Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận bình tân, thành phố hồ chí minh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC THÚY

CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC THÚY

CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. HỒ TRỌNG NGŨ


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANTT

: An ninh trật tự

CAND

: Công an nhân dân

CQBVPL

: Cơ quan bảo vệ pháp luật

CQCA

: Cơ quan Công an

CQĐT

: Cơ quan điều tra

HĐND

: Hội đồng nhân dân

PNTHTP

: Phòng ngừa tình hình tội phạm


bàn quận Bình Tân từ năm 2013 đến năm 2017 tính theo dân số
Bảng 2.6. Cơ cấu về mức độ của tình hình tội phạm của 10 phường trên địa
bàn quận Bình Tân từ năm 2013 đến năm 2017 tính theo diện tích
Bảng 2.7. Cơ cấu về mức độ của tình hình tội phạm của 10 phường trên địa
bàn bàn quận Bình Tân được xác định trên cơ sở kết hợp yếu tố dân cư và diện tích
từ năm 2013 – 2017
Bảng 2.8.Tình hình phạm pháp hình sự trên địa bàn quận Bình Tân từ năm
2013 – 2017
Bảng 2.9.Cơ cấu theo giới tính và độ tuổi của các bị cáo trên địa bàn quận
Bình tân từ năm 2013-2017
Bảng 2.10. Cơ cấu theo nghề nghiệp của các bị cáo trên địa bàn quận Bình
Tân từ năm 2013-2017
Bảng 2.11.Cơ cấu theo tiền án, tiền sự của các bị cáo trên địa bàn quận Bình
Tân từ năm 2013 – 2017
Bảng 2.12.Cơ cấu theo nơi cư trú của các bị cáo trên địa bàn quận Bình Tân
từ năm 2013-2017
Bảng 2.13.Cơ cấu theo trình độ học vấn của bị cáo địa bàn quận Bình Tân
năm 2013-2017
Biểu đồ 2.1. Tỉ lệ % các loại phạm pháp hình sự trên địa bàn quận Bình Tân
từ năm 2013-2017


Biểu đồ 2.2.Tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân và TP. Hồ Chí
Minh từ năm 2013 – 2017


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình Tân là quận vùng ven của Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập trên
cơ sở Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ,

gắng trong việc xây dựng cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm, góp phần vào hiệu
quả trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm. Tuy nhiên, mức độ nhận
thức về tầm quan trọng của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm của các cơ quan
chức năng trên địa bàn quận vẫn còn những hạn chế nhất định, các chủ thể trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình còn nhiều thiếu sót, bất
cập. Mặc dù, hệ thống pháp luật đang ngày càng hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý quan
trọng cho các hoạt động phòng ngừa của các chủ thể. Song cơ chế phối hợp hoạt
động phòng ngừa tình hình tội phạm giữa các chủ thể vẫn chưa được cụ thể hoá, thể
hiện rõ nhất là ở sự phân công phân cấp chưa rõ ràng và thiếu cơ chế phối hợp nhịp
nhàng.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế phòng ngừa
tình hình tội phạm, nhằm sắp xếp về mặt tổ chức các chủ thể, với sự phân công
trách nhiệm và minh bạch các mối quan hệ phối kết hợp giữa các chủ thể, sẽ làm cơ
sở cho việc hoàn thiện pháp luật. Từ đó, cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm được
thực hiện một cách có hiệu lực, hiệu quả cao, hoạt động phòng ngừa được bảo đảm
thực hiện đúng pháp luật.
Tình hình đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải nghiên cứu làm rõ hơn nữa về
cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp hữu hiệu
nhằm ngăn chặn và hạn chế tối đa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân,
thành phố Hồ Chí Minh. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó tác giả lựa chọn đề tài:
“Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố
Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình khoa học có liên quan nghiên
cứu về phòng ngừa tình hình tội phạm. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như
sau:
2


- Giáo trình “Tội phạm học” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Công


