VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN PHỤC
SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại phƣờng 8
quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN PHỤC
SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI CAO TUỔI TẠI CỘNG ĐỒNG
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại phƣờng 8
quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh)
Ngành: Xã hội học
Mã số: 8310301
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BẾ QUỲNH NGA
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .................................................. 22
1.1.Cơ sở lý luận của đề tài ................................................................................... 22
1.2. Cơ sở thực tiễn................................................................................................ 26
_Toc510876387Chƣơng 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ NGƢỜI CAO TUỔI VÀ
LOẠI HÌNH TỔ CHỨC THAM GIA HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG ĐỒNG............ 33
2.1. Đặc điểm chung của người cao tuổi tham gia nghiên cứu ............................. 33
2.2. Các loại hình tổ chức mà người cao tuổi tham gia ......................................... 44
Chƣơng 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA ĐỘNG XÃ
HỘI CỦA NGƢỜI CAO TUỔI ............................................................................. 47
3.1. Sự đánh giá của chính quyền .......................................................................... 48
3.2. Hoạt động của hội người cao tuổi .................................................................. 49
3.3. Những khó khăn của người cao tuổi khi tham gia các hoạt động xã hội ....... 58
3.4. Sự hỗ trợ để người cao tuổi tham gia hoạt động xã hội ................................. 63
3.5. Sự tham gia các hoạt động xã hội của người cao tuổi .................................... 65
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 68
KHUYẾN NGHỊ...................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC VIẾT TẮT
CLB:
Câu lạc bộ
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa cảm nhận của người cao tuổi về hoạt động văn
hóa với các hoạt động xã hội ................................................................................. 57
Bảng 3.7: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như không được
tập huấn với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng
đồng ....................................................................................................................... 59
Bảng 3.8: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như tuổi cao sức
yếu với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng đồng...... 61
Bảng 3.9: Mối liên hệ giữa những khó khăn trong hoạt động như cản trở từ
gia đình với mức độ tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi tại cộng
đồng ....................................................................................................................... 62
Bảng 3.10: Sự hỗ trợ, động viên của người khác cho người cao tuổi khi tham
gia hoạt động xã hội .............................................................................................. 64
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của người khác với mức độ tham gia
hoạt động xã hội của người cao tuổi ..................................................................... 64
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa hoạt động của hội Người cao tuổi về tổ chức
sinh hoạt với mức độ hoạt động xã hội của người cao tuổi................................... 66
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa hoạt động của hội Người cao tuổi về tổ chức
khám sức khỏe với mức độ hoạt động xã hội của người cao tuổi ......................... 66
Bảng 3.14: Mối liên hệ giữa mong muốn với mức độ tham gia hoạt động xã
hội của người cao tuổi ........................................................................................... 67
Bảng 3.15: Cảm nhận của người cao tuổi với hoạt động của hội Người cao
tuổi ......................................................................................................................... 68
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Giới tính của NCT ........................................................................... 39
Biểu đồ 2.2: Nhóm tuổi của NCT......................................................................... 39
