Giáo dục đạo đức phật giáo cho tín đồ phật giáo ở thành phố sa đéc tỉnh đồng tháp (nghiên cứu trường hợp chùa từ quang và một số chùa khác) - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN CAO LỘC

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO CHO TÍN ĐỒ
PHẬT GIÁO TẠI THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG
THÁP (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CHÙA TỪ QUANG
VÀ MỘT SỐ CHÙA KHÁC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN CAO LỘC

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO CHO TÍN ĐỒ
PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CHÙA TỪ QUANG
VÀ MỘT SỐ CHÙA KHÁC)

Ngành: TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 8.22.90.09

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cám ơn đến tất cả những bạn bè, những ngƣời đã gắn bó và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập cũng nhƣ trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi, anh chị em và những ngƣời thân đã
tạo điều kiện để tôi yên tâm học tập trong suốt thời gian qua./.
Xin cám ơn !
Học viên

Trần Cao Lộc


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Trang
1

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC 12
PHẬT GIÁO Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.1. Một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn

12

1.2. Cơ sở lý luận

15

1.3 Thực tiễn giáo dục Phật giáo ở nƣớc ta hiện nay

26

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

76


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nƣớc ta đang trong thời kỳ hội nhập nên việc tiếp cận với nền văn hóa nƣớc
ngoài tác động đến lối sống của ngƣời Việt, vì sự tiếp cận nào cũng có tác dụng hai
chiều, nếu ta biết sử dụng đúng thì rất có lợi, trái lại sẽ gây nên hậu quả tai hại. Đây là
một trong những nguyên nhân đƣa đến sự suy thoái về đạo đức của xã hội hiện nay.
Từ các giá trị xã hội bị băng hoại và các tệ nạn ngày càng gia tăng ảnh hƣởng
nhiều đến thế hệ trẻ. Qua bài: “ Hoằng pháp với chương trình tu học của tuổi trẻ”,
Ni sƣ Thích Tâm Chính, đơn vị Phật giáo Hải Phòng cho biết về thực trạng của tuổi
trẻ ngày nay đang trong tình trạng báo động về đạo đức nhƣ bạo lực học đƣờng,
thích thể hiện bản thân. Sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin cũng có tác
dụng hai chiều nếu các em biết sử dụng đúng thì rất tốt trái lại sẽ có nhiều tai hại về
mặt đạo đức [19,tr154]..
Từ cá nhân, gia đình, xã hội đến nhân loại những giá trị đạo đức nhƣ đang
xuống cấp.. Chiến tranh giữa các quốc gia không ngừng xảy ra. Trong khi đó cuộc
sống nhân loại đang bị chao đảo theo đà tiến bộ của công nghệ thông tin nhƣ sống
ảo, thất vọng, stress...Do đó, việc giáo dục về đạo đức nói chung và đạo đức Phật
giáo nói riêng là điều cần thiết [19,tr.134].
Ngoài những nguyên nhân trên việc bảo vệ môi trƣờng sống cũng thể hiện giá
trị đạo đức của con ngƣời. Ngày nay, việc bảo vệ môi trƣờng đƣợc phát động mạnh vì
tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng nhất là nững chất độc hóa học thải ra từ các
nhà máy, từ nguồn nƣớc đến không khí đều bị ảnh hƣởng đến đời sống con ngƣời.
Thêm vào đó việc đốn cây, phá rừng ...con ngƣời tàn phá thiện nhiên nên phải chịu sự
tàn phá khốc liệt của thiên tai nhƣ bão lụt, hạn hán...Trong khi đó, đặc điểm của đạo

đạo đức Phật giáo cho tín đồ Phật giáo ở Thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp
(nghiên cứu trường hợp chùa Từ Quang và một số chùa khác)” làm luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành Tôn giáo học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có rất nhiều sách, đề tài, bài viết...về đề tài đạo đức Phật giáo. Những tác
phẩm tiêu biểu của một số tác giả trong nƣớc và ngoài nƣớc nhƣ sau:

