HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ HÙNG PHƯƠNG
Hà Nội, tháng 4 năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn
rõ ràng
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Bích Thủy
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản
thân, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, hướng dẫn
và đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia
đình trong suốt khóa cao học và thời gian nghiên cứu đề tài.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Vũ Hùng
Phương, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy/ Cô Khoa Quản
lý Kinh tế Học viện Chính trị Khu vực I về những lời nhận xét, đóng
góp quý báu đối với bản luận văn.
Do thời gian và trình độ còn hạn hữu, nên bản luận văn này
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM 6
1.1. Giảm nghèo và sự cần thiết tăng cường quản lý nhà nước đối với
giảm nghèo 6
1.1.1. Quan niệm về nghèo và giảm nghèo 6
1.1.2. Chuẩn nghèo và các tiêu chí đánh giá 10
1.1.3. Quản lý Nhà nước đối với giảm nghèo 17
1.1.4. Sự cần thiết của quản lý Nhà nước đối với giảm nghèo 22
1.2. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước đối với giảm nghèo ở
Việt Nam 27
1.2.1. Chủ thể quản lý nhà nước đối với giảm nghèo ở Việt Nam 27
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với giảm nghèo ở Việt Nam 29
1.3 Kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với xóa đói giảm nghèo tại
một số địa phương 33
1.3.1 Tỉnh Vĩnh Phúc 33
1.3.2 Tỉnh Tuyên Quang 34
1.3.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với giảm nghèo
của huyện Đoan Hùng 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ 37
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tác động đến giảm nghèo ở
huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 37
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 37
v
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1. Tỷ lệ hộ nghèo huyện Đoan Hùng giai đoạn 2010-2014 42
Bảng 2.2. Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Đoan Hùng so với toàn tỉnh năm
2014 43
Bảng 2.3. Tỷ lệ hộ nghèo các xã, thị trấn huyện Đoan Hùng giai đoạn
2010 - 2014 44
Bảng 2.4. Tổng dư nợ các chương trình tín dụng năm 2014 65
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ trẻ đến lớp và phòng học kiên cố hóa của các bậc học
năm 2014 40
Biểu đồ 2.2. Nguyên nhân nghèo của các hộ gia đình huyện Đoan Hùng 49
Biểu đồ 2.3. Nguyện vọng của các hộ nghèo huyện Đoan Hùng 50
Biểu đồ 2.4: Đánh giá chất lượng QLNN đối với hoạt động giảm nghèo
huyện Đoan Hùng 73
Biểu đồ 2.5: Đánh giá thực trạng tổ chức kiểm tra, giám sát chương
trình.giảm nghèo huyện Đoan Hùng 75
Sơ đồ 1.1. Chủ thể hoạt động giảm nghèo ở Việt Nam 28
Sơ đồ 2.1. Mô hình cơ cấu tổ chức bộ máy chỉ đạo, tổ chức thực
hiện chương trình giảm nghèo huyện Đoan Hùng 57
vii
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về
tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất cho xã hội, sự
giàu có cho con người, thì vẫn tồn tại sự nghèo đói tại nhiều nơi trên trái đất.
nhiều thành tựu đáng khích lệ. Trên địa bàn Huyện không còn trường hợp hộ
đói, tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 20,34% năm 2010 xuống 9,7% năm 2014. Tuy
nhiên đây vẫn là tỷ lệ cao so với mặt bằng chung của tỉnh Phú Thọ nói riêng
và của các tỉnh khác trong cả nước nói chung.
Qua thực tế triển khai cho thấy thành công của chương trình giảm nghèo
phụ thuộc rất nhiều vào chính sách tác động thúc đẩy của nhà nước, của các
cấp chính quyền đối với hoạt động giảm nghèo. Đặc biệt đối với huyện Đoan
Hùng, tỉnh Phú Thọ, một tỉnh miền núi nghèo, việc tăng cường quản lý nhà
nước về giảm nghèo là một yêu cầu mang tính cấp thiết hiện nay.