Biểu đồ 2.3:Tuổi tham gia hoạt động cộng đồng .................................................. 40
10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số, riêng số người từ 80 tuổi trở
lên là 2 triệu người. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng NCT Việt Nam chiếm
18% và năm 2050 là 26% dân số [1]. Điều này cho thấy Việt Nam đã bước
vào giai đoạn “già hóa dân số” giai đoạn mà nhiều người cho rằng có ảnh
hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.Với nét
đặc thù riêng của nền văn hóa Việt Nam, NCT vẫn chiếm một vị trí một vai
trò vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội. Trong gia đình, họ là điểm
1
tựa vững chắc, trong kinh nghiệm sống quý báu còn với bên ngoài xã hội,
Dựa vào các chương trình hoạt động vì NCT của Liên Hiệp Quốc, nhà nước
ta đã ban hành Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam
giai đoạn 2012 – 2020 nhằm nâng cao vị thế của NCT trong xã hội với những
phong trào thiết thực tạo điều kiện cho NCT có thể tiếp tục đóng góp sức lực
của minh cho cộng đồng theo nguyện vọng và hiện nay NCT đã trở thành lực
lượng tham gia vào hoạt động an sinh xã hộivà còn là nguồn lực quý giá trong
sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân dân tộc, góp phần thúc
đẩy và thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, giữ vững ổn định chính trị xã hội an ninh quốc gia.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đầu tàu kinh tế - xã hội
của cả nước đồng thời cũng là nơi tích cực trong việc huy động sự đoàn kết
của nhân dân để tham gia xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh, phát
triển cộng đồng xã hội hướng tới mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, NCT là một trong những lực lượng nòng cốt ở cơ sở
và trong mỗi gia đình, họ đã nêu gương, kiên trì hướng dẫn, động viên con
cháu chấp hành nghiêm túc pháp luật của Nhà nước, giữ gìn an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy dân chủ ở cơ sở, bảo vệ môi trường sống, đóng
góp để kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh. Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của các cụ phụ lão. Bác
tác giả Yang Yunjeong nhằm đánh giá hoạt động sáng kiến của nhóm người
cao tuổi tự lực tại Hàn quốc nhằm giúp người cao tuổi lão hoá trong cộng
đồng của họ như là những người tham gia tích cực chứ không phải là người
phụ thuộc, góp phần vào sự phát triển của cộng đồng đồng thời nghiên cứu
này cũng nhằm kiểm tra hiệu quả của hoạt động này. Qua nghiên cứu này
cũng hướng đến trở thành dữ liệu cơ sở thực tiễn để góp phần phát triển
ngành lão hóa học và là bài học kinh nghiệm cho các quốc gia trong quá trình
3
già hóa dân số.
Bài viết nghiên cứu “An Ecological Framework for Active Aging in China”
của tác giả Ko Pei Chun nhằm điều tra ảnh hưởng của các yếu tố cộng đồng
đối với việc tham gia vào các hoạt động sản xuất (làm việc, chăm sóc cho các
cháu, hoạt động tình nguyện, giúp đỡ và chăm sóc không chính thức) của
người Trung Quốc lớn tuổi và chỉ ra thay đổi cấu trúc hộ gia đình và sự phát
triển kinh tế nhanh chóng làm nổi bật tầm quan trọng của việc nghiên cứu sự
hội nhập xã hội của người cao tuổi. Phân tích về hiện trạng lão hóa chủ động
đã giải thích mức độ tham gia của người cao tuổi vào các hoạt động sản xuất
trong gia đình và cộng đồng có thể giúp quá trình hội nhập khi họ thiết lập
các vai trò xã hội mới khi bắt đầu nghỉ hưu. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các
nghiên cứu về giải thích các yếu tố lão hóa ở Trung Quốc, đặc biệt là về mối
quan hệ giữa cộng đồng và sự tham gia của hoạt động. Nghiên cứu này dựa
trên một phương pháp tiếp cận sinh thái nhấn mạnh rằng môi trường cộng
đồng tạo cơ hội cho các cá nhân tham gia vào các hoạt động xã hội, nghiên
cứu này lấy các chỉ số từ ba chiều của môi trường cộng đồng - môi trường thể
chế môi trường xã hội-nhân khẩu học và môi trường liên quan đến kinh tế để
kiểm tra xem liệu các yếu tố cộng đồng và mức độ có thể giải thích sự tham
gia của họ trong hoạt động sản xuất của người cao tuổi.Nghiên cứu sẽ giúp
nâng cao các yếu tố kiến thức hình thành cơ chế hỗ trợ và cơ hội khích lệ cho
của các nhà nhân khẩu học, kinh tế học và các chuyên gia về già hoá đã xác
định 9 xu hướng bức thiết về vấn đề già hoá toàn cầu. Đây là một quan điểm
về các thách thức và cơ hội cho thấy rõ ràng tại sao già hoá dân số lại mang
tính quan trọng tất yếu.
