Phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 49

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
ššš

NGÔ QUỐC CA

PHÁT TRIỂN CÁC KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2013


BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
ššš

NGÔ QUỐC CA

PHÁT TRIỂN CÁC KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số:

60 31 01 02

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS TRƯƠNG TUẤN BIỂU

HÀ NỘI - 2013



2.2

nghiệp hiện nay
Quan điểm phát triển khu, cụm công nghiệp thành phố

2.3

Hà Nội
Một số giải pháp chủ yếu phát triển các khu, cụm công
nghiệp Thành phố Hà Nội trong thời gian tới

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

9

9
25

47

47
49
60
75
76
81




Doanh nghiệp nhà nước

DNNN

6.

Đầu tư phát triển

ĐTPT

7.

Giải phóng mặt bằng

GPMB

8.

Khoa học kỹ thuật

KHKT

9.

Kinh tế - xã hội

KT-XH

10. Khu chế xuất

Thực tiễn phát triển của các nước trên thế giới những năm qua đã chứng
tỏ rằng việc thành lập các khu công nghiệp là một trong những giải pháp quan
trọng đối với việc đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Vận dụng kinh nghiệm thế giới vào thực tế Việt Nam, từ năm 1991,
Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thí điểm và triển khai việc xây dựng các
khu công nghiệp và khu chế xuất. Đến nay, các KCN đã và đang trở thành điểm
thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài, đón nhận các tiến bộ khoa học - công
nghệ và tạo ra những nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX và các CCN tại các
địa phương trên cả nước trong những năm qua đã cho thấy những đóng góp
quan trọng trong việc tăng tỷ trọng GDP, thu hút đầu tư trong và ngoài nước,
giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, góp phần giải quyết việc làm
cho người lao động của các địa phương và trên cả nước. Những đóng góp tích
cực của KCN, KCX và các CCN vào phát triển kinh tế, xã hội trong hơn 20
năm qua đã khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước
ta về xây dựng và phát triển KCN, KCX và các CCN.
Thành phố Hà Nội với vị trí địa lý thuận lợi, là trung tâm của vùng
kinh tế trọng điểm phía Bắc, Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển công
nghiệp nói chung và KCN, CCN nói riêng. Trong đó các KCN, CCN được coi
là các trung tâm, là xương sống của nền công nghiệp Thủ đô và các tỉnh lân
cận. Các KCN, CCN của Hà Nội đã phát triển một cách nhanh chóng, hiệu quả,
tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, làm tăng nhanh tốc độ
CNH, HĐH và tăng trưởng kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội và cả nước.
Các KCN thành lập trong giai đoạn đầu đến nay cơ bản đã lấp đầy diện tích đất


công nghiệp, Hà Nội đã phát triển thêm một số KCN mới và các CCN nhằm
tạo thêm quỹ đất thu hút đầu tư trong giai đoạn tới.

vấn đề việc làm và thu nhập của người dân bị thu hồi đất để xây dựng KCN,
vấn đề nhà ở cho người lao động làm việc tại KCN.
Dưới dạng sách nghiên cứu, hội thảo, bài viết tham luận tại các hội thảo
chuyên đề có các công trình:
"Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất và
đặc khu kinh tế" của Viện Kinh tế học năm 1994; "Khu công nghiệp,khu chế
xuất các tỉnh phía Nam" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản năm 2002, nhằm
đánh giá khái quát về những thành công và hạn chế của các khu công nghiệp,
khu chế xuất tại các tỉnh phía Nam nước ta.
Năm 2002, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiệm thu đề tài cấp Bộ "Nghiên
cứu mô hình quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam"
nội dung của đề tài là nhằm mục đích giới thiệu kinh nghiệm quản lý các khu
công nghiệp, khu chế xuất của nước ngoài, đánh giá những mặt tốt và những
hạn chế của mô hình quản lý hiện đang áp dụng tại Việt Nam, đồng thời đề
xuất một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các khu
công nghiệp, khu chế xuất trong những năm tiếp theo.
Năm 2004, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Tạp chí Cộng sản và
UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức Hội thảo với chủ đề "Phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh phía Bắc - những vấn đề lý luận và thực tiễn"
tại Thanh Hóa đã có 40 bài tham luận gửi đến Hội thảo. Các bài viết đã tập
trung vào một số vấn đề cơ bản, như vị trí, vai trò của các KCN, KCX; quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển KCN, KCX, một số vấn đề lý
luận, quy hoạch phát triển các KCN, KCX; các chính sách liên quan đến phát
triển KCN, KCX; những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kém phát triển của
các KCN phía Bắc so với các KCN phía Nam; Tổ chức bộ máy quản lý nhà
nước đối với các KCN, KCX và vấn đề tạo động lực cho các KCN, KCX.
Tháng 7/2006, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức "Hội nghị - hội thảo
quốc gia 15 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở




phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê so sánh, phương pháp lôgíc lịch sử
và tổng kết thực tiễn, phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch, hoạch định các chủ trương,
chính sách về phát triển các khu, cụm công nghiệp phù hợp với đặc thù và định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, của Thành phố; học tập,
phát huy mặt tích cực, ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực trong quá trình xây
dựng và phát triển các khu, cụm công nghiệp.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy kinh
tế chính trị tại các trường đại học, học viện.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết.


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CÁC KHU,
CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Lý luận chung về phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp
1.1.1. Khái niệm về khu, cụm công nghiệp
* Khái niệm khu công nghiệp
Thuật ngữ KCN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX khi các KCN được bắt đầu
hình thành và phát triển nhân rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên,
cho đến nay trên thế giới vẫn đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về khái
niệm KCN.
Theo quan niệm thông thường: KCN là khu vực có tính chất độc lập,
trong đó có các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa, thực hiện các hoạt
động dịch vụ và có chế độ quản lý riêng. KCN là một trong các loại hình của

Thứ nhất, KCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời của mỗi
quốc gia, thường là những khu vực địa lý riêng biệt thích hợp, có hàng rào giới
hạn với các vùng lãnh thổ còn lại của nước sở tại; được Chính phủ nước sở tại
cho phép xây dựng và phát triển.
Thứ hai, KCN là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và mục
tiêu xác định giữa chủ đầu tư và nước chủ nhà. KCN là nơi có môi trường kinh
doanh đặc biệt phù hợp, được hưởng những quy chế đặc biệt, các chính sách ưu
đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở nội địa. Là nơi có vị
trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, thương mại dịch vụ, đầu tư trên cơ sở
các chính sách ưu đãi về cơ sở hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục hải quan, thủ tục
hành chính, chính sách tài chính - tiền tệ, môi trường đầu tư…
Thứ ba, KCN là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về chính sách ưu tiên
hướng ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài, phát triển các loại hình
kinh doanh, sản xuất phục vụ xuất khẩu. Đây là mô hình thu nhỏ về chính sách
phát triển kinh tế - xã hội mở cửa của một quốc gia.


Tùy điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế
khác nhau nhưng tựu trung lại trên thế giới hiện nay có hai mô hình phát triển
KCN, từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN.
- Định nghĩa 1: KCN là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất
công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng,
nhà ở… KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc
biệt như KCN thương mại Indonesia, các công viên công nghiệp ở Đài Loan,
Thái Lan và một số nước Tây Âu.
- Định nghĩa 2: KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập
trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có
dân cư sinh sống. Theo quan điểm này, ở một số nước như Malaysia,
Indonesia, Thái Lan, Đài Loan... đã hình thành nhiều KCN với quy mô khác
nhau.

Cụm công nghiệp.
Khái niệm Cụm công nghiệp “Geographical clusters” hay “Industrial
districts” xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi Alpred Marshall, xuất phát từ việc
nghiên cứu của ông về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở miền Bắc nước
Anh. Theo Marshall, các CCN có ba lợi thế cơ bản từ sự tập trung; sự lan toả
của thông tin; sự chuyên môn hoá và phân công lao động giữa các cơ sở với
nhau và sự phát triển của thị trường lao động dạng có tay nghề cao.
Khái niệm CCN theo cách tiếp cận của Michael Porter, CCN là sự tập
trung về mặt địa lý của các công ty và tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực
cụ thể nào đó và bao gồm các ngành gắn kết với nhau. CCN tập trung các nhà
cung cấp đầu vào, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng như các nhà sản
xuất các sản phẩm khác có liên quan. Các CCN cũng có thể bao gồm các tổ
chức như trường đại học, viện nghiên cứu, trường đào tạo nghề và các hiệp hội
thương mại.
Theo OECD (Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế): Các CCN có thể
được coi “là hệ thống sản xuất gồm có các hãng phụ thuộc lẫn nhau (các nhà
cung cấp chuyên nghiệp), các tổ chức đào tạo, các tổ chức trung gian và khách
hàng, liên kết với nhau trong một hệ thống sản xuất gia tăng giá trị”.
Ở Việt Nam, từ khi có Quyết định 132/2000/QĐ- TTg ngày 24/11/2000


