Giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên địa bàn thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 49

1

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ


VŨ ĐÌNH THẮNG

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2013


2

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ


VŨ ĐÌNH THẮNG

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số:

3.

CNKT

Công nhân kỹ thuật

4.

CSDN

Cơ sở dạy nghề

5.

ĐH

Đại học

6.

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

7.

HĐH

Hiện đại hóa


Tổ chức thương mại thế giới

15. XHCN

Xã hội chủ nghĩa


4

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

1

ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1
Những khái niệm cơ bản
1.2
Hệ thống tổ chức, nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO

10
10
20

TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
2.1
2.2

84
90
93
96

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, cùng
với quá trình đổi mới trong lĩnh vực GD&ĐT, dạy nghề đã được phục hồi,


5

từng bước được đổi mới và phát triển: Quy mô dạy nghề được mở rộng, chất
lượng dạy nghề được nâng cao, đa dạng hoá các loại hình, hình thức đào tạo,
bước đầu điều chỉnh cơ cấu cấp độ đào tạo, đổi mới nội dung chương trình,
phương pháp đào tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề được chú
trọng, đa dạng hoá và tăng cường nguồn lực dành cho dạy nghề, chất lượng
dạy nghề đã chuyển biến tích cực; đội ngũ lao động qua đào tạo nghề từng
bước đáp ứng được yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xuất khẩu
lao động.
Tuy nhiên, trong dạy nghề, quản lý nhà nước về đào tạo nghề còn một
số yếu kém trong quy hoạch phát triển, cụ thể là: Số lượng, chất lượng, cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu cấp trình độ đào tạo còn chưa đáp ứng được yêu cầu của
lao động trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; chương trình và phương pháp
đào tạo còn chậm đổi mới; đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng và còn yếu
về chất lượng; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề còn thiếu về số lượng và
lạc hậu về công nghệ; xã hội hoá dạy nghề còn chậm, thiếu đồng bộ; cơ chế;
chính sách về dạy nghề chậm được đổi mới; nguồn lực đầu tư còn hạn chế;
đặc biệt là bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo nghề chưa thật sự ổn định và

công tác đào tạo nghề và quản lý nhà nước về đào tạo nghề, đặc biệt là cơ cấu
bộ máy quản lý, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội và yêu cầu của doanh
nghiệp trên địa bàn Thành phố và các tỉnh lân cận. Hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật về đào tạo nghề và quản lý nhà nước về đào tạo nghề chưa
đầy đủ, còn rời rạc, ít nhiều cũng gây trở ngại trong hoạt động đào tạo nghề
và quản lý nhà nước về đào tạo nghề.
Do đó, chất lượng nguồn nhân lực Thành phố là yêu cầu khách quan
trong quá trình phát triển, đồng thời cũng là thách thức đối với Thành phố và
hệ thống giáo dục – đào tạo, trong đó có quản lý về đào tạo nghề, trong quá
trình CNH - HĐH.
Từ những lý do trên chúng tôi chọn vấn đề “Giải pháp quản lý nhà
nước về đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” để
nghiên cứu là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quán triệt và cụ thể các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước về phát triển giáo dục - đào tạo; trong những năm qua đã có rất
nhiều công trình khoa học, nhiều bài viết về đào tạo nghề, phát triển nguồn


7

nhân lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiêu
biểu như:
Hội thảo khoa học (2001): “Cơ cấu tổ chức và quản lý hệ thống giáo
dục kỹ thuật và dạy nghề ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010” do Tổng cục
Dạy nghề - Bộ LĐ- TB&XH chủ trì.
Đề tài khoa học (1998): “Các giải pháp tăng cường công tác đào tạo đội
ngũ CNKT công nghiệp của TP.HCM giai đoạn 2000 và 2005”. Đây là công
trình nghiên cứu của tập thể các giáo sư, chuyên viên, nhà quản lý, cán bộ
giảng dạy,… do tác giả Tạ Văn Doanh làm chủ nhiệm.