2


2.1. Các nghiên cứu trong nước
* Hòa thƣợng Thích Minh Châu với quyển “Đạo đức Phật giáo & Hạnh
phúc con người” gồm 29 bài viết về những vấn đề có liên quan đến đạo đức .Trong
lời nói đầu đã bao quát toàn bộ vấn đề khi cho rằng “ Phật học chính là đạo đức
học” và “Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc cho con người”.
[6,tr.3]. Những kinh sách nhà Phật đƣợc coi nhƣ là những pháp môn để thực hành
và tu tập. Do đó 29 bài viết nhằm triển khai ý nghĩa về đạo đức Phật giáo.
Trong bài đầu cũng chính là tên quyển sách Hòa thƣợng cho chúng ta biết
rằng “những lời dạy của Đức Phật đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến vấn đề
đạo đức”[6,tr.7] Điểm nổi bật trong trong đạo đức Phật giáo là vai trò trí tuệ vì nó
giúp ta phân biệt thiện / ác, chánh / tà. Một đặc điểm khác của đạo đức Phật giáo là
xây dựng một nếp sống hài hòa với thiên nhiên, làm lành, làm đẹp môi trƣờng sống.
Chính đời sống của Đức Phật cũng thể hiện điều đó : sanh ra, thành đạo, thị tịch đều
ở dƣới gốc cây. Không những hài hòa với thiên nhiên mà còn hài hòa với con ngƣời
nhƣ từ, bi, hỷ, xả...
Do đó đạo đức Phật giáo là nếp sống đem đến niềm an lạc. Trong bài viết
Ngài cho rằng chiến tranh đem đến đau khổ, chỉ có giải pháp hòa bình mới tránh sự
xung đột. Trong quyển sách có bài viết “Sống đạo đức là trách nhiệm của mỗi
người chúng ta” khiến mọi ngƣời phải suy nghĩ . Qua đó Đạo Phật đã nhấn mạnh
đến vai trò cá nhân đối với đạo đức. Nó đòi hỏi sự quan tâm của mọi ngƣời để đem

giáo dục cao cả cho con người.”
* Ngoài ra Hòa thƣợng Minh Châu với tác phẩm “Tâm từ mở ra khổ đau
khép lại” cho thấy Ngài rất quan tâm đến nền giáo dục Phật giáo và cho rằng “Đạo
Phật là một đạo của giáo dục và Đức Phật là một nhà đại giáo dục”[8,tr.226]. Do
đó giáo lý của Đức Phật là đƣờng hƣớng và phƣơng pháp giáo dục chân chính. Nội
dung của đƣờng hƣớng giáo dục đó gồm những tiêu điểm nhƣ tƣơng quan giữa con
ngƣời với hoàn cảnh, hành động, trí thức, đạo đức, thời gian và chân lý. Những
đƣờng hƣớng đó để tiến tới một con ngƣời thật sự thể hiện tính chân, thiện và mỹ.
* Quyển “Đạo đức học Phật giáo” của Hòa thƣợng Minh Châu gồm 34 bài
viết của nhiều tác giả khác nhau do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành.

4


Nội dung nói lên vai trò và đặc điểm của đạo đức Phật giáo trong thời đại ngày nay
với hai điểm chính là :
+ Một là, thực hành hạnh từ bi và thái độ bất hại để con ngƣời đến gần nhau
hơn, các dân tộc hiểu biết nhau hơn để cùng xây dựng một cuộc sống tốt đẹp trên
hành tinh nầy.
+ Hai là, giáo dục đạo đức Phật giáo cần thiết để phát huy truyền thống dân tộc
trong bối cảnh giao lƣu văn hóa hiện nay. Ngoài ra môi trƣờng và xã hội bị ô nhiễm do
tâm con ngƣời xuất phát từ ba độc tham , sân, si nên cần phải loại trừ.
* Thích Nữ Nhƣ Thái trong Luận văn tốt nghiệp với đề tài “ Vài nét về
tinh thần trách nhiệm trong giáo dục Phật giáo”, tác giả cho rằng “tinh thần
trách nhiệm là yếu tố căn bản trong hệ thống giá trị đạo đức của nhân loại” [ 55
,tr.1]. Nó tùy thuộc vào nhận thức của mỗi ngƣời để hƣớng đến đời sống cao đẹp.
Trƣớc tình trạng đạo dức xã hội bị suy thoái, vấn đề giáo dục đạo đức và tinh
thần trách nhiệm cần phải đƣợc đặt ra. Tinh thần trách nhiệm trong giáo dục Phật
giáo gồm có: trách nhiệm trong đòi sống xã hội, trong giáo lý Đạo Phật, đối với
tự thân, tha nhân, với môi trƣờng, là chuẩn mẫu của hành vi đạo đức xã hội và

