidae
Kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi với sự liên quan rõ ràng cho
bảo tồn là đa dạng Chrysomelidae ở Núi Chúa rất cao, và đặc biệt sự
thay thế loài cao trong các tuyến thu mẫu ở độ cao khác nhau và sự
khác nhau của quần xã Chrysomelidae có liên quan đến quần xã thực
vật. Do vậy, những biện pháp bảo vệ ở VQG Núi Chúa cần tính đến
sự không đồng nhất cao của tính đa dạng này. Đặc biệt với tình trạng
chặt phá rừng ở vùng đất thấp ở Núi Chúa là tăng nhanh trong những
năm gần đây sẽ làm mất đi môi trường sống của quần xã
Chrysomelidae gây ra sự sụt giảm đa dạng của Chrysomelidae ở VQG
Núi Chúa.
23
KẾT LUẬN
1. Đa dạng loài Chrysomelidae thu được ở VQG Núi Chúa
Chúng tôi khám phá 155 loài Chrysomelidae theo phương pháp
xác định loài dựa vào dữ liệu ADN (gen cox1) tương ứng với 141