Áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện chương mỹ, thành phố hà nội - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN
KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐẮC HÙNG

ÁP DỤNG HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯƠNG MỸ,
•••

'

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN
KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ ĐẮC HÙNG

ÁP DỤNG HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯƠNG MỸ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã
số: 8.38.01.04

huyện....................................................................................................................... 36
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TẠI HUYỆN
CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI........................................................39
2.1. Khái quát kết quả áp dụng hình phạt tại huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội..............................................................................................................39
2.2. Thực trạng quyết định hình phạt tại huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội..................................................................................................................... 42
2.3........................................................................................................................... Th
ực trạng miễn hình phạt tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội........................54
2.4. Thực trạng giảm hình phạt đã tuyên tại huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội..............................................................................................................55
2.5. Thực trạng áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội................................................................56
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH
PHẠT TẠI HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI......................61
3.1. Yêu cầu áp dụng đúng hình phạt tại huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội..................................................................................................................... 61
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt tại huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội.............................................................................................69
KẾT LUẬN.............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................81


DANH MỤC CÁC TỪ VIÉT TẮT
ADHP
: Áp dụng hình phạt
BLHS

: Bộ luật hình sự


2013 đến 2017.................................................................................................51
Bảng 2.6: Tình hình giảm hình phạt đã tuyên của Tòa án nhân dân
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến 2017........................55
Bảng 2.7: Tình hình áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của
Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến
2017.................................................................................................56


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Việt Nam, TAND được xác
định là trung tâm, xét xử là trọng tâm của nền tư pháp; việc nâng cao chất lượng hoạt
động xét xử của TAND được coi là khâu đột phá của quá trình cải cách tư pháp và
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND là một giai đoạn trong toàn bộ
quá trình tố tụng hình sự. Khác với hoạt động xét xử các loại án khác như án dân sự,
kinh tế, lao động, hành chính, xét xử án hình sự của TAND là một giai đoạn chuyển
tiếp sau các giai đoạn điều tra, truy tố. Cũng trong giai đoạn xét xử, hoạt động áp
dụng hình phạt (ADHP) hướng vào quyết định những chế tài hình sự mà người phạm
tội phải gánh chịu, trong trường hợp mà pháp luật quy định miễn hình phạt cũng như
giảm hình phạt đã tuyên đối với người phạm tội nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
lợi chính đáng, hợp pháp của mỗi người dân trước nguy cơ bị xâm hại trái pháp luật
của các cá nhân, tổ chức, cũng như từ chính các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần
duy trì trật tự xã hội và tạo môi trường ổn định, lành mạnh, thuận lợi cho cuộc sống
của người dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Trong bối cảnh tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung
và trên địa bàn huyện Chương Mỹ nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, tính chất,
mức độ, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và hậu quả của tội phạm gây ra
ngày càng nghiêm trọng hơn. TAND huyện Chương Mỹ trong những năm qua đã
không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, trong đó có hoạt động ADHP.

giải quyết, xét xử của TAND đã được công bố như:
- Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Xuân Thân: “Áp dụng pháp luật trong hoạt
động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay”, năm 2004.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Chu Thị Trang Vân: “Hoạt động áp dụng pháp
luật hình sự của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam ”, năm
2009.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đức Hiệp: “Áp dụng pháp luật trong
hoạt động xét xử án hình sự của TAND ở tỉnh Ninh Bình ”, năm 2004.

