Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng tại thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 49

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ


NGUYỄN THANH TRƯỜNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
LÀM CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2013


BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ


NGUYỄN THANH TRƯỜNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
LÀM CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số

: 60 14 01 14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS NGUYÔN V¡N

Nguyễn Thanh Trường


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1.

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

2.

Cán bộ làm công tác Thi đua, Khen CB TĐKT
thưởng
Kinh tế - xã hội
KT-XH

3.

Quản lý giáo dục

QLGD

4.

Thành phố Hồ Chí Minh

TP.HCM


3.1. Yêu cầu xây dựng biện pháp
3.2. Hệ thống biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng cán
bộ làm công tác thi đua, khen thưởng tại Tp. Hồ Chí
Minh hiện nay
3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
8
12
12
25
32

35

35
42

57
57
64
75
81
85
89



4
Tuy nhiên, để vận hành được bộ máy thi đua khen thưởng phải có một
lực lượng cán bộ có năng lực và phẩm chất tốt. Tại Kết luận số 83-KL/TW
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tiếp tục đổi mới,
đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân
điển hình tiên tiến, đã chỉ ra các nhiệm vụ chính yếu đáp ứng cho công tác thi
đua, khen thưởng hiện nay đã đề cập đến vấn đề tổ chức, bộ máy làm công tác
thi đua, khen thưởng: “có kế hoạch tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực
cán bộ, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ công tác thi đua, khen thưởng
trong thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế”. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã
ban hành Chỉ thị số 06/CT về tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước
năm 2012, trong đó có các nội dung đề cập đến tính cấp thiết của công tác bồi
dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng: “Nâng cao
chất lượng công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng và công tác
tham mưu đề xuất của tổ chức bộ máy và CB TĐKT, đáp ứng yêu cầu lãnh
đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện phong trào thi đua, công tác
khen thưởng trong giai đoạn mới”.
Những năm qua công tác bồi dưỡng CB TĐKT của TP.HCM, tuy đã
được quan tâm thực hiện, song nhìn chung kết quả chưa được như mong
muốn và còn nhiều bất cập về khâu quản lý, nhất là khâu xây dựng và tổ chức
triển khai kế hoạch, công tác đảm bảo, đội ngũ giáo viên, hình thức và
phương pháp bồi dưỡng… Thực tiễn đó đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu
quả công tác thi đua khen thưởng của Thành phố, điều đó đã thúc đẩy chúng
tôi lựa chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT Thành phố
Hồ Chí Minh ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, đây là vấn đề cấp thiết, có ý
nghĩa, giá trị thực tiễn và chưa có công trình nào nghiên cứu.


5

Trong quá trình tổ chức, phát động phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa,
Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô viết sẽ phát hiện ra những nhân tài thực sự
để đề bạt vào những chức vụ cao trong bộ máy quản lý của Nhà nước. Do đó,
có thể thấy, công tác cán bộ, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho phong trào thi
đua là một trong những yếu tố tiên quyết để hình thành và phát động phong
trào thi đua xã hội chủ nghĩa thời bấy giờ.
Việc tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa có xét đến đặc điểm các loại lao
động, lợi ích, nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích nghề nghiệp của người lao động.
Trong thế giới hiện đại, thi đua xã hội chủ nghĩa không tách rời cách mạng
khoa học - công nghệ mà bao trùm tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.
Vì thế, thành phần xã hội của những người tham gia thi đua cũng trở nên đa
dạng. Mô hình của Liên Xô trước đây được xem là một thí dụ điển hình trong
việc tổ chức các phong trào thi đua khen thưởng. Thi đua xã hội chủ nghĩa đã
thực sự là một động lực thúc đẩy Liên Xô phát triển thành một siêu cường trên
thế giới. Đến khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở đó bị lâm vào khủng hoảng, thì
cũng là lúc, thi đua xã hội chủ nghĩa bị xem thường và trở nên hình thức, sinh
ra nhiều tiêu cực. Đây được xem như một bài học đối với việc tổ chức phong
trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng ở nước ta hiện nay.
Ở Việt Nam: Thấm nhuần tư tưởng các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác -Lênin về cán bộ và vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của người cán bộ
cách mạng; ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ của Đảng. Với tư tưởng: “Cán bộ
là cái gốc của mọi công việc”; “Công việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém”. Người đã trực tiếp mở trường đào tạo cán bộ và trực tiếp
giảng dạy, huấn luyện cán bộ, đào tạo cán bộ cách mạng tiền bối của Đảng ta.
Thực tiễn Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã chứng minh, thắng lợi là
do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đào tạo, bồi dưỡng được cán bộ, đảng