Trong bài viết “Chương trình người cao tuổi Hàn quốc và những bài
học kinh nghiệm” đã chỉ ra các kết quả của chính sách đối với NCT ở Hàn
5
Quốc và những mô hình hỗ trợ cuộc sống của NCT “Cung cấp việc làm cho
NCT”, năm 2009 cung cấp được 200.000 việc làm.
- Nhà nước trả lương cho NCT tham gia hướng dẫn, đào tạo nghề.
- Từ năm 2008 chi trả bảo hiểm y tế cho toàn bộ NCT (65 tuổi trở lên).
Cơ cấu: Nhà nước 62%; địa phương 25%; cá nhân 13%.
- Trợ cấp cho mỗi NCT cô đơn 88.000 won/tháng; Một cặp vợ chồng
cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa 120.000 won/tháng.
- NCT được hưởng miễn phí các dịch vụ giao thông, vui chơi giải trí,....
- NCT ốm đau, không tự ăn, không tự phục vụ, không tự nuôi sống
được bản thân, nhà nước chu cấp toàn bộ.
- Từ năm 2010 tiến hành kiểm tra, khám sức khoẻ miễn phí cho tất cả
những người từ 60 tuổi trở lên.
- Chính sách chuẩn bị cho tuổi già: Tất cả những người từ 30 tuổi trở
lên nộp thuế thu nhập để hưởng chính sách khi tuổi già. Nguồn do cơ quan và
cá nhân, mức 01 năm = 01 tháng lương cơ bản.
- Nhiều người từ 50 tuổi trở lên bị cơ quan sử dụng xa thải hoặc cho
nghỉ chế độ, nhà nước sẽ cung cấp các việc làm tạo nguồn thu nhập cơ bản.
- Tổng ngân sách hỗ trợ cho người cao tuổi khoảng 2000 tỷ won/năm.
- Khuyến khích giới trẻ tổ chức các trung tâm cung cấp bữa ăn từ thiện
(tuần/lần) cho NCT.
mô hình giúp đỡ NCT vui chơi, giải trí cũng như công tác chăm sóc NCT
ngày một tốt hơn”[6]
Trong báo cáo “Đánh giá 10 năm thực hiện chương trình hành động
quốc tế Madrid về ngươi cao tuổi” đăng trên tạp chí của của Tổng cục dân số
và kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho biết người cao tuổi tích cực tham gia
8
hoạt động xã hội và quá trình phát triển, có khoảng 86% NCT tham gia các tổ
chức xã hội như Hội NCT Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam…số
đông người cao tuổi có những ý kiến đóng góp quan trọng góp phần xây dựng
Đảng, chính quyền các cấp. Nhiều người cao tuổi cũng tích cực tham gia các
hoạt động văn hoá, xã hội, phát triển cộng đồng.
- Về lao động, việc làm và nguồn thu nhập: Theo kết quả điều tra quốc
gia về NCT Việt Nam năm 2011, có 39% NCT vẫn đang làm việc, phần lớn
lao động tự làm các nghề nông nghiệp. Những NCT không tham gia lao động,
ngoài lý do đang hưởng hưu trí hoặc các nguồn trợ cấp khác (khoảng 30%),
nguyên nhân quan trọng là có vấn đề về sức khoẻ (gần 40%) và phục vụ công
việc gia đình (15%).
- Về thu nhập, phần lớn nguồn thu nhập của NCT là từ hỗ trợ của con
cái (31,9%), từ làm việc (29,4%) và từ lương hưu và trợ cấp xã hội (25,5%).
Do mức sống còn chưa cao nên tiết kiệm đóng vai trò không đáng kể trong
nguồn thu nhập của NCT (chiếm 1,3%).
