Tài nguyên sinh vật của vườn quốc gia núi chúa tỉnh Ninh Thuận
Gửi bởi: agriviet
Ngày 2-10-2007 lúc 12 giờ 9 phút
(Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 4/2004, 528-529)
Vườn quốc gia Núi Chúa được thành lập theo Quyết định số
134/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, diện tích tự nhiên là
29.865 ha, gồm diện tích trên đất liền 22.513 ha, phần biển 7.352 ha, với một quần thể núi
nằm ven biển gọi chung là Núi Chúa. Địa hình chia cắt mạnh bởi khe suối lớn, có độ dốc
lớn thường từ 25
0
–40
0
, thấp dần về cả 4 phía. Khí hậu nơi đây khô hạn nhất tỉnh Ninh
Thuận và cả nước. Lượng mưa trung bình năm dưới 800mm, mùa mưa đến chậm và rất
ngắn thường chỉ có 3 tháng mưa, bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 11. Mùa khô
hạn kéo dài tới tháng 9, trong đó có 4 tháng hạn và 2 tháng kiệt.
Tài nguyên sinh vật của Vườn quốc gia Núi Chúa phong phú và đa dạng, mang nhiều yếu
tố đặc hữu, quí hiếm có giá trị.
1. Tài nguyên thực vật rừng:
Vườn Quốc gia Núi Chúa nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ phần gần cuối của dãy Trường
Sơn chuyển tiếp tới vùng Đông Nam Bộ nên hệ động và thực vật ở đây có liên hệ chặt chẽ với hệ
động thực vật của dãy Trường Sơn Nam, của miền Đông Nam Bộ. Thành phần thực vật bậc cao có
mạch gồm 1.265 loài thực vật, nằm trong 596 chi, 147 họ, 85 bộ thuộc 7 ngành thực vật khác nhau
(bảng 1).
Ngành thực vật Loài Chi Họ Bộ
Ngành Thạch tùng (Lycopodiophyta) 5 2 2 2
Ngành Loã tùng (Psilotophyta) 1 1 1 1
Ngành dương xỉ (Polypodiophyta) 23 16 10 6
Ngành Thông (Pinophyta) 7 4 2 1
Ngành Tuế (Cyadophyta) 4 1 1 1
Có 80 loài thuộc 48 loài thực vật khác nhau mang địa danh phân bố ở Phan Rang như: Thị Phan
Rang (Diospyros phanrangensis), dẻ Phan Rang (Lithocarpus phanrangensis), da Phan Rang
(Ficus phanrangensis), chòi mòi Phan Rang (Antidesma phanrangensis).
Thực vật của Vườn quốc gia Núi Chúa ngoài khả năng sinh khối về gỗ, có 390 loài có thể chế biến
làm dược liệu. Trên 100 loài thuộc nhóm cây làm cảnh và nhiều loài có thể làm thức ăn.
2. Tài nguyên động vật rừng.
Kết quả điều tra động vật rừng bước đầu đã ghi nhận được 306 loài thực vật có xương sống thuộc
89 họ, 29 bộ của 4 lớp động vật, trong đó: Lớp Thú (Manmalia) có 72 loài thuộc 23 họ và 8 bộ, lớp
Chim (Aves) có 181loài thuộc 49 họ và 17 bộ, Bò sát (Reptilia) có 36 loài thuộc 13 họ và 3 bộ,
Lưỡng thể (Amphibia) có 17 loài thuộc 4 họ và 1 bộ.
Các loài động vật phân bố trên hai sinh cảnh: Sinh cảnh phân bố động vật trên rừng khô hạn và
trảng cỏ, sinh cảnh phân bố động vật trên vùng đồi và cồn cát ven biển. Trong 306 loài động vật
hoang dã có xương sống của vườn Quốc gia Núi Chúa có các loài động vật được xếp là loài động
vật quý hiếm theo các tiêu chuẩn phân loại sau:(bảng 2)
Lớp Tổng số loài Loài quý hiếm
Xếp theo các tiêu chí phân loại quý hiếm
SĐỏ IUCN
(2000)
SĐỏ Việt Nam
(2000)
Nghị định
18/HĐBT
Thú 72 22 13 4 14
Chim 181 9 5 2 5
Bò sát, ếch
nhái
53 16 6 15 1
Các loài quý hiếm tiêu biểu như: Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes), gấu ngựa (Ursus thibtanus),
gấu chó (U. manayanus), rái cá lông mượt (L. perspicillata), cầy mực (Arctictis binturong), mèo gấm
(+) Về rùa biển: Vùng biển xã Vĩnh Hải là vùng có nhiều Rùa biển thứ hai ở Việt Nam (sau vườn
Quốc gia côn đảo), với 3 loài: Rùa xanh (Chelonia mydas), đú olive ridley (Lepidochelys olivines),
đồi mồi (Eretmochelys imbricata).
Những thành phần sinh vật biển trên vùng ven bờ của vườn Quốc gia Núi chúa tương đối đa dạng
về thành phần và phong phú về loài. Điều này cho thấy tầm quan trọng của các bãi triều ở khu vực
này, sự đa dạng về các hệ sinh thái với các kiểu hình thức cấu trúc phức tạp và tính liên kết giữa
chúng là môi trường thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của nhiều loài sinh vật.
4. Kết luận. Tài nguyên sinh vật của vườn Quốc gia Núi Chúa không chỉ phong phú và đa dạng về
thành phần loài mà còn mang nhiều yếu tố đặc hữu, quý hiếm có giá trị, cho nghiên cứu khoa học,
bảo tồn nguồn gien và các nguồn lợi kinh tế.
Các cơ quan nghiên cứu khoa học, các trường đại học và các tổ chức quốc tế khi đến làm việc tại
khu rừng khô Núi Chúa cũng nhất trí nhận định giá trị của khu rừng và những triển vọng trong công
tác nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và phát triển du lịch sinh thái.
Ngoài giá trị của hệ sinh thái trên đất liền, khu vực rừng khô hạn Núi Chúa còn chứa đựng những
tiềm năng to lớn trong việc bảo tồn rùa biển, san hô, cỏ biển và các tài nguyên sinh vật biển khác.
Khu vực này được coi là một trong những địa điểm bảo tồn rùa biển của Việt Nam.
Trong thời gian tới để làm tốt công tác bảo vệ sự đa dạng của tài nguyên sinh vật rừng, biển của
vườn Quốc gia Núi Chúa cần thực hiện tích cực một số giải pháp: (+) Đối với những loài động,
thực vật, sinh vật biển đặc trưng, quý hiếm, những loài bị đe doạ tuyệt chủng, những loài có số
lượng cá thể ít cần đi sâu nghiên cứu và xây dựng các biện pháp kỹ thuật bảo tồn cho loài, nhóm
loài. (+) Cần đầu tư thích đáng và cân đối giữa bảo tồn rừng và biển như trang bị tàu cao tốc, các
phương tiện phục vụ cho bảo vệ và nghiên cứu biển, cần kết hợp giữa Vườn và lực lượng bộ đội
biên phòng, chi cục bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ để thống nhất kiểm soát các phương tiện
đánh bắt hải sản trong vùng và phạm vi vườn Quốc gia. (+) Xây dựng phương án phòng chống
cháy rừng và trang bị đầy đủ các phương tiện chữa cháy để không xảy ra tình trạng cháy rừng.
Nguyễn Đức Ngắn