trình dạy nghề theo nhu cầu lao động, nâng cao năng lực giáo viên dạy nghề,
thiết lập hệ thống thông tin dạy nghề, xây dựng hoàn thiện các chính sách
nâng cao chất lượng dạy nghề, công tác người học nghề, nâng cao khả năng
đáp ứng nhu cầu xã hội của đào tạo nghề.
Đi từ nghiên cứu “Thực trạng quản lý đào tạo nghề các trường dạy
nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội” (Tạp chí Giáo dục, số 297/2012);
tác giả Nguyễn Thị Hằng đã chỉ ra thực trạng đào tạo nghề hiện nay như: Mức
độ phù hợp của chương trình đào tạo, thông tin về đào tạo và tư vấn cho học
sinh, quan hệ hợp tác giữa trường nghề và doanh nghiệp, đào tạo bồi dưỡng
cán bộ,... từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu từ thực trạng đã khảo sát.
Từ sự khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây, chúng tôi
nhận thấy:
Các công trình trên đã nghiên cứu các hướng, nội dung chính sau:
Nêu thực trạng công tác quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề
hiện nay còn những bất cập chồng chéo khi lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp có
hai bộ ngành cùng song trùng quản lý là Bộ GD&ĐT (quản lý hệ TCCN, cao
đẳng, ĐH) và Bộ LĐ-TB&XH (quản lý trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề
và cao đẳng nghề).
Đề xuất các chính sách nâng cao chất lượng đào tạo nghề: Tăng quyền
tự chủ cho các cơ sở đào tạo nghề; cải tiến chương trình và phương pháp đào
tạo, nâng cao năng lực giáo viên dạy nghề; tăng cường đầu tư thiết bị dạy
nghề; quy hoạch lại mạng lưới các CSDN; tăng cường sự liên kết giữa các
CSDN và doanh nghiệp nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
nhu cầu thị trường lao động.
Những công trình nghiên cứu và đề tài trên khá phong phú và đa dạng,
đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến công tác đào tạo nguồn
nhân lực. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đề cập nội dung rộng và còn
nhiều ý kiến khác nhau. Các giải pháp tổ chức và thực hiện đào tạo nguồn
nhân lực còn tản mạn. Đặc biệt chưa có công trình nào đề cập đến giải pháp

Giới hạn về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý nhà
nước về đào tạo nghề từ khi có chủ trương đổi mới đến nay; trong đó trọng tâm
là khảo sát, phân tích, thống kê số liệu đào tạo nghề giai đoạn 2008 - 2012.
5. Giả thuyết khoa học
Nâng cao chất lượng và phát triển số lượng các cơ sở đào tạo nghề phụ
thuộc vào sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Trong công tác quản lý nhà
nước về vấn đề này, nếu thường xuyên coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục


11

kết hợp với đổi mới tư duy, phương pháp quản lý; xây dựng, bổ sung hoàn
thiện cơ chế chính sách, các văn bản pháp quy và quy hoạch mạng lưới CSDN
phù hợp với nhu cầu của địa phương, coi trọng đúng mức quản lý chất lượng
đạo tạo nghề của các CSDN thì công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề trên
địa bàn Thành phố sẽ được nâng cao, góp phần thiết thực vào việc nâng cao
chất lượng đào tạo nghề theo quan điểm của Đảng.
6. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin; quán triệt và cụ thể hoá tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục - đào
tạo, quản lý giáo dục; trực tiếp là đào tạo và quản lý đào tạo nghề.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc;
quan điểm lịch sử - lôgíc và quan điểm thực tiễn để xem xét, phân tích những
vấn đề liên quan.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu liên quan tới lĩnh vực quản lý nhà nước về đào
tạo nghề, nguồn nhân lực, lao động, việc làm.

