BÀI TIỂU LUẬN “XÃ HỘI CẦN LÀM GÌ ĐỂ TRẺ EM VÙNG CAO, VÙNG ĐỒNG BÁO KHÓ KHĂN Ở HÀ GIANG CÓ THỂ TIẾP CẬN TỚI GIÁO DỤC HIỆU QUẢ NHẤT” - Pdf 49

Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

BÀI TIỂU LUẬN
“XÃ HỘI CẦN LÀM GÌ ĐỂ TRẺ EM VÙNG CAO, VÙNG ĐỒNG BÁO KHÓ
KHĂN Ở HÀ GIANG CÓ THỂ TIẾP CẬN TỚI GIÁO DỤC HIỆU QUẢ NHẤT”

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam. Tỉnh Hà
Giang phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào
Cai, phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Về phía bắc, Hà Giang giáp châu
tự trị dân tộc Choang và Miêu Văn Sơn thuộc tỉnh Vân Nam và địa cấp
thị Bách Sắc thuộc tỉnh Quảng Tây của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Dân số tỉnh Hà Giang theo điều tra dân số năm 2016 là 820.427
người. Trong đó, dân số thành thị là 122.993 người các dân tộc: Mông
(chiếm 32%, Tày (23,3%), Dao (15,1%), Kinh (13,3%), Nùng (9,9%)...
Với địa bàn miền núi chủ yếu là dân tộc thiểu số công tác giáo dục
và tiếp cận giáo dục tại Hà Giang với trẻ em vùng cao và cùng đồng bào
dân tộc thiểu số là cả một khó khăn cụ thể như sau:
A.

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN GIÁO DỤC

CHO TRẺ EM NGHÈO TẠI KHU VỰC MIỀN NÚI HÀ GIANG

1. Khả năng tiếp cận giáo dục
Khả năng tiếp cận giáo dục mầm non
Thực hiện kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục cho mọi người,
Hà Giang đã xác định được mục tiêu của giáo dục mầm non tại nơi này
đó là:
 Cung cấp cơ hội tiếp cận với giáo dục mầm non cho trẻ em 0-5
tuổi, ưu tiên trẻ em nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số
 Đảm bảo cho tất cả trẻ em đều hoàn thành một năm giáo dục tiền

- Từ những thành tựu đáng kể đã được được ở trên, chúng ta có thể
hình dung được một bức tranh giáo dục mầm non tươi sáng đang ở phía
trước, bức tranh mà bây giờ chúng ta đang cố thực hiện nó thông qua
công tác tiếp cận giáo dục mầm non cho mảnh đất vùng cao này.
Khả năng tiếp cận giáo dục tiểu học
Trong những năm vừa qua, giáo dục tiểu học tại Hà Giang đã đạt
được những thành tựu không nhỏ. Giáo dục tiểu học đã đạt được nhiều
2


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

chỉ tiêu quan trọng.
1.2.1. Về mục tiêu tiếp cận
- Về cơ bản, Hà Giang đã huy động được học sinh trong độ tuổi đến
trường với tỷ lệ nhập học khá cao
- Tỷ lệ trẻ em nam và trẻ em nữ nhập học là xấp xỉ bằng nhau. Bình
đẳng giới trong giáo dục tiểu học tại Hà Giang tuy còn nhiều vấn đề
nhưng về cơ bản đã đạt được.
- Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số nhập học tăng dần hàng năm
1.2.2. Mục tiêu về chất lượng và sự phù hợp
- Tỷ lệ học sinh, giáo viên, trường lớp đều đạt và tăng vượt chỉ tiêu
- Nội dung chương trình và sách giáo khoa đã được đổi mới, phù
hợp với khả năng tiếp cận và thích nghi của học sinh, trình độ chuyên
môn nghiệp vụ của giáo viên cũng được nâng lên một bước. Phương pháp
dạy học cũng được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của học
sinh
- Giáo viên tiểu học tại Hà Giang cũng đã được bồi dưỡng theo
chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tiểu học nhằm chuẩn
hóa đội ngũ giáo viên tại nơi đây.