- Tiếp cận kiến thức, giáo dục và đào tạo: Có 83,2% NCT biết đọc, biết
viết, 19,4% NCT chưa bao giờ đi học, 32,4% chưa học hết tiểu học, 17,1%
học hết tiểu học, 15,8% học hết trung học cơ sở, 8,2% học hết trung học phổ
thông, 3,9% hoàn thành trung cấp/đào tạo nghề.” [7]
Trong bài báo “Chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi trong sự
nghiệp đổi mới” đã đưa ra các kết quả tích cực từ sự tham gia hoạt động xã
hội của NCT “sau khi Chủ tịch nước ký lệnh ban hành, Luật Người cao tuổi
Bài viết “Người cao tuổi phát huy vai trò trong các hoạt động”cho thấy
hoạt độnghiện nay, trên địa bàn huyện có trên 16 ngàn hội viên người cao tuổi
(NCT), đạt trên 90% so với NCT toàn huyện, đang sinh hoạt tại 138 Chi hội.
11
Hàng năm, các cấp Hội NCT đều chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp tốt
với các ban, ngành, đoàn thể trong các hoạt động tư vấn, chăm sóc sức khỏe,
khám chữa bệnh, phòng chống tội phạm, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi
trường, công tác thực hiện các chế độ, chính sách đối với NCT”.[11]
Bài viết “Nhân rộng mô hình câu lạc bộ Liên thế hệ tự giúp nhau”đã
cho thấy hiệu quả của việc thành lập các câu lạc bộ dành cho NCT Kết quả
nghiên cứu đánh giá về tác động của CLB liên thế hệ tự giúp nhau của Viện
Nghiên cứu Y – Xã hội học (Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt
Nam) cho thấy, CLB là mô hình có tác động toàn diện tới người cao tuổi và
cộng đồng. Cụ thể là: thành viên được vay vốn và chuyển giao khoa học kỹ
thuật, có thể tăng 50% thu nhập sau ba năm, góp phần giảm nghèo cho người
cao tuổi và gia đình. Sức khỏe của thành viên tốt lên do rèn luyện và có kiến
thức tự chăm sóc. Ðời sống tinh thần được nâng cao, có cơ hội giao lưu, nâng
cao nhận thức. Thúc đẩy sự hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên,
các thế hệ, giữa người khó khăn và không khó khăn; gắn kết tình làng nghĩa
xóm, thúc đẩy các phong trào tại cộng đồng và thực hiện tốt luật pháp, chính
sách về người cao tuổi.Hoạt động của CLB còn làm thay đổi cách nhìn về
người cao tuổi, về sự đóng góp và phát huy nội lực của người cao tuổi; góp
phần làm tốt công tác người cao tuổi. Nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế
cũng công nhận CLB liên thế hệ tự giúp nhau là mô hình có tính nhân văn
cao, hỗ trợ toàn diện người cao tuổi và có hiệu quả nhất, tạo điều kiện hỗ trợ
người cao tuổi nghèo, có hoàn cảnh khó khăn vươn lên thoát nghèo.[12]
Trong Báo cáo “Kết quả và những khó khăn, hạn chế trong việc thực
hiện chính sách, chế độ đối với người cao tuổi” đã chỉ ra những kết quả tích
công nhân viên Nhà nước hoặc có mức sống cao, hiện tại có cuộc sống ổn
định, con cái lại được đầu tư ăn học, trưởng thành có nghề nghiệp và thu
nhập, đủ sức lo cho bố mẹ. Trong khi đó, người cao tuổi trước đây là nông
13
dân, lao động tự do, làm thuê,… hiện tại cuộc sống khó khăn, đa số con cái lại
không được học hành tới nơi tới chốn, nghề nghiệp không ổn định, cuộc sống
tiếp tục khó khăn, không thể chăm lo cho bố mẹ. Những biến đổi trong đời
sống gia đình liên quan đến các biến đổi xã hội. Mối quan hệ giữa bố mẹ và
con cái đang ngày càng lỏng lẻo. Quan điểm sống của người cao tuổi và giới
trẻ ngày càng nới rộng khoảng cách. Nếu như ở nông thôn, mối quan hệ hàng
xóm, láng giềng mang tính mở, thì ở đô thị, mối quan hệ này ngày càng bị thu
hẹp.