7

luyện hẳn hoi”, đây là thư gửi cụ Tôn Đức Thắng, Trưởng ban Trung ương
vận động thi đua ái quốc, bức thư được viết vào tháng 11 năm 1948, sau 05
tháng Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc. Điều đó cho thấy vấn đề
cán bộ thi đua nói chung và bồi dưỡng cán bộ thi đua nói riêng là một trong
những yêu cầu tiên quyết để hình thành, phát động và đẩy mạnh phong trào
thi đua ái quốc và công tác khen thưởng.
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, năng lực cán bộ,
công chức nói chung và cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng
nói riêng từ trước đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
và đây cũng là lĩnh vực được chọn làm đề tài nghiên cứu của các chuyên
ngành về quản lý giáo dục, công tác cán bộ và công tác quản lý hành chính.
Có thể đưa ra một số công trình, đề tài và bài viết tiêu biểu của các tác giả có
liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn này.
- Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ: Đổi mới tổ chức và hoạt động của
chính quyền cấp xã trong tiến trình cải cách hành chính, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2002.
- Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm: Luận cứ khoa học cho việc
nâng cao chất lượng cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
- Lê Chi Mai: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở - vấn đề và
giải pháp (Tạp chí Cộng sản số 20/2002).
- Bùi Thiện Tích: Đảm bảo nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị ở
TP.HCM đến năm 2005, TP.HCM, 2002.
- Lê Thị Vân Hạnh: Đào tạo, bồi dưỡng công chức để nâng cao năng
lực thực thi (Tạp chí quản lý nhà nước số 103/2004).
- Đề tài độc lập cấp Nhà nước: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới
công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay" của Trần Thị Hà, Ban
TĐKT Trung ương, Bộ Nội vụ, năm 2013.




10
Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan công quyền nói chung, cán
bộ làm công tác thi đua, khen thưởng nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Song, nếu các chủ thể quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trách
nhiệm; các văn bản, quy chế, quy định thường xuyên được xây dựng và hoàn
thiện; hoạt động quản lý được kế hoạch hóa một cách khoa học, các nội dung
và phương pháp quản lý luôn được thực hiện và đổi mới, phát huy tinh thần tự
bồi dưỡng của cán bộ thi đua, khen thưởng …thì hoạt động bồi dưỡng cán bộ
thi đua, khen thưởng ngày càng hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng
công tác khen thưởng và phong trào thi đua ái quốc tại TP.HCM hiện nay.
6. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên những luận điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về
giáo dục, quản lý giáo dục và phong trào thi đua yêu nước. Đồng thời vận
dụng các quan điểm hệ thống, cấu trúc, lôgíc, lịch sử và quan điểm thực tiễn
để xem xét, phân tích những vấn đề liên quan.
Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để hoàn thành đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp
phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lý luận liên quan
đến đề tài như: một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt
Nam, văn bản pháp luật của Nhà nước, quy chế, quy định của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Nội vụ, Ban TĐKT Trung ương và quản lý bồi dưỡng cán bộ,
công chức; Luật Giáo dục; Luật Công chức; Luật TĐKT và các giáo trình,
sách tham khảo, tài liệu về khoa học quản lý và quản lý giáo dục; các công
trình nghiên cứu, báo khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn




12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng
Cán bô
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ
công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta
đã đưa ra các cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công
chức" và "viên chức".
Thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa
và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước
và tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, để xác định cụ
thể những tiêu chí nào là cán bộ thì từ trước đến nay chưa có văn bản nào quy
định chính thức. Thuật ngữ "công chức", "viên chức" thường được hiểu một
cách khái quát là những người được Nhà nước tuyển dụng, nhận một công vụ
hoặc một nhiệm vụ nhất định, do Nhà nước trả lương và có nghĩa vụ, bổn phận
phục vụ nhân dân, phục vụ Nhà nước theo các quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ,
công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt
động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức; viên
chức. Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 (đã sửa
đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ như Luật Tổ chức Chính phủ; Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật Bình đẳng giới; Luật
Giáo dục;.....) đều có những điều, khoản sử dụng các thuật ngữ"cán bộ",
"công chức", "viên chức", nhưng chưa có một văn bản luật nào giải thích các