nhưng tỷ lệ huy động chưa cao, tình trạng này do nhiều nguyên nhân, do
dân trí còn thấp, điều kiện kinh tế có khó khăn, khoảng cách và thời gian
đi đến trường không thuận lợi do những khó khăn về địa lý. Nhưng vùng
Hà Giang thời gian gần đây cũng đã chủ trương xây dựng các điểm
trường trung học cơ sở sao cho gắn với các khu dân cư, xây dựng trường
nội trú nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc huy động các em đi
học
1.3.2. Về công bằng trong tiếp cận giáo dục trung học cơ sở
a. Nhóm trẻ em nghèo dân tộc thiểu số
- Do có những khó khăn về địa lý, về ngôn ngữ, về chậm phát triển
kinh tế xã hội nên việc học tập của trẻ em nghèo các dân tộc thiểu số
thường gặp nhiều khó khăn.
- Những năm vừa qua, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách
4


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

nhằm tạo cơ hội cho các em học sinh nghèo dân tộc thiếu số đến trường.
Và sự quan tâm của Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu của các địa phương đã
mang lại những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ.
- Tỷ lệ số học sinh dân tộc thiểu số tại Hà Giang nhập học đã tăng
dần hàng năm so với tổng số học sinh cấp trung học cơ sở. Tuy nhiên vẫn
có sự chênh lệch lớn so với các vùng miền khác trong việc huy động học
sinh dân tộc thiểu số đến trường. Đây là một trong những việc cần phải
nhanh chóng khắc phục để từng bước thu hẹp khoảng cách với các vùng
phát triển.
b. Nhóm trẻ em gái
- Tỷ lệ trẻ em nam và trẻ em nữ nhập học tại Hà Giang nhìn chung
đã có sự thay đổi qua các năm. Tỷ lệ học sinh nữ nhập học vào trung học

- Đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa đã góp phần không nhỏ trong
công tác tiếp cận và phổ cập giáo dục trung học cơ sở tại Hà Giang. Tỷ lệ
giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đã tăng nhanh qua các năm, do đó đã
nâng cao được hiệu quả trong công tác giáo dục trung học cơ sở tại đây
- Tầm quan trọng của công tác tiếp cận và phổ cập giáo dục trung
học cơ sở tại Hà Giang cũng đang ngày một được nâng cao, từ đó làm
động lực phấn đấu và tăng cường được khả năng tiếp cận giáo dục trung
học cơ sở, tiến đến phổ cập và ngày càng nâng cao chất lượng của giáo
dục trung học cơ sở tại vùng Hà Giang.
- Hiện nay, số trường đạt chuẩn quốc gia tại Hà Giang còn ít, do đó
mục tiêu xây dựng trường chuẩn quốc gia cũng là mục tiêu quan trọng
nằm trong công tác tiếp cận và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Xây
dựng trường chuẩn quốc gia là giải pháp tổng thể nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện ở trung học cơ sở. Việc cần thiết đối với Hà Giang
hiện nay là làm sao đẩy mạnh được phát triển kinh tế để rồi từ đó tiến đến
việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc học tập thật tốt thì mới có
thể tiến đến việc tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục trung học cơ sở
cho vùng một cách dễ dàng.
2. Những khó khăn còn tồn tại
6


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

Tình hình giáo dục ở những vùng khó khăn tuy đã đạt được một số
kết quả, nhưng nhiều tỉnh vẫn còn trong tình trạng rất khó khăn trong việc
chỉ đạo và thực hiện các mục tiêu phát triển giáo dục. Một số chỉ tiêu về
Giáo dục và Đào tạo có nguy cơ khó thực hiện.
- Tỉ lệ các cháu 3-5 tuổi vào học mẫu giáo còn thấp, mạng lưới
trường lớp chưa phát triển, thiếu giáo viên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

