NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CHUNG VỀ CÁC LOẠI HÌNH
DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
Đặt vấn đề: Vốn là gì? Cơ cấu vốn của doanh nghiệp của nước ta như thế
nào?
I.Khái niệm vốn
Bất kì một doanh nghiệp nào muốn bắt đầu tạo lập hoặc duy trì hoạt động sản xuất
kinh doanh đều cần sử dụng vốn. Vốn là điều kiện quyết định sự sống còn của doanh
nghiệp. Vậy vốn là gì? Các doanh nghiệp cần sử dụng bao nhiêu vốn và sử dụng như
thế nào để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình?
Trong doanh nghiệp, vốn đuợc hiểu là các loại hàng tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh cùng với các yếu tố khác nhau (lao động, tài nguyên thiên nhiên)
Trong phạm vi nền kinh tế, vốn được hiểu là hàng hóa dùng để sản xuất ra hàng hóa
khác lớn hơn chính nó về mặt giá trị.
Về phương diện tài chính, vốn được hiểu:
Trong phạm vi doanh nghiệp, vốn là tài sản bỏ ra lúc đầu, thường được biểu hiện
bằng tiền dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
đích lợi nhuận.
Trong phạm vi kinh tế, vốn là lượng tiền tệ đưa vào lưu thông nhằm mục đích sinh
lời.
Vậy “vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản được
đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời”.
Tuy nhiên, tiền không phải là vốn. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một quỹ tiền
tệ đặc biệt. Tiền tệ này phải được đầu tư vào sản xuất kinh doanh và phải nhằm mục
đích sinh lời. Vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện, khi thì là vật tư sản xuất hoặc tài
sản vô hình, khi thì là hình thái tiền tệ nhưng kết thúc vòng tuần hoàn thì luôn là hình
thái tiền.
Vốn luôn vận động không ngừng, chuyển từ hình thái này sang hình thái khác nhưng
điểm cuối cùng của chuỗi hình thái này là tiền nên có thể kết luận vốn là toàn bộ giá
mua nguyên vật liệu, với doanh nghiệp kinh doanh thưong mại thì vốn dùng để mua
hàng để bán… ngoài ra, vốn còn được dùng để trả lương nhân viên, để thanh toán,
giao dịch…
Tuy nhiên, không phải lúc nào vốn trong doanh nghiệp cũng vừa đủ, có khi ít, có khi
nhiều. Có nhiều nguyên nhân gây ra thiếu vốn như hàng tồn kho đọng lại nhiều,
khách hàng chưa thanh toán. Trong các trường hợp đó, cần phải kịp thời huy động
vốn để quá trình hoạt động của doanh nghiệp được trôi chảy, liên tục.
II. Cơ cấu vốn doanh nghiệp
1.
Vốn điều lệ
Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một
thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ công ty. Tài sản góp vốn có thể là tiền
Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở
hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật… Góp vốn được hiểu đơn giản là việc đưa
tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu của công ty. Việc góp vốn điều lệ là sự
cam kết mức trách nhiệm vật chất của các thành viên với khách hàng, đối tác. Đồng
thời, đây là vốn đầu tư cho hoạt động của DN và là cơ sở để phân chia lợi nhuận,
cũng như rủi ro trong kinh doanh đối với các thành viên góp vốn.
Ý nghĩa của vốn điều lệ:
• Là sự cam kết mức trách nhiệm bằng vật chất của các thành viên với khách hàng,
đối tác, cũng như đối với doanh nghiệp;
• Là vốn đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp;
• Là cơ sở để phân chia lợi nhuận cũng như rủi ro trong kinh doanh đối với các
thành viên góp vốn.
Từ góc độ pháp lý:
còn bao gồm các thành phần quan trọng khác như các khoản thặng dư vốn cổ phần
do phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá; các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ; vốn
được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của DN theo quy định của chính sách
3
tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của HĐQT. Các khoản chênh lệch
do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây
dựng cơ bản và các quỹ hình thành từ lợi nhuận sau thuế, cùng với giá trị cổ phiếu
quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu cũng nằm trong phân mục này trong bảng cân
đối kế toán của DN.
Bộ phận chủ yếu trong vốn chủ sở hữu của DN có thể bao gồm: Vốn điều lệ, lợi
nhuận sau thuế chưa phân phối, quỹ dự trữ, gía trị tăng lên của tài sản cố định ...
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm:
• Vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng doanh nghiệp.
Chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp có thể là Nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức
tham gia góp vốn, các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu;
• Các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn hoặc thấp hơn
mệnh giá;
• Các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ (nếu được ghi tăng vốn chủ sở hữu);
• Vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy
định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của Hội
đồng quản trị,. . .
• Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh
trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, và các quỹ hình thành tư lợi nhuận sau
thuế (Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ khác thuộc vốn chủ
sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối, nguồn vốn đầu tư XDCB,. . .);
• Giá trị cổ phiếu quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu.
3.
1.
2.
IV.
Quỹ tín dụng nhân dân (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)
Quỹ tín dụng nhân dân trung ương: 1000 tỷ đồng
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở: 0.1 tỷ đồng
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng (Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006)
Công ty tài chính: 300 tỷ đồng
Công ty cho thuê tài chính: 100 tỷ đồng
Kinh doanh bất động sản: 6 tỷ đồng (Điều 3 NĐ 153/2007/NĐ-CP ngày
15/10/2007)
V.