Người cao tuổi ở đô thị, ngoài các mối quan hệ trong gia đình còn có
mối quan hệ với đồng nghiệp hoặc bạn bè ở các đoàn thể, câu lạc bộ mà mình
tham gia. Nếu trong đời sống vật chất, mức sống của các cụ ở nội thành cao
hơn ngoại thành thì trong đời sống tinh thần, mối quan hệ gia đình, họ hàng,
bạn bè, hàng xóm láng giềng của các cụ ở ngoại thành lại chặt chẽ hơn. Người
cao tuổi hiện nay đa số sắp xếp đời sống gia đình trong một hộ gia đình mở
rộng (gồm vợ/ chồng, con và cháu). Hầu hết các cụ đang sống cùng con trai,
trong đó phần lớn là con trai trưởng. Tuy nhiên cũng không ít người cao tuổi
hiện có các hình thức sắp xếp đời sống gia đình khác như sống riêng (sống
một mình, sống với vợ/chồng), sống cùng với cháu, sống với họ hàng, bạn bè,
hàng xóm hoặc nương nhờ các tổ chức tôn giáo, trung tâm bảo trợ. Đối với
người cao tuổi có sự độc lập về kinh tế thì họ có khả năng lựa chọn bất kỳ
một hình thức sắp xếp nào mà mình thích. Còn đối với người cao tuổi không
có thu nhập, thu nhập không ổn định, đa phần họ sống phụ thuộc vào con
hoặc sự giúp đỡ từ bên ngoài (họ hàng, bạn bè, các tổ chức xã hội). Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Tùng cũng đã đưa ra hai nền văn hóa lớn ảnh hưởng rõ nét
Ở những nước phát triển các hội đoàn, công tác xã hội hay các dự án
thiện nguyện phù hợp với độ tuổi, chuyên môn và sở thích của người về hưu
rất phổ biến. Người thích công việc giảng dạy có thể tham gia các chương
15
trình giảng dạy, đào tạo cho cộng đồng nơi mình ở hay vùng lân cận. Người
có chuyên môn kỷ thuật, luật sư, bác sĩ, các ngành khoa học xã hội khác có
thể tham gia các dự án thiện nguyện ở các vùng, các nước kém phát triển, hay
viết để chia sẽ với cộng đồng. Chẳng hạn như tôi có biết một nhóm các bác sĩ,
dược sĩ gốc Việt ở Pháp và bạn bè người Pháp của họ từ nhiều năm nay có
các thiện nguyện ở Việt Nam, trong đó nhiều người đã về hưu.
Nhiều trường đại học ở những nước này cũng có các chương trình đào
tạo riêng cho người về hưu. Có những người trước đây vì lý do nào đó không
theo được chương trình đại học, giờ ở tuổi về hưu, họ có thể theo học một
chương trình mà mình yêu thích, không chỉ tốt về mặt trí tuệ, sức khỏe, mà
còn là một nguồn động viên lớn lao cho con cháu của họ. Bên cạnh đó, với sự
phát triển nhanh chóng của Internet, các chương trình học trực tuyến cũng phù
hợp cho người về hưu để phát triển một kiến thức hay kỷ năng mới, hoặc học
thêm một lĩnh vực nghệ thuật như vẽ tranh, điêu khắc, tạc tượng, sáng tác…
Trong khi đó, ở các đô thị của Việt Nam, người về hưu dường như có
rất ít sự lựa chọn các hoạt động cho tuổi hưu của mình. Nhiều người về hưu
không biết làm gì ngoại trừ việc tập thể dục hằng ngày, làm việc nhà, giữ
cháu, thỉnh thoảng đi du lịch.
Điều này có nguyên nhân từ việc ở Việt Nam rất thiếu môi trường để
người về hưu có thể tiếp tục làm việc, học tập, đóng góp cho cộng đồng. Hệ
thống các thư viện công cộng các cơ sở văn hóa nghệ thuật có chức năng đào
tạo liên tục, phù hợp với người cao tuổi là rất hiếm, ngay cả ở các thành phố
lớn. Các câu lạc bộ hưu trí có nhiều nhưng hoạt động lại không mang tính
chuyên biệt như các hội có chung một mục đích tôn chỉ, do vậy mức độ hấp