- Tỷ lệ lưu ban và bỏ học ở các cấp học cao hơn tỷ lệ chung của cả
nước, chất lượng học sinh kém, khoảng cách chênh lệch trình độ giữa
vùng thuận lợi và khó khăn ngày càng xa; việc triển khai việc đổi mới
chương trình, phương pháp giảng dạy và sách giáo khoa còn nhiều hạn
chế.
- Đội ngũ giáo viên không đồng bộ vừa thừa, vừa thiếu. Thiếu giáo
viên dạy ngoại ngữ, tin học, nhạc họa. Bên cạnh số lượng giáo viên đạt
danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh ngày một tăng thì còn một
bộ phận giáo viên không đạt chuẩn, nhất là giáo viên tiểu học, mầm non,
trung học cơ sở. Thực tế đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc phổ cập và
nâng cao chất lượng giáo dục.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
chậm được đổi mới, chất lượng thấp. Các trường học đang phải đứng
trước mâu thuẫn giữa yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào
tạo và một bên là năng lực hạn chế của hệ thống. Cơ chế tuyển dụng, bố
trí, đãi ngộ, đánh giá và chế độ chính sách đối với giáo viên và cán bộ
quản lý còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo ra được động lực để giáo viên tự
rèn luyện về phẩm chất, nâng cao năng lực.
- Chất lượng học tập của học sinh giữa vùng thuận lợi và vùng khó
khăn, vùng dân tộc thiểu số có sự chênh lệch khá lớn. Nguyên nhân là do
vốn tiếng Việt của học sinh dân tộc có nhiều hạn chế, tâm lý còn rụt rè,
nhút nhát, các điều kiện hỗ trợ cho việc học tập thiếu thốn và hầu hết các
em không có thói quen tự học và thời gian học ở nhà
- Bộ phận nhân dân và đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức về việc
học tập để nâng cao dân trí chưa cao, sự quan tâm đến việc học tập của
8


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8



Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

kinh phí của địa phương, vì không có kinh phí để xây dựng trường, lớp,
dân không có tiền để đóng góp, một số nơi dân đóng góp bằng hiện vật để
trả công cho giáo viên, đời sống của giáo viên ngoài biên chế rất khó
khăn, nhiều cô giáo phải bỏ việc, cơ sở vật chất ngày càng xuống cấp.
- Do thiếu kinh phí và nhu cầu về phòng học tăng, nên nhiều nơi đã phải
làm những phòng học tạm với bàn ghế đơn sơ, chỉ sau 1 đến 2 năm cơ sở vật
chất hỏng, nát phải làm lại, vì thế, cơ sở vật chất luôn trong tình trạng tạm bợ.
- Do hoàn cảnh kinh tế các tỉnh khó khăn, đời sống đồng bào các dân
tộc còn nghèo, bên cạnh đó lại hạn chế về chỉ tiêu tuyển sinh nên quy mô
phát triển các trường lớp cũng chưa phát triển mạnh, học sinh phải lao
động kiếm thêm thu nhập cho gia đình nên thời gian học tập rất ít.
- Nhiều xã chưa có trường trung học cơ sở, thiếu giáo viên, chất
lượng giáo viên chưa đảm bảo, trường cách xa nhà học sinh, địa bàn hiểm
trở, do đó dẫn đến trình trạng học sinh ngại đi học, bên cạnh đó hiệu quả
giáo dục thấp, tỷ lệ lưu ban, bỏ học cao.
- Giáo viên trung học phần lớn là từ nơi khác đến, khó thu hút giáo
viên về công tác những nơi khó khăn, bên cạnh đó nhiều giáo viên đã
công tác lâu năm muốn xin chuyển vùng nên đã gây ra tình trạng thiếu
giáo viên. Việc luân chuyển giáo viên cũng đang gặp khó khăn nên chưa
có điều kiện để thay thế, nâng cao tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn. Giáo viên
chưa đồng bộ về cơ cấu, thiếu giáo viên dạy các môn chuyên biệt là do
chúng ta chưa chú ý đào tạo loại hình giáo viên này.
- Một số địa phương trong khu vực thiếu đôn đốc, kiểm tra, thiếu
kinh phí hỗ trợ để phát triển giáo dục, không có môi trường để sử dụng
kiến thức đã học, sách báo cho trẻ em đọc, dẫn đến tình trạng tái mù chữ
- Công tác quản lý giáo dục – đào tạo chậm đổi mới, còn những bất
cập trên các mặt: Quy hoạch, kế hoạch, cơ chế chính sách, năng lực, trách

trẻ và được chăm sóc giáo dục tốt hơn, đó cũng là cách để giúp đỡ giáo
viên và người trông trẻ duy trì, cải thiện điều kiện sống vốn rất khó khăn
của họ.
- Đối với trẻ 0-2 tuổi, do tỷ lệ trẻ đến các nhà trẻ thấp, nên cần có
một tỷ lệ nhất định từ nguồn đầu tư hỗ trợ của Nhà nước để duy trì hoạt
động của các cơ sở mầm non hiện có, đồng thời để xây dựng tài liệu, phổ
biến kiến thức chăm sóc trẻ nhỏ và được phân phối đến tận gia đình nhằm
11