14
bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ
công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”.
Tiêu chuẩn cán bô làm công tác thi đua, khen thưởng
Căn cứ vào tiêu chuẩn chung cho cán bộ mà Nghị quyết Trung ương 3,
khóa VIII đó xác định và những bổ sung của Nghị quyết Trung ương 9, khóa
X, là: “ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn,
đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
được giao”. Ngoài những yêu cầu trên, cần bổ sung tiêu chuẩn về (trình độ
ngoại ngữ, luật pháp, tin học; khả năng tiếp cận, nắm bắt và xử lý những vấn
đề mới; về khả năng đoàn kết, quy tụ, hội nhập; phong cách làm việc khoa
học, dân chủ, sâu sát dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm).
Căn cứ vào từng chức danh, từng nhiệm vụ chung, cụ thể, đặc thù của
Ngành thi đua, khen thưởng mà xây dựng tiêu chuẩn cụ thể. Ngoài yêu cầu
chung, đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý hay cán bộ, công chức chuyên trách
của từng cấp làm công tác thi đua khen thưởng cũng cần phải có những yêu
cầu riêng về từng mặt kỹ năng. Ví dụ: Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung
ương, các bộ, ban, ngành, thì chú trọng khả năng tư duy chiến lược, kỹ năng
hoạch định (tầm nhìn); còn CB TĐKT cấp quận, huyện hay xã, phường, thị
trấn và cơ sở lại chú trọng vào kỹ năng thực tiễn như tổ chức thực hiện, tuyên
truyền, vận động, thuyết phục, soạn thảo văn bản vận dụng cụ thể hóa hoặc áp
dụng cơ chế chính sách…
Hiện nay, thực hiện cuộc Vận động học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh”, Ban TĐKT Trung ương đang có kế hoạch và dự định xây
dựng chuẩn mực đạo đức cán bộ ngành thi đua, khen thưởng là “tận tụy, sáng
tạo và gương mẫu”.



16
Bồi dưỡng cán bô làm công tác thi đua, khen thưởng
Bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng, đó chính là truyền
thụ kiến thức, kinh nghiệm về công tác quản lý, triển khai tổ chức các phong
trào thi đua và kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện, áp dụng chính
xác các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về công tác khen thưởng.
Phương thức bồi dưỡng
Từ năm 2012, Ban TĐKT Trung ương đã có quyết định thành lập Trung
tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi đua, khen thưởng với chức năng và
nhiệm vụ chính là đào tạo, bồi dưỡng tập huấn cho CB TĐKT trên cả nước,
ngoài ra không có cơ sở đào tạo, trường học nào dạy chuyên ngành về công
tác thi đua, khen thưởng. Đồng thời, do đặc thù của công tác thi đua, khen
thưởng, cán bộ phải kiêm nhiệm công tác khác hoặc do số lượng cán bộ
chuyên trách ít nên phương thức đào tạo cần phải đa dạng, phù hợp với điều
kiện của từng đối tượng.
Bồi dưỡng, tập huấn từng chuyên đề: dành cho những nội dung mang
tính chuyên sâu, cần tập trung tổ chức triển khai những chỉ thị và quy định
mới. Ví dụ: Phong trào cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới, triển khai
Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ, bổ
sung và quy định một số nội dung về công tác thi đua, khen thưởng, công tác
khen thưởng thành tích kháng chiến… Phương thức bồi dưỡng này có thể áp
dụng cho rộng rãi CB TĐKT ở cơ sở khi cần thiết.
Bồi dưỡng, tập huấn định kỳ: thường được tổ chức hằng năm để triển
khai chương trình công tác năm của Hội đồng TĐKT các cấp và cụm khối thi
đua thuộc thành phố, nhằm thông tin những quan điểm chỉ đạo mới và hướng
dẫn những nội dung hoạt động trọng tâm.
Bồi dưỡng, tập huấn theo yêu cầu của cơ sở: thường được tổ chức hằng
năm theo yêu cầu, đề nghị của từng đơn vị cơ sở, nhằm giúp các đơn vị nhằm