về một số chính sách, khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đến trước
khi có Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009, CCN được hiểu và gọi
tên rất khác nhau giữa các địa phương trong cả nước, nơi thì gọi là CCN làng
nghề, nơi gọi là Cụm công nghiệp nông thôn, nơi gọi là Cụm công nghiệp vừa
và nhỏ, Cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp làng nghề…
Theo quan điểm của tỉnh Bắc Ninh, CCN là nơi tập trung các đơn vị
chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo quyết định của UBND tỉnh. Bắc Ninh còn sử dụng khái niệm
“Cụm công nghiệp làng nghề” để nói đến các KCN nhỏ thuộc phạm vi quản lý

bằng đường lối, chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm gia tăng số lượng,
chất lượng, cơ cấu các khu, cụm công nghiệp, thu hút các nhà đầu tư của mọi
thành phần kinh tế vào sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội đất nước, địa phương trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật.
Phát triển khu, cụm công nghiệp được thể hiện trên 3 nội dung cơ bản là:
Phát triển số lượng các khu, cụm công nghiệp; phát triển các khu, cụm công
nghiệp về chất lượng và phát triển cơ cấu các khu, cụm công nghiệp theo yêu
cầu của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước,
địa phương trong từng thời kỳ.
1.1.2. Đặc điểm khu công nghiệp, cụm công nghiệp thành phố Hà Nội
* Đặc điểm khu công nghiệp
- Xét về mặt địa lý: KCN là phần lãnh thổ của đất nước, có diện tích tương
đối lớn. Mỗi một khu công nghiệp có diện tích rộng hàng trăm đến vài trăm hécta.
KCN thường cách xa khu dân cư và không cho phép dân cư sinh sống.
- Về mặt kinh tế:
Thứ nhất, KCN là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp, là
nơi tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp với sự tham gia đầu tư, sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các nguồn lực này
đóng góp vào phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính đơn giản, có
các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội tốt nên tại đây thuận lợi cho việc
sản xuất - kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực khác. Mục tiêu khi xây dựng
KCN là thu hút vốn đầu tư với quy mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm,


phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ và đặc biệt là kiểm soát ô
nhiễm môi trường.
Thứ hai, KCN là nơi tiếp nhận và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu
phát triển của khoa học công nghệ, kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản lý của

làm việc thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại.
KCN là một mô hình kinh tế đã được áp dụng phổ biến trên thế giới,
nhưng chỉ mới xuất hiện ở nước ta kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI. Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển các KCN Việt Nam đã khẳng
định là một lực lượng công nghiệp mạnh có đóng góp ngày càng lớn trong
công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như: góp phần làm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế.
* Đặc điểm cụm công nghiệp
Cụm công nghiệp cũng giống như khu công nghiệp là khu vực dành cho
sản xuất, kinh doanh dịch vụ không có dân cư sinh sống tuy nhiên xét về mặt
quy mô cụm công nghiệp có diện tích nhỏ hơn khu công nghiệp: "Cụm công
nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 ha. Trường hợp cần thiết phải mở
rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không
vượt quá 75 ha [24, tr.2].
Cụm công nghiệp do Ủy ban nhân dân tỉnh của các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương quyết định thành lập nhằm mục đích chủ yếu di dời, sắp xếp,
thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia
đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất kinh doanh.
* Phân biệt CCN với các KCN, KCX
- Điểm giống nhau:
Khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp có quan hệ mật thiết vì
chúng đều là hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ và nói chung chúng
giống về mục đích, nội dung hoạt động chỉ có khác nhau về mức độ, trình độ
phát triển.
- Điểm khác nhau:
Về quản lý: KCN, KCX do Nhà nước quyết định thành lập và quản lý.
CCN do chính quyền địa phương quyết định thành lập và quản lý và khác hoàn





ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từng
bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo cung cầu của nền kinh tế, giữ
vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu. Đã đầu tư phát
triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao. Khu vực dịch vụ có tốc độ
tăng trưởng ổn định, Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng
CNH, HĐH [1, tr.2].
Cùng với sự đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế của
nước ta, trong những năm qua không thể không kể đến sự đóng góp của việc
phát triển các KCN, CCN. Trên bình diện quốc gia, đã hình thành 6 vùng kinh
tế: Vùng trung du miền núi phía Bắc; vùng đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc
Trung bộ và Duyên hải miền Trung; vùng Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ và
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là
vùng động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước.
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây
dựng các KCN tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất
hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng. Điều
này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp,
giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp đồng thời phát triển nhanh hơn sản xuất hàng
hoá, hướng về xuất khẩu.
Tính đến tháng 12/2011 cả nước có 283 KCN được thành lập với tổng
diện tích đất tự nhiên 76.000ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho
thuê đạt gần 46.000ha, tỷ lệ lấp đầy 61% - 65%. Các KCN đang hiện diện tại
58 tỉnh, thành phố, được hình thành trên cơ sở phát huy lợi thế, tiềm năng của
các vùng kinh tế trọng điểm, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển công nghiệp
ở các địa phương. Nhờ phát triển mạnh các KCN, nhiều tỉnh, thành phố đã
đang nổi lên, trở thành khu vực có tốc độ tăng trưởng cao theo hướng CNH,

* Nâng cao năng lực công nghệ quốc gia và chất lượng nguồn nhân lực
Ngày nay, khoa học và công nghệ ở các nước trên thế giới đã phát
triển ở trình độ cao. Ở Việt Nam, trình độ khoa học công nghệ còn yếu


kém, chậm phát triển, nên cho dù một doanh nghiệp của nước ta có tiềm
lực về vốn lớn đến đâu cũng không thể tự túc mọi chi tiết sản phẩm để tạo
ra một sản phẩm hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, mà nếu có
sản xuất được thì cũng bất lợi về chi phí, làm tăng giá thành sản phẩm. Vì
vậy phát triển KCN, CCN là để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào các KCN, CCN cùng với những dây chuyền sản xuất với công nghệ
tiên tiến, hiện đại, trong đó có những dự án công nghiệp kỹ thuật cao,
những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển
như cơ khí chính xác, điện tử....
Tại các doanh nghiệp trong KCN, CCN đặc biệt là doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công
nghiệp sử dụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và
sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan tỏa và nâng cao trình độ tay
nghề của đội ngũ lao động địa phương lên một bước. Hiện tại, một số lượng
lớn người lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh
nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện
đại; các kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự… Được trực
tiếp làm việc trong môi trường có kỷ luật, yêu cầu tay nghề cao đã rèn luyện
được những kỹ năng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam
thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến và hiện đại.
Theo thống kê ở Việt Nam, nhìn chung các doanh nghiệp trong
KCN, CCN có các thiết bị và trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn so
với mặt bằng chung của cả nước. Nhiều công nghệ truyền thống được
nâng cấp về mặt kỹ thuật và trang bị trước khi đưa vào sản xuất sản phẩm,
nhiều công nghệ mới như công nghệ chế tạo sản phẩm cơ khí và cơ khí

Số lượng các KCN, CCN trên địa bàn phản ánh tiềm năng phát triển
cũng như kết quả quy hoạch, đầu tư xây dựng và phát triển các KCN, CCN để
thu hút vốn đầu tư, phát triển sản xuất CN-TTCN của địa phương.
* Diện tích khu, cụm công nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh số hécta (ha) đất được quy hoạch để xây dựng
KCN, CCN. Chỉ tiêu này cho phép chúng ta so sánh, phân loại các KCN, CCN
thành các loại lớn, trung bình và nhỏ tùy theo diện tích đất quy hoạch.
* Tỷ lệ diện tích được lấp đầy


Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả khai thác về việc sử dụng mặt bằng tại
các khu, cụm công nghiệp.
Diện tích đất đã cho thuê
% diện tích lấp đầy =

x 100%
Tổng diện tích đất khu, cụm CN

Chỉ tiêu này được đưa ra nhằm đánh giá tính hiệu quả việc khai thác và
sử dụng đất có ích trên tổng diện tích đất được cấp phép của khu, cụm CN.
Đồng thời qua đó có thể đánh giá, so sánh được thành công trong sự khai thác,
sử dụng giữa các khu, cụm CN với nhau.
* Tỷ lệ vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích đất khu, cụm CN
Tổng vốn đầu tư (tỷ đồng)
Tỷ lệ vốn đầu tư (tỷ đồng/ha) =
Tổng diện tích khu, cụm CN (ha)
Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá, so sánh hiệu quả thu hút vốn đầu tư
trên một đơn vị diện tích đất khu, cụm CN với nhau, từ đó có thể đánh giá được
tính hấp dẫn, thu hút đầu tư của các khu, cụm CN một cách chính xác.
* Số lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status