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

giảm bớt thiệt thòi cho trẻ không được đến trường. Việc này đòi hỏi có sự
phối hợp của các cơ quan, ban ngành, trong đó chủ yếu là Bộ Giáo dục và
Đào tạo và Ủy ban dân số , gia đình và trẻ em.
- Nhà nước cần có chính sách mở rộng hệ thống các cơ sở nuôi, dạy
trẻ mồ côi, tàn tật, trẻ em nghèo các dân tộc thiểu số Hà Giang khó có khả
năng hòa nhập. Các cơ sở này có thể do Nhà nước đầu tư hoàn toàn, có
thể do cá nhân, tổ chức NGOs làm từ thiện nhưng đều có sự quản lý, phối
hợp hỗ trợ của Nhà nước để đảm bảo cho việc chăm sóc giáo dục trẻ có
hiệu quả.
1.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục mầm non
- Chính phủ xây dựng các chương trình, triển khai các mục tiêu với
các dự án để nhằm:
 Thực hiện chương trình giáo dục mầm non với cách tiếp cận và
chăm sóc giáo dục mầm non mới và phù hợp với địa bàn khu vực. Việc
thực hiện này đòi hỏi phải có tổng kết, đánh giá việc thực hiện chương
trình giáo dục mầm non thí điểm, đầu tư cơ sở vật chất và tập huấn đội
ngũ giáo viên
 Nâng cao chất lượng đào tạo của các khóa đào tạo mầm non thông

- Tăng cường huy động nguồn vốn từ ngân sách đầu tư cho giáo
dục mầm non tại Hà Giang, nhằm đảm bảo phát triển hệ thống giáo dục
mầm non, tăng cường cơ sở hạ tầng, nâng cao cơ sở vật chất phục vụ tốt
cho việc day – học tại các trường mầm non, nhằm đảm bảo thúc đẩy công
tác tiếp cận giáo dục mầm non và hiệu của của giáo dục mầm non ngày
càng được đẩy mạnh.
2. Giải pháp tiếp cận giáo dục cơ bản (tiểu học và trung học cơ
sở ) cho trẻ em nghèo tại Hà Giang.
2.1 Tăng cường cơ sở vật chất
-

Tiếp tục củng cố mạng lưới trường học với cơ sở trường lớp

được nâng cấp, tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng giảng
dạy, học tập cho nhà trường cả tiểu học và trung học cơ sở tại Hà Giang
-

Cần xóa bỏ các phòng học tạm, phòng học 2 ca, xây dựng các

công trình vệ sinh để đảm bảo điều kiện tối thiểu cho các em học sinh
trong việc học tập cấp tiểu học cũng như trung học cơ sở.
-

Xây dựng cơ sở vật chất đầy đủ tại các trường học, chú ý đến
13


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

việc phát triển mạng lưới trường học tập trung, gần dân, để đảm bảo việc



Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

để phát triển năng lực, trong đó kỹ năng lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện
kế hoạch là một trong những kỹ năng cần phải có mà cụ thể ở đây là việc
thực hiện tốt công tác tiếp cận giáo dục cho trẻ em nghèo Hà Giang tại
các cấp học tiểu học và trung học cơ sở.
- Do đó, trong những năm tới phải coi việc đổi mới công tác quản
lý giáo dục và đội ngũ giáo viên là một trong những nhân tố quan trọng
để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, vì vậy phải
có biện pháp tích cực và bước đi cụ thể đối với công việc quan trọng này.
- Cần phải đổi mới đồng bộ về nội dung, sách giáo khoa, phương
pháp dạy học, về tư duy quản lý giáo dục, về công tác đánh giá, về công
tác thiết bị dạy học, chương trình giáo dục phổ thông tại Hà Giang theo
chương trình mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra.
- Cần lập cơ quan quản lý ở Bộ vừa có chức năng nghiên cứu giáo
dục dân tộc tại Hà Giang, vừa có chức năng tham mưu, chỉ đạo hoạt động
giáo dục tại khu vực.
- Đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, chuyên gia giáo dục
là nhân tố quyết định sự thành công của công tác tiếp cận giáo dục cho trẻ
em nghèo tại nơi đây, do đó phải bồi dưỡng và đổi mới công tác quản lý
giáo dục như là một yêu cầu cấp thiết. Từ đó có những phương pháp thực
hiện tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục một cách có hiệu quả như
việc huy động trẻ em nghèo, có hoàn cảnh khó khăn ra lớp, số học sinh
bỏ học được huy động lại trường để tái hòa nhập, các giải pháp nâng cao
chất lượng công tác dạy – học, phát triển cơ sở vật chất phục vụ giáo
dục ...
2.4 Giải pháp thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở

- Thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng,
đặc biệt là phụ huynh học sinh - những người bảo lãnh về nhu cầu giáo
dục của trẻ em và trách nhiệm của gia đình, cộng đồng trong giáo dục trẻ
em. Kết hợp với các cá nhân, tổ chức kinh tế-xã hội để thực hiện xã hội
hoá giáo dục trẻ em Hà Giang nói chung và trẻ em nghèo tại khu vực nói
riêng
- Điều chỉnh chương trình phù hợp, xây dựng các điều kiện bảo đảm
cho việc học tập suốt đời của trẻ em tại nơi đây
16


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

- Xây dựng chương trình định hướng nghề nghiệp, dạy nghề và tìm
kiếm nơi làm việc cho trẻ lớn tuổi.
- Để phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở với chất lượng cao
cho tất cả trẻ em trong độ tuổi tại Hà Giang tới 2015, thì cần thực hiện
đồng bộ các giải pháp nêu trên trong sự phối hợp chặt chẽ giữa các Ban,
Ngành, sự tham gia tích cực của toàn cộng đồng và tranh thủ sự ủng hộ của
các cá nhân, tổ chức trong nước cũng như quốc tế.
2.5 Đáp ứng nhu cầu học tập cho trẻ em Hà Giang
- Nhà nước cần có các chính sách để nhằm xóa đói giảm nghèo,
từng bước nâng cao đời sống của nhân dân để giảm tỷ lệ số trẻ em nghèo
đi học tại Hà Giang, từ đó giảm thiểu được chi phí cho giáo dục của Nhà
nước tại nơi đây. Khi đời sống kinh tế - xã hội phát triển thì mức sống của
người dân cũng tăng lên, số trẻ em nghèo giảm xuống và gánh nặng chi
phí cho công tác tăng cường tiếp cận giáo dục cho các em cũng được
giảm theo, từ đó có thể chuyên tâm vào công tác phổ cập giáo dục các
cấp, dần nâng cao được hiệu quả giáo dục, ngày một đáp ứng được nhu
cầu học tập của các em một cách tốt nhất.

Hiện vẫn còn thiếu giáo viên dạy thể dục, mỹ thuật, hát nhạc và cũng
chưa chuẩn về chất lượng, nhất là ở những vùng miền khó khăn trong khu
vực. Những tồn tại này đã có ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai
nội dung, chương trình, sách giáo khoa mới. Vấn đề đặt ra là cần phải có
những chính sách tích cực nhằm phát triển đội ngũ giáo viên công tác tại
đây cả về số lượng và chất lượng.
- Thực hiện chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với
giáo viên, khuyến khích người giỏi làm nghề dạy học.
- Có chính sách thu hút giáo viên lên công tác tại vùng cao song
song với nó là cần phải đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
là người dân tộc.
- Tập trung nghiên cứu để có chính sách đào tạo và bồi dưỡng giáo
viên phù hợp với đặc điểm của Hà Giang nói chung và giáo dục tại miền
núi Hà Giang nói riêng.
- Giáo viên công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng cao của Hà Giang
phải được được ưu tiên trong tuyển dụng.
- Tạo điều kiện giúp cho giáo viên yên tâm công tác và thực hiện tốt
18


Lý Thị Bích Liên lớp KT5-K8

nhiệm vụ, đem lại hiệu quả cao trong giáo dục. Có chính sách đãi ngộ đặc
biệt về lương và phụ cấp, nghỉ phép, tạo điều kiện cho giáo viên về nhà ở.
2.8 Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục
- Tiếp tục nghiên cứu, thực nghiệm, tổng kết và phổ biến kinh
nghiệm về việc dạy song ngữ. Biên soạn chương trình, sách giáo khoa
dạy chữ dân tộc cho một số dân tộc để có thể dạy rộng rãi ở các khu vực
thích hợp, có nhu cầu và có đủ điều kiện về cơ sở vật chất cũng như giáo
viên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status