Có thể thấy, thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan
ít nhiều đến phòng ngừa tình hình tội phạm. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu
trên đây chỉ mới nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội phạm hay đấu tranh phòng,
chống tội phạm trên phạm vi cả nước hoặc ở một số địa phương nào đó. Cũng có đề
tài nghiên cứu đến phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn các Quận của Thành
phố Hồ Chí Minh nhưng chủ yếu nghiên cứu về các giải pháp phòng ngừa. Cho đến
nay chưa có công trình nào nghiên cứu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa
bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây cũng chính là hướng tiếp cận
nghiên cứu của đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm, thực trạng của cơ chế phòng
ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ
đó đề xuất những giải giải nhằm tăng cường cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm
trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõnhững vấn đề lý luận về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm.
- Thực trạng cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình
Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Làm rõ những hạn chế, nguyên nhân của các mặt hạn chế trong cơ chế
phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Làm rõ những vấn đề đặt ra trong tăng cường cơ chế phòng ngừa tình hình
tội phạm từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy về hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và cơ chế phòng
ngừa tình hình tội phạm nói riêng.
5


7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần
nội dung của luận văn được cấu trúc thành 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm.
Chương 2: Thực trạng cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn
quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3:Tăng cường cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm từ thực tiễn
quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
1.1. Khái niệm tình hình tội phạm


Trong Tội phạm học nói chung và Tội phạm học Việt Nam nói riêng, khái

niệm THTP là khái niệm cơ bản đầu tiên của Tội phạm học. Đó là một thuật ngữ
khoa học, nhưng đồng thời cũng là một thuật ngữ thường được dùng trong ngôn ngữ
thông dụng, ngôn ngữ đời thường .


nào, hiện nay tồn tại ra sao và cả sự phát triển, tồn tại của chúng trong tương lai”
[44, tr.54].
- Tình hình tội phạm là một hiện tượng mang tính chất giai cấp. Tính giai cấp


của tình hình tội phạm thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, ở nguyên nhân phát sinh, ở
nội dung của các tội phạm cụ thể - các thực thể, tế bào cấu thành nên hiện tượng đó
và cả số phận của nó trong tương lai”[44, tr. 54].

8




Tội phạm ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp đối kháng, với sự ra đời

của nhà nước. Mỗi giai cấp thống trị khác nhau đều quy định những nhóm hành vi
phạm tội khác nhau và các biện pháp trừng trị các hành vi đó cũng khác nhau, nhằm
bảo vệ lợi ích của giai cấp và sự thống trị của mình, và do tình hình tội phạm là tổng
thể biện chứng các tội phạm đã thực hiện trong thực tiễn, cho nên vẫn giữ nguyên
tính giai cấp. Bên cạnh đó, tính giai cấp của tình hình tội phạm còn thể hiện ở việc
nó xâm hại đến những quan hệ xã hội mà giai cấp thống trị bảo vệ, ở các nguyên
nhân gốc rễ phát sinh mà theo V.I.Lênin đó là chế độ người bóc lột người, sự bần
cùng hóa, nạn thất nghiệp.



1.2. Khái niệm cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm
Khái niệm cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong phòng ngừa tình hình tội phạm. Nhưng hiện nay, khái niệm này chưa có

quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào
các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần
những nhóm nguyên nhân này…”
Theo GS. TS Võ Khánh Vinh thì:“Việc phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ
thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước –
xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô
hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ
tình hình tội phạm”.
Thống nhất về mặt nhận thức và thực tiễn công tác phòng ngừa tình hình tội
phạm có thể hiểu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm là phương thức tổ chức và
phương thức vận hành của hệ thống các cơ quan, tổ chức và công dân có mối liên
hệ mật thiết với nhau, hoạt động theo những nguyên tắc, qui định của pháp luật và
những phương tiện pháp lý khác; để thực hiện các biện pháp hướng đến mục đích
khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nhằm ngăn chặn,
hạn chế và từng bước loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm
Nghiên cứu Cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm có những ý nghĩa cơ bản
sau đây:
- Việc nghiên cứu cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm làcơ sở để xây
dựng, tổ chức và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm một cách
khoa học và hiệu quả. Chỉ trên cơ sở phân tích làm rõ cơ chế phòng ngừa tình hình
tội phạm mới xây dựng được hệ thống các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm
một cách toàn diện.