2


- Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Mạnh Toàn: “Áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử sơ thẩm án hình sự của TAND tỉnh Thái Nguyên ”, năm 2008.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Văn Kiểm: “Áp dụng pháp luật trong
hoạt động xét xử án hình sự của TAND ở tỉnh Nam Định ”, năm 2010.
- Tác giả Chu Thị Trang Vân với bài: “Vai trò sáng tạo của Tòa án trong
thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự”, Tạp chí Lập pháp, số 27, tháng 9/2007.
- Tác giả Đàm Cảnh Long với bài: “Bàn về tính pháp quyền trong pháp luật
hình sự ở nước ta hiện nay”, Tạp chí TAND, số 22, tháng 11/2010.
Những công trình và bài viết trên đã ít nhiều đề cập đến việc áp dụng pháp
luật trong xét xử nói chung và đề xuất những giải pháp khoa học nhằm bảo đảm chất
lượng ADHP trong xét xử vụ án hình sự nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa
có một công trình nghiên cứu độc lập đề cập đến những đặc thù trong tổ chức và hoạt
động ADHP của TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận của ADHP; các hình phạt
thuộc thẩm quyền áp dụng của TAND cấp huyện; thực trạng ADHP tại huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp đảm bảo áp dụng

nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp luật, các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân, đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo hoạt động cải cách tư pháp,
tư tưởng đổi mới về tổ chức, hoạt động của TAND thể hiện trong Hiến pháp năm
2013.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử mác xít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn, luận văn còn sử dụng một số phương pháp cụ thể: phương pháp phân tích
và tổng hợp; phương pháp lịch sử cụ thể; phương pháp so sánh;
phương pháp thống kê, phỏng vấn chuyên gia khi xử lý những nội dung cơ bản của
đề tài.

4


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận về ADHP theo
luật hình sự, nâng cao nhận thức của những người trực tiếp làm công tác xét xử của
TAND, đồng thời làm phong phú thêm cơ sở khoa học về ADHP theo luật hình sự
trong xét xử các vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp ở nước ta hiện
nay.
6.2. Về mặt thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ lý luận của bản thân
để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác; là tài liệu tham khảo có giá trị nhất
định trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn Luật Hình sự và Luật tố tụng hình sự;
tạo cơ sở cho việc thống nhất trong nhận thức về áp dụng pháp luật để giải quyết các
vụ án hình sự đạt hiệu quả, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật hình
sự.

nhất của Nhà nước, tức là không có một chế tài nào nghiêm khắc hơn hình phạt. Dù
chỉ là hình phạt cảnh báo hay phạt tiền với giá trị nhỏ cũng được coi là biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc hơn các chế tài khác như chế tài hành chính, dân sự hoặc
kinh tế có mức phạt cao hơn, bởi vì các chế tài khác không bị coi là có án tích và hậu
quả pháp lý của án tích nặng nề hơn các chế tài khác. Một hành vi bị coi là có tội và
bị Tòa án ADHP kéo theo nhiều hậu quả nặng nề khác cho người phạm tội. Chỉ có
chế tài hình sự thì một người mới bị bắt giam, bị tước quyền tự do, bị cải tạo trong
trại giam, thậm chí tước bỏ cả quyền sống nếu họ bị kết án tử hình.
Hình phạt phải được áp dụng đúng mục đích đã được quy định tại Điều 31
BLHS năm 2015: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại
phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc
sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn
trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.” [32, tr. 10].
Để tuyên bố một chủ thể có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật nhất định phải thông qua hoạt động xét xử của TAND. Một người,

6


một pháp nhân bị coi là có tội chỉ khi người đó bị TAND xét xử bằng một bản án đã
có hiệu lực pháp luật. Việc trừng trị hành vi phạm tội như thế nào phải thông qua
hoạt động ADHP của TAND. Hoạt động xét xử của TAND phải tuân thủ nghiêm ngặt
các giai đoạn áp dụng pháp luật của Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể như thụ lý hồ sơ;
áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị
xét xử; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giao các quyết định của TAND; triệu tập
những người cần xét hỏi đến phiên tòa tổ chức mở phiên tòa; điều khiển việc xét hỏi,
tranh luận; tiến hành nghị án và ra các quyết định, bản án của TAND.
Khi tiến hành xét xử các vụ án hình sự, TAND phải ra một phán quyết đối với
hành vi phạm tội đã bị xét xử công khai tại phiên tòa. Căn cứ để TAND quyết định ra
hình phạt là quy định tại Điều 50 BLHS năm 2015.

thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhằm xác định sự thực khách quan
về vụ án, trên cơ sở đó lựa chọn loại và mức hình phạt được quy định trong điều luật
cụ thể tại BLHS cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để ban hành các
bản án, quyết định tuyên bố một người, một pháp nhân có tội và phải chịu hình phạt
và trong những trường hợp mà pháp luật quy định, quyết định miễn hình phạt hay
giảm mức hình phạt đã tuyên cho người bị kết án.
1.1.2. Đặc điểm của áp dụng hình phạt
Áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự là một hoạt động áp dụng
pháp luật, có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, ADHP là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do TAND mà
trực tiếp là HĐXX tiến hành.
Tính chất quyền lực Nhà nước trong ADHP của TAND trước hết được thể
hiện ở chỗ hình phạt do Nhà nước ban hành và thông qua cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền áp dụng đối với người phạm tội và có tính chất thực hiện bắt buộc đối với họ.
Chủ thể ADHP trong trường hợp này là TAND, cơ quan được thành lập theo quy
định của Hiến pháp, hoạt động mang tính đặc thù theo một trình tự pháp lý chặt chẽ.
TAND thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc tổ chức các hoạt động giải

8


quyết án hình sự. Chủ thể tiến hành tố tụng trong hoạt động giải quyết án hình sự là
Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên.
BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong qua trình xét xử vụ án hình sự [35].
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những người được nhân danh Nhà nước tiến
hành hoạt động xét xử nói chung và hoạt động ADHP nói riêng. Như vậy, ADHP của
TAND là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, mà những người tiến hành hoạt
động xét xử là hội đồng xét xử bao gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.

quyền xét xử lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung, quy phạm pháp luật hình thức
để quyết định ADHP đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
công bằng và nghiêm minh.
Thứ ba, hoạt động ADHP được thực hiện chủ yếu tại phiên tòa thông qua việc
xem xét, đánh giá chứng cứ thu nhập được trong quá trình điều tra, truy tố xét xử
một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ để quyết định hình phạt đối với bị cáo;
trong trường hợp pháp luật quy định thì miễn hình phạt đối với họ; chỉ có giảm mức
hình phạt đã tuyên đối với bị cáo được thực hiện trong quá trình thi hành án. [42]
Theo quy định của pháp luật, hoạt động ADHP của TAND được tiến hành tại
phiên tòa thể hiện quyền uy của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, mà cơ quan
đại diện là TAND. Bởi lẽ, phiên tòa xét xử án hình sự không chỉ là nơi tôn nghiêm
của pháp luật mà còn là nơi xét xử công khai, quần chúng nhân dân, các cơ quan Báo
chí, Đài phát thanh truyền hình trực tiếp chứng kiến, ngoại trừ những vụ án vì cần
giữ gìn bí mật quốc gia, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc yêu cầu chính
đáng của người bị hại nên pháp luật cho phép TAND được xét xử kín vẫn phải tuân
thủ các trình tự, thủ tục theo quy định của BLHS như một phiên tòa công khai.
Phiên tòa xét xử hình sự được diễn ra dưới sự điều khiển của HĐXX, mà trực
tiếp là chủ tọa phiên tòa. Tại đây, nguyên tắc tranh tụng được thực hiện một cách rõ
ràng và phải được đảm bảo. Những người tham gia phiên tòa còn phải chấp hành
nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa, nếu vi phạm thì tùy theo mức độ sẽ bị chủ tọa phiên
tòa xử phạt hành chính theo quy định pháp luật. Các bị cáo được quyền công khai
1
0


trình bày ý kiến về việc mình bị truy tố là đúng hay sai; các luật sư có quyền đưa ra
chứng cứ và tham gia tranh luận bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của thân chủ
mình. Thông qua việc xét xử tại phiên tòa, các cơ quan công luận đã tham gia việc
giám sát trực tiếp đối với cơ quan tòa án trong việc áp dụng pháp luật. [41]
Phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự cũng chính là nơi TAND kiểm tra