Dịch vụ đòi nợ: 2 tỷ đồng (Điều 13 NĐ 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007)
VI. Dịch vụ bảo vệ: 2 tỷ đồng (không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ
khác ngoài Dịch vụ bảo vệ) (NĐ 52/2008/NĐ-CP ngày 22/4/2008)
VII. Dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: 5 tỷ đồng (Điều 3 NĐ
126/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007)
VIII. Sản xuất phim: Doanh nghiệp phải có GCN đủ điều kiện kinh doanh do Cục
Điện ảnh cấp trước khi ĐKKD (Điều 11 NĐ 96/2007/NĐ-CP ngày 6/6/2007)
IX.
Kinh doanh cảng hàng không: (Khoản 1 Điều 22 NĐ 83/2007/NĐ-CP ngày
25/5/2007)
1. Kinh doanh tại cảng hàng không quốc tế: 100 tỷ đồng
2. Kinh doanh tại cảng hàng không nội địa: 30 tỷ đồng
X. Cung cấp dịch vụ hàng không mà không phải là doanh nghiệp cảng hàng
không: (Khoản 2 Điều 22 NĐ 83/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007)
1. Kinh doanh tại cảng hàng không quốc tế: 30 tỷ đồng
2. Kinh doanh tại cảng hàng không nội địa: 10 tỷ đồng
XI. Kinh doanh vận chuyển hàng không: (Khoản 1 Điều 8 NĐ 76/2007/NĐ-CP ngày
trị vật tư tài sản và hàng hoá của doanh nghiệp, tồn tại dưới cả hình thái vật
chất cụ thể và không có hình thái vật chất cụ thể.
Từ những phân tích trên có thể hiểu: "Vốn kinh doanh của doanh
nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô
hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời".
Vốn kinh doanh bao gồm vốn của chủ sở hữu và vốn vay.Vốn kinh doanh mới là vốn
thực sự được sử dụng vào ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh:
• • Vốn kinh doanh là một quỹ tiền tệ đặc biệt của doanh nghiệp có trước
• khi diễn ra các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt tới mục tiêu sinh lời và
• vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn tại dưới hình thái tiền vừa tồn
tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình của doanh nghiệp nhưng kết thúc
vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.
• Ở đây cần có sự phân biệt giữa tiền và vốn.
- Trong nền kinh tế hàng hoá
thì vốn là tiền nhưng tiền thì không chắc đã là vốn.
Tiền được gọi là vốn kinh doanh khi thoả mãn những điều kiện:
Tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực
(tức là lượng hoá được về mặt giá trị).
Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất
định, đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh.
Khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục
đích sinh lời.
-Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có thể nhận thấy rõ ràng vai trò
quyết định của vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp. Việc quản lý và sử dụng
Vốn kinh doanh có các đặc trưng cơ bản sau:
• Vốn phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản. Đó có thể là
những tài sản hữu hình (vật tư, máy móc, thiết bị, đất đai,...) hoặc tài sản vô
hình của doanh nghiệp (thương hiệu, bí quyết công nghệ, bằng phát minh
cùng kỳ trong các năm gần đây (quý I/2011 tăng 40,9%, quý I/2010 tăng
37,6% so với cùng kỳ). Số thu thuế giá trị gia tăng trong quý I/2012 (đạt
33.096 tỷ đồng), tăng 6% so với cùng kỳ 2011, là mức thấp nhất trong các
năm gần đây (quý I/2011 tăng 26,2%; quý I/2010 tăng 35,6%). Số thu hải
7
quan quý I/2012 đạt 46.653 tỷ đồng, tương đương hơn 15 nghìn tỷ
đồng/tháng, giảm 2,2% so với cùng kỳ 2011).
Nợ thuế tăng: Đến cuối năm 2011 số nợ thuế phải thu chiếm tỷ trọng
6,95% so với số thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước, tăng 1,76% so với năm
2010. Tính đến hết tháng 2/2012, số thuế nợ tăng 28,5% so với 31/12/2011.
Một số ngành có số nợ thuế giá trị gia tăng tăng cao so với cùng kỳ 2011 như
bất động sản, vận tải, sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nông- lâm nghiệp,
thuỷ sản, công nghiệp khai khoáng, dịch vụ ăn uống khách sạn.
Giải pháp:
Thành lập các quỹ bảo lãnh tín dụng
Tăng cường nghiệp vụ thuê, mua tài chính
Ngân hàng nên có chính sách hỗ trợ vốn thông qua hình thức nới lỏng các quy định vay
vốn....
Cải tiến chính sách đất đai tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các DN thế chấp quyền sử hữu
đất để vay vốn
Tổ chức thành lập quỹ theo kiểu hiệp hội kinh doanh (VITAS, VASEP, LESAFO, Vina
Fruit)
Đa dạng hoá hình thức huy động vốn. Có thê huy động vốn từ các nguồn tín dụng sau:
phát hành trái phiếu; vay vốn và góp vốn của công nhân viên; vay nóng tiền vốn giữa các
doanh nghiệp, tín dụng trả góp...
Tăng cường công tác kế hoạch hoá tài chính để DN chú trọng hơn và có thời gian để lựa