Qua nghiên cứu, phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động
giảm nghèo trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, Tác giả lựa chọn đề
tài Luận văn “Giải pháp quản lý nhà nước đối với giảm nghèo trên địa bàn
huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” với mong muốn sẽ đóng góp một phần
nhỏ về mặt lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện có hiệu quả công tác giảm
nghèo trên địa bàn huyện, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo một cách bền vững.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: phân tích một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước
(QLNN) đối với giảm nghèo và đánh giá thực trạng QLNN đối với giảm
nghèo ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ từ đó đề xuất một số giải pháp tăng
cường QLNN đối với hoạt động giảm nghèo ở huyện Đoan Hùng hiện nay.
- Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lý luận về QLNN đối với giảm nghèo ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng QLNN đối với giảm nghèo trên địa bàn huyện
Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất một số giải pháp QLNN đối với giảm nghèo trên địa bàn huyện
Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
tỉnh, huyện (ban hành,
tuyên truyền…)
- Tổ chức thực hiện
chương trình giảm nghèo
(bộ máy, các nguồn lực,
kiểm tra, giám sát…)
Mục tiêu
Quản lý Nhà nước
về giảm nghèo
tiến hành điều tra, khảo sát, phỏng vấn thu thập thông tin từ 03 đối tượng:
người dân; đại diện lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể;
cán bộ của các cơ quan huyện Đoan Hùng thực hiện các hoạt động QLNN, tổ
chức thực hiện chính sách giảm nghèo cấp huyện và cơ sở.
Để thiết kế mẫu phiếu điều tra, Tác giả đã nghiên cứu và xây dựng các
câu hỏi liên quan đến đề tài nghiên cứu. Tiếp đến, bằng phương pháp chuyên
gia, Tác giả tham khảo ý kiến của 15 cán bộ đã và đang đảm nhiệm công tác
xóa đói giảm nghèo tại huyện Đoan Hùng để hoàn thiện phiếu điều tra cho ba
đối tượng đã nêu ở trên.
Thông qua cán bộ cơ sở tại các xã, phiếu điều tra đã được gửi đến 150
hộ dân và 120 cán bộ các cơ quan của Huyện, cơ sở đảm nhiệm QLNN về
giảm nghèo. Trong tổng số 150 phiếu được gửi các hộ dân thì đã có 110 phiếu
được gửi về và trong 120 phiếu của đối tượng cán bộ thì có 93 phiếu gửi lại.
Trong tổng số 110 người trả lời câu hỏi điều tra, giới tính nam chiếm
46,4%, giới tính nữ chiếm 56,4%; dân tộc thiểu số chiếm 17,2%, dân tộc kinh
82,8; số người tuổi dưới 35 chiếm 24,5% và trên 35 tuổi chiếm 75,5%.
Trong số 93 người thuộc đối tượng cán bộ được điều tra, nữ chiếm
27,9%, nam chiếm 72,1%;cán bộ có tuổi dưới 35 là 21,5%, từ 35 tuổi trở lên
chiếm 78,5.
Số liệu thu thập được từ các phiếu điều tra đã được Tác giả xử lý bằng
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động giảm
nghèo ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với giảm nghèo trên địa
bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhà nước đối với giảm nghèo trên
địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
1.1. Giảm nghèo và sự cần thiết tăng cường quản lý nhà nước đối
với giảm nghèo
1.1.1. Quan niệm về nghèo và giảm nghèo
Đói nghèo là lực cản đối với sự phát triển bền vững của toàn nhân loại.
Cuộc đấu tranh chống lại nghèo đói, vì vậy, luôn được đặt vào trung tâm
trong mọi chương trình hành động quốc gia và quốc tế.
Đói nghèo, hiểu theo nghĩa chung, là tình trạng thiếu hụt những điều
kiện cần thiết để đảm bảo mức sống tối thiểu của một cá nhân hay một cộng
đồng dân cư. Theo cách hiểu này, đói nghèo là tình trạng thiếu hụt những điều
kiện vật chất như: thức ăn, nước uống, quần áo… Đói nghèo cũng có thể là
tình trạng thiếu hụt những điều kiện về mặt xã hội như: giáo dục, chăm sóc
sức khỏe, cung cấp thông tin, quan hệ cộng đồng. Trong xã hội phát triển, sự
thiếu hụt còn có thể bao hàm cả tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng.
Tháng 9/1993, tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế xã
hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Bangkok, Thái Lan các
quốc gia trong khu vực cho rằng: “Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận
dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, mà
những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh
tế - xã hội (KTXH) và phong tục tập quán của địa phương”. Đây được xem
chi tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả
năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác
định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và phí
lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở
nước này hoặc nước khác.