phải được dự tính trước những vấn đề có thể xảy ra như việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể, chẳng hạn áp dụng các quy phạm tố tụng hình sự để áp
dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ hay tạm đình
chỉ vụ án; quyết định triệu tập đến phiên tòa những người tham gia tố tụng; quyết
định phiên tòa xử công khai hay xử kín, xét xử lưu động hay xét xử tại trụ sở của
TAND; xem xét những người được TAND triệu tập có mặt, vắng mặt tại phiên tòa để
quyết định phiên tòa có thể tiếp tục được tiến hành hay phải hoãn phiên tòa theo
quyết định của pháp luật; quyết định thay đổi những người tiến hành tố tụng; việc xét
hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Nghị án và ban hành bản án, quyết định của TAND.
Trong quá trình ADHP, TAND phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự và pháp luật hình sự. Việc áp dụng đúng các quy định của pháp
luật giúp cho các quyền và nghĩa vụ của công dân được bảo đảm thực hiện một cách
nghiêm chỉnh; các bước tiến hành tố tụng được chính xác, khách quan; các bản án,
quyết định ADHP của TAND bảo đảm đúng pháp luật.[48]
1.1.3. Mục đích của áp dụng hình phạt
- Áp dụng hình phạt nhằm trừng trị người phạm tội.
Trừng trị người phạm tội là thuộc tính đồng thời cũng là mục đích trước tiên
của hình phạt. Trong Nhà nước ta, hình phạt thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà
nước đối với người đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội. Khi quyết định
hình phạt, Toà án đã nhân danh Nhà nước mà tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích
của người phạm tội (tước tự do, tước tài sản thậm chí tước quyền sống của người
phạm tội hoặc hạn chế quyền tự do đi lại, cư trú, tự do kinh doanh...) Cũng cần thấy
rằng, trong Nhà nước ta, hình phạt không hề có tính chất trả thù, khủng bố. Hình
phạt không nhằm làm người bị kết án đau đớn về thể xác, không nhằm hạ thấp phẩm

1
2


giá của họ. Thực ra, khi thực hiên tội phạm người phạm tội ít nhiều đã tự đánh mất



có ý định phạm tội thì phải dừng lại, nếu không dừng lại ắt phải chịu hậu quả. Đặt ra
mục đích này vừa có tính chất răn đe, vừa có tính chất giáo dục để mọi người tránh
xa nó.
1.1.4. Ý nghĩa của áp dụng hình phạt
Ý nghĩa của ADHP được thể hiện:
- Thứ nhất: ADHP có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm thông qua việc trừng trị
những người có hành vi phạm tội, qua đó bảo vệ và khôi phục các quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của Nhà nước và công dân, bảo vệ tài sản, danh dự, nhân
phẩm, tính mạng, sức khỏe của con người, giữ gìn trật tự trị an và an toàn xã hội, giữ
gìn kỷ cương phép nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, ADHP
đúng có ý nghĩa bảo đảm công lý, công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm.
- Thứ hai: ADHP có ý nghĩa góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói
chung và pháp luật hình sự nói riêng. Qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự thấy
rằng: các quy phạm pháp luật hình sự đều được kiểm nghiệm trong thực tiễn cuộc
sống về tính phù hợp hay chưa phù hợp trong đời sống xã hội; về tính đầy đủ, toàn
diện hay chưa đầy đủ, còn có những vướng mắc, bất cập nào trong quá trình ADHP;
phát hiện ra những quy phạm pháp luật hình sự còn chung chung, làm cho mỗi người
có một cách hiểu khác nhau dẫn đến tình trạng ADHP một cách tùy tiện, vi phạm
tính thống nhất của pháp luật và nguyên tắc pháp chế XHCN; ngược lại có những
hành vi phạm tội diễn ra có điểm khác với dự đoán của nhà làm luật, từ đó chủ thể
ADHP lúng túng; cũng có khi còn phát hiện ra những nghi phạm mới chưa được các
quy phạm pháp luật hiện có điều chỉnh, những quy phạm pháp luật đã lỗi thời, không
còn phù hợp với tồn tại xã hội cần được thay thế bằng quy phạm pháp luật mới. Như
vậy, có thể nói ADHP trong các vụ án hình sự chính là nơi kiểm nghiệm các quy
phạm pháp luật trong thực tiễn để phát hiện những lỗ hổng của pháp luật và là nơi
nảy sinh những tư duy pháp lý mới góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp
luật hình sự Việt Nam. [49]