10


- Nghiên cứu làm rõ cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm là cơ sở cho việc
hoạch định các chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm một cách phù hợp.Nâng
cao hiệu quả phòng ngừa nhằm hạn chế và loại trừ dần dần những nguyên nhân và



nhiều quy định của Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Để đảm bảo thắng lợi
cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm cần nâng cao trách nhiệm, vai trò chủ
động, sáng tạo của các ngành, các cấp, các tổ chức và mỗi cá nhân trong xã hội vào
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hiến pháp Việt Nam năm 1992, sửa đổi
năm 2001 trước đây đã quy định: “Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành
Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm
Hiến pháp và pháp luật” (Điều 12). Đến Hiến pháp năm 2013 các quy định này
tương ứng được tiếp tục ghi nhận các điều 2, 8, 46… Điều này thể hiện quan điểm
phòng ngừa tội phạm không phải là nhiệm vụ của riêng của bất cứ cơ quan mà phải
có sự tham gia của các lực lượng xã hội (tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi
côngdân). Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đã xác định vai trò, vị trí, cơ
chế phối hợp giữa các chủ thể trong phòng ngừa tội phạm và đạt được những thành
tựu nhất định trong xây dựng cơ chế này.
Nhận thức về sự cần thiết và hiệu quả từ cơ chế phối hợp phòng ngừa tình
hình tội phạm được khẳng định trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của
nước ta. Tính chất phối hợp trong quan hệ đó cũng được quy định là trách nhiệm
thuộc về cả phía cơ quan Nhà nước lẫn các tổ chức xã hội và công dân. Khoản 1,
Điều 4, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 xác định trách nhiệm đấu
tranh phòng ngừa và chống tội phạm như sau: “Các cơ quan Công an, Kiểm sát,
Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành
đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan
khác của Nhà nước, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm,
giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng”. Sự hướng dẫn, giúp đỡ của cơ
quan chức năng Nhà nước đối với tổ chức xã hội và nhân dân chính là trách nhiệm
phối hợp từ phía các cơ quan Nhà nước. Cơ quan Nhà nước phải bảo đảm cho
quyền tham gia, phối hợp của các tổ chức và công dân trong phòng ngừa tội phạm.
“Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức và công dân

trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ
nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.
+ Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và
chống tộiphạm.
Vai trò tham gia của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 khẳng định lại một cách cụ
thể hơn: “Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi
phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1, Điều
13


25, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).
Sự phân định rõ vai trò, vị trí giữa các chủ thể là cơ sở của cơ chế phối hợp.
Xuất phát từ vị trí trong hệ thống bộ máy Nhà nước và các cơ quan, tổ chức xã hội
và nhân dân trách nhiệm phối hợp của các chủ thể mới được xác định cụ thể. Sự
phối hợp hoạt động của các chủ thể phải tuân thủ sự điều hành của Nhà nước.
Phạm vi, khuôn khổ, phương thức hoạt động của các chủ thể được phân định
rõ ràng nhằm bảo đảm cho sự phối hợp nhịp nhàng. Trên cơ sở xác định vai trò, vị
trí của Nhà nước, các tổ chức xã hội, công dân trong cơ chế phòng ngừa tình hình
tội phạm, Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự nước ta quy định rõ về phạm vi
hoạt động của các chủ thể này. Các quy định ở trên xác định cơ quan chuyên trách
của Nhà nước “thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình”trong phòng ngừa
tình hình tội phạm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Việc phân định rõ
phạm vi hoạt động là hết sức cần thiết để tránh sự chồng chéo, xâm lấn thẩm quyền
của nhau giữa các chủ thể của cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm.
1.4. Các chủ thể phòng ngừa tội phạm trong cơ chế phòng ngừa tình
hình tội phạm
Theo Từ điển Triết học thì: Chủ thể là con người (cá nhân hay tổ chức…)
tiến hành các hoạt động nhận thức cải tạo thế giới và có thể chia thành nhiều loại