đào tạo nghề hàng năm của Sở LĐ-TB&XH, Tổng cục dạy nghề,… từ những
vấn đề đã và đang diễn ra nhằm đúc kết thành những kinh nghiệm về quản lý
nhà nước về đào tạo nghề tại TP.HCM hiện nay.
Phương pháp toán học
Sử dụng phương pháp toán học để thống kê, phân tích số liệu: Sử dụng
các phần mềm, toán thống kê để thống kê số liệu kết hợp phần mềm để phân
tích kết quả điều tra khảo sát và các số liệu có liên quan.
7. Ý nghĩa của đề tài
Vận dụng lý luận quản lý giáo dục nói chung vào quản lý nhà nước về
đào tạo nghề vào địa bàn TP.HCM.
Xây dựng khái niệm của đề tài.
Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về
đào tạo nghề tại TP.HCM nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển đào tạo nghề


13

phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH giai đoạn 2015 – 2020 và những năm sau đó
theo Nghị quyết Hội nghị BCH Đảng bộ TP.HCM lần IX đã xác định.
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn có cấu trúc bao gồm: Phần mở đầu; 3 chương (07 tiết); kết
luận và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.


14

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1. Những khái niệm cơ bản

kiến thức, nhận thức từ đơn giản nhất đến phức tạp.
Sáng tạo
Phân
tích

Tổng
hợp

Sự sáng tạo trong thực tế
Đánh
giá

- Vận dụng vào thực tế, làm chủ tri thức
- Khả năng tổng hợp, khái quát hóa
- Khả năng phân tích, suy luận

h
Áp dụng

Hiểu
Nhớ

Các cấp độ phát triển

Thể hiện sự hiểu biết qua các tình
huống tự nhiên, cụ thể
Nắm được ý nghĩa, bản chất, quy luật,
đặc tính …
Chỉ nhớ, nhắc lại các sự kiện, khái
niệm, những vấn đề cụ thể

Trong quá trình đào tạo cần chú ý đào tạo cả ba lĩnh vực: Kiến thức, kỹ
năng, thái độ; đồng thời phải hướng dẫn cho người học khả năng tự tìm việc,
tự tạo việc làm và tự trao dồi chuyên môn để có thể thích ứng với sự tiến bộ
nhanh của khoa học công nghệ.
Các doanh nghiệp muốn có những công nhân biết thực hiện các kỹ năng
cần thiết trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Người công nhân phải có khả
năng giải quyết các vấn đề, điều chỉnh được các quy trình và hợp tác với đồng
nghiệp để tìm ra những giải pháp thích hợp. Người công nhân phải thấy được
mối tương quan giữa mọi kỹ năng với nhiệm vụ, công việc được giao. Một
công nhân như vậy là phải vừa thành thạo vừa rất tự tin trong công việc.
Theo tác giả Phan Chính Thức, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy
nghề (Bộ LĐ-TB&XH) thì đào tạo nghề là quá trình phát triển có hệ thống
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp và khả năng tìm được việc
làm, tự tạo việc làm [33, tr.23].
Từ các cách tiếp cận trên đây cho thấy, đào tạo nghề là quá trình cung
cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết của một nghề
cụ thể và những kỹ năng hội nhập trong môi trường doanh nghiệp để có thể
thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc được giao hoặc tự tạo
việc làm trong phạm vi nghề nghiệp đó.
Theo các quy định hiện hành, đào tạo nghề hiện nay có ba trình độ là sơ
cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề:
Mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp là nhằm trang bị cho người học năng
lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc
của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong


17

công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt
nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình

18

Dạy nghề chính quy: Được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề,
trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các CSDN theo các khóa học tập trung và
liên tục.
Dạy nghề thường xuyên: Được thực hiện với các chương trình dạy nghề
theo quy định của Luật Dạy nghề. Dạy nghề thường xuyên được thực hiện
linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu
của người học nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng
cao trình độ kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo
cơ hội việc làm, tự tạo việc làm.
Giữa giáo dục hàn lâm và đào tạo nghề có nhiều điểm chung nhưng
cũng có những điểm khác biệt. Giáo dục hàn lâm nhằm mục tiêu phát triển
toàn diện nhân cách, những năng lực rộng; còn đào tạo nghề nhằm mục tiêu
hình thành năng lực thực hiện cụ thể và những công việc định hướng.
C.Ia.Batusep đã viết: “Giáo dục và giáo dục học nghề nghiệp có những khác
biệt. Dạy thực hành (dạy sản xuất) trong các trường dạy nghề là một đặc
điểm, chính việc dạy thực hành là một bộ phận quan trọng nhất của giáo dục
kỹ thuật nghề nghiệp. Giáo dục nghề nghiệp vừa phát triển, song vừa phụ
thuộc vào giáo dục hàn lâm trong một mức độ nào đó” [2, tr.27]. Đào tạo
nghề khác với giáo dục hàn lâm ở những điểm chủ yếu sau:
Đào tạo nghề gắn chặt với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc
biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường;
Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao,
chiếm từ 70% thời gian học trở lên, có những nghề chiếm tới 90 - 100%.
Đối tượng học nghề: Những người trưởng thành, thậm chí đã lớn tuổi.
1.1.2. Cơ sở dạy nghề
Theo Luật Dạy nghề hiện hành, CSDN bao gồm: Trung tâm dạy nghề;
trường trung cấp nghề; trường cao đẳng nghề; trường TCCN, trường cao
đẳng, trường ĐH có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề,

dung quan trọng trong quản lý nhà nước về dạy nghề.
1.1.3. Quản lý nhà nước về đào tạo nghề
Một số nhà nghiên cứu hành chính, luật pháp cho rằng: Quản lý nhà
nước về dạy nghề là sự tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước
bằng quyền lực nhà nước đối với toàn bộ hoạt động dạy nghề của một quốc


20

gia nhằm định hướng, thiết lập trật tự kỷ cương của hoạt động dạy nghề,
hướng đến mục tiêu và yêu cầu của sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Quản lý nhà nước về đào tạo nghề là
sự tác động có tổ chức và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các
hoạt động dạy nghề, do các cơ quan quản lý dạy nghề của Nhà nước từ T.W
đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền
nhằm phát triển sự nghiệp dạy nghề, duy trì trật tự, kỷ cương, thỏa mãn nhu
cầu đựơc đào tạo nghề của lao động xã hội và thực hiện mục tiêu phát triển
sự nghiệp dạy nghề của Nhà nước.
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề là việc các cơ quan nhà nước thực
hiện quyền lực công để điều hành, điểu chỉnh toàn bộ các hoạt động đào tạo
nghề trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu dạy nghề của Nhà nước.
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề là sự quản lý hệ thống dạy nghề về
mục tiêu chương trình, nội dung, kế hoạch dạy nghề, tiêu chuẩn giáo viên,
quy chế kiểm tra, thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ.
Có thể chia quản lý đào tạo nghề trên hai phương diện: Quản lý nhà
nước về đào tạo nghề và quản lý sự nghiệp trong các CSDN. Trong quản lý
đào tạo nghề cần có sự phân định rõ hai phương diện quản lý và kết hợp chặt
chẽ cả hai phương diện để phát triển sự nghiệp dạy nghề.
Vai trò của quản lý nhà nước về dạy nghề được thể hiện ở vị trí quan
trọng trong việc tạo lập và phát triển được nguồn lực quyết định nhất cho sự

từng giai đoạn phát triển; làm cho tất cả các hoạt động đào tạo nghề đi vào kỷ
cương, trật tự; đảm bảo sự công bằng trong đào tạo nghề thông qua hệ thống
chính sách về dạy nghề, tạo cơ hội cho mọi người có điều kiện tham gia vào
quá trình đào tạo nghề; đảm bảo những điều kiện vật chất cho sự nghiệp đào
tạo nghề phát triển.
Nhà nước là người đầu tư và đồng thời là người đặt hàng lớn nhất cho
đào tạo nghề.
Nguyên tắc quản lý nhà nước về đào tạo nghề là tổng thể những tư
tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính
nhà nước. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đào tạo nghề là tư tưởng xuất phát
làm cơ sở cho tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước về
đào tạo nghề.
Quản lý nhà nước về dạy nghề được thực hiện theo hai nguyên tắc cơ bản:
Một là, nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.