ADHP cảnh cáo đã phải chịu sự lên án của Nhà nước về hành vi phạm tội của mình.

1
5


- Phạt tiền (Điều 35 BLHS năm 2015) [32, tr. 11] là hình phạt có tính chất
kinh tế, nhằm vào tài sản của người phạm tội, buộc người phạm tội phải nộp một
khoản tiền để sung quỹ nhà nước. Hình phạt tiền áp dụng với những tội ít nghiêm
trọng, được áp dụng là hình phạt chính khi có điều luật quy định. Ngoài ra phạt tiền
được áp dụng là hình phạt bổ sung khi không áp dụng là hình phạt chính.
- Cải tạo không giam giữ (Điều 36 BLHS năm 2015) [32, tr. 11] là hình phạt
được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, hoặc phạm tội nghiêm trọng
do BLHS quy định, xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà giao họ cho
cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó
thường trú để giám sát, giáo dục.
- Trục xuất (Điều 37 BLHS năm 2015) [32, tr. 12] là buộc người nước ngoài
bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Trục xuất được
TAND áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ
thể.
Hiện nay, Nhà nước ta đang chủ trương mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế,
số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, du lịch, công tác, học tập ngày
càng nhiều và trong đó một số người đã phạm tội ở Việt Nam. Việc bổ sung hình
phạt này với tính chất vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để xử lý người nước ngoài phạm tội một cách hợp lý hơn. Hình phạt
này chỉ áp dụng với người phạm tội là người nước ngoài mà bản thân họ là mối đe
dọa đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của những người khác tại Việt Nam.
- Tù có thời hạn (Điều 38 BLHS năm 2015) [32, tr. 12] là hình phạt tước
quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly khỏi cuộc sống xã hội trong
một thời gian nhất định. Người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam, phải

phạt trong chế tài tương đối dứt khoát đã được pháp luật hình sự quy định.
Một trong những nội dung mới quan trọng của BLHS năm 2015 là bổ sung
quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Từ Điều 74 đến Điều
88 BLHS năm 2015 quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại
phạm tội.
Trong số các hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm
tội có:

1
7


- Phạt tiền (Điều 77 BLHS năm 2015) [32, tr. 26] được áp dụng là hình phạt
chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Mức tiền phạt
được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến
tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả
nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.
- Đình chỉ hoạt động có thời hạn (Điều 78 BLHS năm 2015) [32, tr. 26] là
tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà
pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người,
môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc
phục trên thực tế.Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.
- Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn (Điều 79 BLHS năm 2015) [32, tr. 26] là
chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà
pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại
đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra. Pháp
nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn
toàn bộ hoạt động.
Đối với pháp nhân thương mại, khi quyết định hình phạt chính, Tòa án cũng

- Quản chế (Điều 43 BLHS năm 2015) [32, tr. 13] là buộc người bị kết án
phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự
kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương. Trong thời gian quản
chế, người bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công
dân theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định. Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh
quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật
này quy định. Thời hạn quản chế là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành
xong hình phạt tù.
- Tước một số quyền công dân (Điều 44 BLHS năm 2015) [32, tr. 13] áp
dụng đối với công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia
hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do BLHS quy định, thì bị tước một hoặc
một số quyền công dân như quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước,

1
9



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status