đoạn, định hướng hoàn thiện cơ cấu tổ chức các cơ quan đấu tranh phòng chống tội
phạm, thông qua các nghị quyết của Đảng. Đảng chỉ đạo tiến hành một cách rộng
rãi những biện pháp kinh tế, tư tưởng, văn hóa và cải tiến, hoàn thiện hoạt động của
các cơ quan bảo vệ pháp luật tiến hành đấu tranh trực tiếp với tội phạm.
Để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm cần phải có sự phối hợp thường xuyên
hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong đấu tranh
phòng chống tội phạm. Nhiệm vụ của việc phối hợp này là đề ra những phương
hướng cơ bản trong hoạt động của các cơ quan tổ chức để đấu tranh, phòng chống
tội phạm có hiệu quả. Sự phối hợp này chỉ có thể thực hiện tốt dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Bên cạnh đó vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong hoạt động phòng ngừa
tình hình tội phạm còn thể hiện ở sự tiên phong, giữ vai trò nòng cốt trong hoạt
động phòng ngừa tình hình tội phạm của các đảng viên.
1.4.2. Chủ thể thực hiện hoạt động phòng ngừa trong cơ chế phòng ngừa
tình hình tội phạm
Quá trình phòng ngừa tội phạm bao gồm từ khâu ban hành các quy định của
pháp luật đến khâu triển khai thực hiện các quy định của pháp luật. Do đó, chủ thể
phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm các chủ thể ban hành pháp luật phòng ngừa
15


tình hình tội phạm và chủ thể triển khai thi hành các quy định pháp luật phòng ngừa
tình hình tội phạm.
Chủ thể ban hành pháp luật về phòng ngừa tình hình tội phạm
*Quốc hội
Theo Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Quốc hội là cơ quan đại biểu
cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của
Nhà nước. Quốc hội là chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm có vai trò trong việc
ban hành các đạo luật, nghị quyết, văn bản pháp lý về phòng ngừa tình hình tội


- Ban hành các văn bản pháp luật về phòng ngừa tình hình tội phạm ở địa
phương.
- Kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương để phòng
ngừa tiêu cực và phạm tội.
Chủ thể triển khai, thi hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm
Chủ thể triển khai thi hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm
Chính phủ, UBND các cấp, các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan bảo vệ
pháp luật, các tổ chức và các cá nhân, công dân.
*Chính phủ
Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ
quan chấp hành của Quốc hội. Về mặt quản lý Nhà nước trong đấu tranh phòng
chống tội phạm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/
7/1998 “về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”. Chính
phủ quyết định tiến hành những chủ trương và biện pháp chỉ đạo công tác phòng,
chống tội phạm trong tình hình mới, đã đề ra những chủ trương, biện pháp lớn,
đồng thời phân công trách nhiệm cho các ngành, các cấp trong công tác phòng
chống tội phạm. Cụ thể:
- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa,


giáo dục trong phạm vi quốc gia, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
nhân dân, từ đó có tác dụng phòng ngừa tình hình tội phạm.
- Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội, Chính phủ tổ chức


thực hiện các chính sách, biện pháp để củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn
dân, an ninh nhân dân, trật tự an toàn xã hội; tổ chức và thực hiện các biện pháp
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, các vi phạm pháp luật .




tượng có tiền án, tiền sự, những đối tượng có nhân thân xấu, phối hợp với các cơ
quan hữu quan giám sát, giáo dục người chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập
tại cộng đồng .


* Các cơ quan hành chính nhà nước chuyên môn
Bao gồm: các bộ, sở, phòng,... từ trung ương đến địa phương. Các chủ thể
này tùy vào chức năng, nhiệm vụ của mình để tiến hành hoạt động triển khai, thi
hành pháp luật phòng ngừa tình hình tội phạm trong phạm vi toàn quốc hay ở từng
địa phương nhất định. Cụ thể, các cơ quan tư pháp thuộc Bộ tư pháp thực hiện
nhiệm vụ phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua các hoạt động sau:
- Đưa ra sáng kiến lập pháp, tham gia vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật;
- Tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân
dân;
- Nghiên cứu, bổ sung vào lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm;
- Phối hợp cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện các nhiệm vụ phòng
ngừa tội phạm.
* Các cơ quan bảo vệ pháp luật
Bao gồm: Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án. Các cơ quan này có vai
trò rất quan trọng trong công tác phòng ngừa tình hình tội phạm. Vai trò của các cơ
18


quan này được xác định trước hết là ở chức năng và nhiệm vụ của mỗi cơ quan và
sự phối hợp giữa các cơ quan. Các cơ quan bảo vệ pháp luật giữ vai trò nòng cốt
trong cơ chế phòng ngừa tình hình tội phạm.
- Cơ quan Công an



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status