18
khai thực hiện hoạt động bồi dưỡng. Toàn thể đội ngũ tham gia công tác phong
trào, cả CB TĐKT và kiêm nghiệm.
Các tổ chức, cơ quan làm công tác thi đua, khen thưởng các cấp tham gia công
tác tuyên truyền, hỗ trợ và tổ chức các hoạt động thể phục vụ công tác bồi dưỡng.
Cán bộ nói chung và CB TĐKT nói riêng luôn có nhu cầu thường
xuyên được cập nhật những kiến thức, những thông tin mới về văn bản quy
phạm pháp luật, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và thế giới...
đòi hỏi tăng cường công tác bồi dưỡng, đặt công tác này ngang tầm với công
tác đào tạo. Để đẩy mạnh công tác bồi dưỡng trong những năm tới, cơ quan
làm công tác thi đua ,khen thưởng các cấp cần đánh giá toàn diện, chính xác
nhu cầu bồi dưỡng cán bộ từ mục tiêu, nội dung chương trình, loại hình bồi
dưỡng đến những tri thức, kỹ năng và phân bổ thời gian phù hợp... Đó là
những cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch mở các lớp bồi dưỡng về lý
luận chính trị, cập nhật kiến thức, lý luận nghiệp vụ công tác thi đua, khen
thưởng, bồi dưỡng theo chức danh... cho cán bộ chuyên trách, cán bộ kiêm
nhiệm. Nhận thức đầy đủ các vấn đề trên, tạo điều kiện để nghiên cứu làm rõ
công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng CB TĐKT.
1.1.3. Quản lý hoạt động bồi dưỡng cán bộ làm công tác thi đua, khen
thưởng
Quản lý
Thuật ngữ “quản lý” đã có từ rất xa xưa; sự tiến hóa của các tư tưởng
quản lý từ thời tiền sử đến những năm gần đây người ta mới chú ý đến tính
khoa học của quá trình quản lý và dần hình thành nên các “lí thuyết” về khoa
học quản lý.
Những tư tưởng quản lý cận đại đã sớm nhận ra tầm quan trọng hàng
đầu của nguồn nhân lực và nó vẫn còn có giá trị thực tiễn cho quản lý hiện
nay. Các quan điểm truyền thống hay các học thuyết quản lý cổ điển ra đời



20
nhất và rẻ nhất”. Còn H.Koontz thì cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết
yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các
mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi
trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với
thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý” gồm hai quá trình tích hợp lại
với nhau, gắn kết với nhau. “Quản” là sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng
thái “ổn định”. “Lí” là sự sửa sang sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”.
Quản lý là ổn định và phát triển hệ thống.
Còn theo giáo trình của Học viện chính trị Quốc gia (1998) “Quản lý là
sự kết hợp giữa tri thức và lao động”; như vậy quản lý bao hàm cả tri thức và
lao động. Giá trị của quản lý bằng tri thức và lao động cộng lại. Nếu quản lý
đạt hiệu quả tốt thì xã hội phát triển tốt, ngược lại nếu giá trị quản lý đạt hiệu
quả thấp thì xã hội không những không phát triển mà còn tụt hậu.
Quản lý còn là một quy trình công nghệ và có nghĩa “điều khiển” mà
đối tượng điểu khiển của nó là các mối quan hệ gữa con người và con người,
con người với thiên nhiên, con người với khoa học kĩ thuật. Quản lý là sự tác
động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và
đúng với ý chí của người quản lý.
Như vậy, tất cả các quan niệm trên đây tuy khác nhau song chúng vẫn
có những dấu hiệu chung chủ yếu như sau:
Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã
hội; Hoạt động quản lý là tác động có tính hướng đích; Hoạt động quản lý là
những tác động phối hợp nỗ lực của một cá nhân để nhằm thực hiện mục tiêu
của tổ chức.
Từ nhiều góc độ khác nhau, khái niệm quản lý bao gồm các vấn đề sau:

Quản lí

Kế hoạch

Tổ chức


22

Sơ đồ 1.1: Chu trình chức năng quản lý
Khi thực hiện các chức năng trên, người quản lý phải thực hiện một
loạt các vai trò quản lý, có thể phân làm ba nhóm: Vai trò liên nhân cách, vai
trò thông tin, vai trò quyết định.
Tùy theo từng cấp quản lý mà người quản lý có những bổn phận khác
nhau. Dù người quản lý ở cấp nào đi nữa thì cũng cần phải có các kĩ năng
quản lý hóa; các kĩ năng giao tiếp; các kĩ năng liên nhân cách; các kĩ năng
khái quát nhau. Người quản lý cấp thấp cần nhiều đến các kĩ năng chuyên
môn - kĩ thuật; chức năng khái quát hóa chưa cần ở mức độ cao. Người quản
lý cấp cao lại cần nhiều đến mức độ nhận thức - khái quát, các kĩ năng liên
nhân cách - giao tiếp ở mức độ trung bình, còn các kĩ năng chuyên môn - kĩ
thuật chỉ cần ở mức độ thấp. Người cán bộ quản lý cấp trung gian thì mức độ
các kĩ năng được chia đều cho nhau.
Từ đó có thể khái quát: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối
tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hoá, KT-XH, các chính sách, các nguyên
tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và
điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Quản lý giáo dục
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người nó được thực hiện
một cách tự giác, nó tồn tại, vận động, phát triển với tư cách là một hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status