7
Theo khía cạnh kinh tế: nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực
và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu
là trong lĩnh vực kinh tế.
Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,
một vùng.
Nhìn chung, qua các quan niệm định nghĩa nêu trên, có thể hiểu nghèo
đói phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo, đó là:
+ Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành
cho con người;
+ Có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng dân cư;
+ Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng
đồng.Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo, nhưng các quan niệm
đó đều được phản ánh trên các khía cạnh: Không có hoặc ít được hưởng thụ
những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người; mức sống
thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư địa phương; thiếu hoặc
không có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
Hiện nay ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm
riêng biệt.
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu
và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là
giảm xuống. Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân
cư nghèo lên một mức sống cao hơn.
- Xóa đói giảm nghèo: xóa đói giảm nghèo là một phàn quan trọng nằm
trong chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia, là tổng thể các biện pháp
chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc
diện nghèo đói, nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình
trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn
nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia.
9
1.1.2. Chuẩn nghèo và các tiêu chí đánh giá
Nghèo đói là một khái niệm động, có thể thống nhất về mặt định tính
song không thể thống nhất về mặt định lượng, không thể quan niệm chung
cho tất cả các quốc gia vì nghèo đói phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã
hội, lịch sử, nhu cầu phát triển của con người. Mỗi quốc gia khác nhau thì
có mức sống của người dân khác nhau hoặc ngay trong một quốc gia mức
sống giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau. Hơn nữa mặt định lượng
của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động
về sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó. Có rất nhiều trường hợp với
mức thu nhập và nhu cầu chi dùng ở một vùng, một quốc gia này được xem
là nghèo đói, nhưng ở một vùng, một quốc gia khác lại không mang ý
nghĩa là nghèo đói. Ngay trong một vùng, một quốc gia cũng có sự khác
nhau giữa các thời kỳ. Vì vậy mỗi quốc gia sẽ tự khảo sát và xây dựng một
thước đo mức độ đói nghèo riêng thông qua những tiêu chí cụ thể được xác
định và gọi đó là chuẩn nghèo.
Khái niệm về chuẩn nghèo: chuẩn nghèo (hay còn gọi là đường nghèo,
ngưỡng nghèo, hoặc tiêu chuẩn nghèo) là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình
quân đầu người mà một quốc gia quy định dùng để làm tiêu chuẩn để xác
định người nghèo hoặc hộ nghèo. Theo đó: Những người hoặc những hộ có
thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi
Châu Phi (có 80% dân số nghèo), khu vực Nam Á (có khoảng 79% dân số
nghèo), khu vực Trung Đông - Bắc Phi (có khoảng 61% dân số nghèo)
1
.
Liên Hiệp Quốc đưa ra chỉ số về Phát triển con người HDI (Human
Devepopment Index) để kiểm soát, đánh giá sự tiến bộ, phát triển trong con
người qua hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ trung bình từ lúc sinh, tỷ lệ người lớn
biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục và thu nhập bình quân đầu người
theo sức mua tương đương (PPP). Căn cứ vào chỉ tiêu này ta có thể có sự
đánh giá khá toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc
gia, nhìn nhận các nước giàu nghèo khá chính xác và khách quan.
1
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, năm 2005
11
Năm 2014, Việt Nam đạt tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu
người 2028 USD/người/năm
2
, thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình; chỉ
số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đứng thứ 121/187 quốc gia và
lãnh thổ, cao hơn thứ hạng GDP rất nhiều. Điều đó chứng tỏ đời sống của
nhân dân được cải thiện nhanh hơn mức tăng trưởng GDP và tình trạng nghèo
đói cũng giảm.
* Tiêu chí chuẩn nghèo của Việt Nam
Ở Việt Nam có 2 tiêu chí xác định chuẩn nghèo khác nhau áp dụng bởi
hai tổ chức khác nhau đó là: chuẩn nghèo do WB và Tổng cục Thống kê đưa
ra để đánh giá đói nghèo dưới góc độ vĩ mô, dựa theo mức chi tiêu thông qua
các cuộc điều tra mức sống dân cư; chuẩn nghèo do Bộ lao động - Thương
binh và Xã hội đưa ra để áp dụng trong công tác giảm nghèo theo tiêu chí thu
nhập bình quân đầu người.