22

Quản lý theo ngành là quản lý của một cơ quan hành chính nhà nước,
T.W (Bộ, Tổng cục…) đối với toàn ngành trên phạm vi cả nước trên những
mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, tài chính,… nhằm bảo đảm
sự thống nhất của ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân và trong toàn xã
hội để khai thác hợp lý nhất mọi tiềm năng và đạt được năng suất và hiệu quả
tối ưu.
Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh tế,
văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hoặc hoạt động với mục đích
giống nhau nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển
một cách đồng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được với yêu cầu của Nhà nước và
nhu cầu của xã hội.
Quản lý theo ngành là liên hiệp hoặc hợp nhất các đơn vị kinh tế, văn

cơ sở chủ động, sáng tạo trong việc triển khai các hoạt động đào tạo nghề và
quản lý dạy nghề cụ thể, tránh việc ôm đồm hoặc buông lỏng trên cơ sở phân
cấp, phân quyền về quản lý dạy nghề rõ ràng bằng một hành lang pháp lý hợp
lý, đồng bộ. Đối với cơ sở, phát huy quyền làm chủ của tập thể sư phạm, đồng
thời đề cao trách nhiệm cá nhân theo chế độ thủ trưởng đối với việc quản lý
nhà nước. Dân chủ hóa giáo dục là tư tưởng lớn, tuy nhiên việc dựa vào các
văn bản pháp luật, pháp quy để đảm bảo quyền và nghĩa vụ đối với mọi đối
tượng tham gia hoạt động dạy nghề là điều cần nắm chắc khi triển khai
nguyên tắc tập trung dân chủ ở cơ sở.
Nội dung cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ là phát huy quyền
chủ động của CSDN dựa trên hành lang pháp lý được quy định bởi Luật Giáo
dục, Luật Dạy nghề và những văn bản pháp quy trong hoạt động quản lý dạy
nghề, đồng thời nâng cao tinh thần cá nhân phụ trách, tập thể lãnh đạo và phát
huy dân chủ của tập thể theo quy chế dân chủ cơ sở.
1.1.4. Giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề
Giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề là những ý tưởng của các
cấp quản lý giải quyết các vấn đề trong toàn bộ quá trình đào tạo nghề (về mô
hình quản lý, mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, thiết bị - cơ sở vật
chất, …), xây dựng quy chế, quy định tạo hành lang pháp lý, trao quyền tự
chủ cho các CSDN, nhằm tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề cao (kỹ năng
nghề, tư duy sáng tạo,…) và có phẩm chất đạo đức tốt (thái độ, tác phong lao
động, kỹ năng mềm,…) đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa và
phát triển xã hội.


24

Giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo nghề gồm các giải pháp nhằm
thực hiện tốt chức năng quản lý quá trình đào tạo nghề, quản lý các nhân tố
trong quá trình đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo nghề.

về việc thực hiện ngân sách giáo dục.

Chính phủ
Bộ LĐ-TB&XH

UBND tỉnh,
thành phố
Sở LĐ-TB&XH

Cơ sở đào tạo
thuộc Bộ

Các CSDN
thuộc tỉnh, thành
phố

Các CSDN
thuộc huyện,
quận

UBND huyện,
quận

Phòng LĐTB&XH

(Hình 3: Mô hình hóa tổ chức bộ máy dạy nghề)
Cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở T.W chịu trách nhiệm trước
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề. Bộ LĐ-TB&XH chịu
trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề. Theo
Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ v/v quy định chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status