Chuẩn nghèo lần 1: được ban hành vào năm 1993, theo đó:
+ Hộ đói là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
8kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn và dưới 13kg/người/tháng đối với
khu vực thành thị.
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
15kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn và dưới 20kg/người/tháng đối
với khu vực thành thị.
Chuẩn nghèo lần 2: được ban hành năm 1995, trong đó quy định:
+ Hộ đói là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
13kg/người/tháng tính cho mọi vùng.
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
15kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dưới
20kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du, và dưới
25kg/người/tháng đối với khu vực thành thị.
Chuẩn nghèo lần 3: được ban hành vào năm 1997, theo Thông báo số
1751/LĐTBXH quy định:
+ Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân quy gạo dưới 13kg/người/tháng,
tương đương với 45.000 đồng tính cho mọi vùng.
13
+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân quy gạo dưới
15kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng, tính cho khu vực nông thôn
miền núi và hải đảo, dưới 20kg/người/tháng, tương đương 70.000 đồng, tính
cho khu vực nông thôn đồng bằng và trung du, và dưới 25kg/người/tháng,
tương đương với 90.000 đồng, tính cho khu vực thành thị.
Chuẩn nghèo lần 4: được ban hành năm 2000, theo Thông báo số
1143/LĐTBXH ngày 01/11/2000, quy định:
Bỏ tiêu chí xác định hộ đói, giữ tiêu chí xác định hộ nghèo, không dựa
vào thu nhập lương thực quy gạo mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt
Nam. Trong đó, hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới 80.000
3
. Bộ chỉ số nghèo đa chiều gồm 8 trụ cột: thu nhập; giáo dục; y tế; tiếp cận
hệ thống an sinh xã hội; chất lượng và diện tích nhà ở; dịch vụ nhà ở; tham gia các
hoạt động xã hội; và an toàn xã hội (môi trường, tệ nạn xã hội).
Chuẩn nghèo đa chiều, là tiêu chí đo lường sự thiếu hụt các nhu cầu cơ
bản của mỗi con người, phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi
quốc gia, trong từng giai đoạn nhất định. Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội đã ban hành các tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều, nghèo thu nhập vào quý
1/2015 để triển khai đánh giá nghèo đa chiều trên toàn quốc năm 2015. Trong
quá trình chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang
đa chiều, chuẩn nghèo đa chiều và chuẩn nghèo thu nhập sẽ được sử dụng
song song. Chuẩn nghèo đa chiều khi được áp dụng sẽ đo lường được mức độ
thiếu hụt các nhu cầu về giáo dục, y tế, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, bảo
hiểm và trợ giúp xã hội… của từng hộ gia đình, từng địa phương. Từ những
kết quả đó, các địa phương sẽ có những phương án phân bổ ngân sách cho
công tác giảm nghèo hiệu quả hơn, đồng thời đó cũng là cơ sở để các nhà
hoạch định chính sách có thể thiết lập thứ tự ưu tiên trong việc đầu tư cơ sở
hạ tầng, y tế, giáo dục…
- Tiêu chí xác định xã nghèo: tiêu chí xác định xã nghèo cũng được
thay đổi theo thời gian
3
Bộ chỉ số do Viện nghiên cứu vấn đề nghèo đói và sáng kiến phát triển con người của đaị học Oxford đưa ra
15
Năm 1998, Ủy Ban dân tộc và Miền núi đã sử dụng tiêu chí này để xác
định các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135. Trong đó quy định xã
nghèo là xã có đủ 5 tiêu chí sau:
+ Các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cách thành phố, thị xã, khu
công nghiệp, trung tâm thương mại, quốc lộ, tỉnh lộ trên 10km.
+ Không có đường ô tô vào xã; các công trình điện, thủy lợi, nước sạch,
của đời sống xã hội.
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn
đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động
cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của
toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ
quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một
dàn nhạc phải có nhạc trưởng”
4
.
Theo quan điểm này quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để
đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Mác đã tiếp cận
khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý.
Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay:
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi
hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới
mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý.
Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động
của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp
cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý.
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác
4
Các Mác - Ph. Ăng ghen, toàn tập, tập 23, trang 23
17