- Quy tắc và luận lý khoa học không khác đạo đức: chân lý đạo đức đƣợc
mọi ngƣời chấp nhận nên không cần chứng minh, chúng bảo đảm cho cuộc sống xã
hội tốt đẹp.
- Khoa học không thể đơn độc phục vụ cho lợi ích của nhân loại: khoa học dạy
chúng ta những hiểu biết về sự vật, những gì có tồn tại nhƣng không dạy trực tiếp
những gì nên có. Khoa học đề ra phƣơng tiện không đề ra mục đích.
- Những thành tựu của khoa học chỉ nhằm phục vụ bản năng thấp của con
người. Những sáng chế máy móc tinh vi không làm bớt những đau khổ tinh thần
của con ngƣời. Đạo đức cũng thừa nhận những nỗi lo âu của con ngƣời nhƣng có
cách giải quyết.
Cuối cùng tác giả cho rằng năm điều giới cấm của Phật giáo là cần thiết để ngăn
ngừa dòng thác phi đạo đức và duy trì nền tảng đạo đức của dân tộc và nhân loại.
2.2. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
* Pháp sƣ Maha Thongkham Medhivongs thuộc Phật giáo nguyên thủy biên
soạn “ 38 pháp hạnh phúc”. Ngài đã trình bày những pháp có tính cách thiết thực
nhƣ : giữ mình theo lẽ chánh, học nhiều hiểu rộng, có nghề, ngƣời nói lời chân thật,
nết hạnh phụng dƣỡng mẹ cha, nết hạnh tiếp độ con, làm xong việc của mình, nết
hạnh bố thí, giúp đỡ quyến thuộc, nết hạnh bố thí, nết hạnh khiêm nhƣờng, nhẫn

6


nại...Trong đó có thể chia làm hai loại: hạnh phúc của các bậc học bác uyên thâm tự
tìm thấy nguyên do của hạnh phúc và hạnh phúc của các bậc giác ngộ thuyết theo
chánh pháp. Trong 38 pháp nầy có thể phân ra ba chủ đề :
+ Từ pháp 1 đến 18: những điều để tạo đời sống hạnh phúc trong xã hội.
+ Từ pháp 19 đến 30: dạy tâm thanh tịnh không bị vật chất lung lay.
+ Từ pháp 31 đến 38: cách dứt phiền não để đƣợc an vui
Đây chính là 38 pháp để ngƣời Phật tử chân chính tìm đƣợc an lạc cho cuộc
sống đời thƣờng.

thế sự, một ánh sáng dẫn đạo xứng đáng cho những tâm hồn chưa thỏa vọng còn đang
tìm kiếm chân lý” [5, tr.19]. Phật giáo đến với nƣớc Pháp là bắt tay với tín đồ chúa
Ki-tô. Nhờ vậy nhiều nhà thần linh học đã tìm lại đƣợc giá trị uyên nguyên của
Cơ-đốc-giáo. Bác ái Cơ-đốc mở cửa đón nhận Phật giáo có nghĩa là nhìn nhận mối
giao tiếp giữa tình thƣơng nhân loại và lòng tự nguyện xả phú cầu bần. Tác giả đã
giới thiệu những học giả ngƣời Pháp đã viết về Phật giáo nhƣ Giáo sƣ Paul Mus của
Collège de France, trong bài “ Giới thiệu”, đƣa ra những nhận định về vị trí hiện tại
của Phật giáo; Jeanine Auboyer lập “ một bảng tổng kê nghệ thuật và văn hóa Phật
giáo ở Á châu”; Gaston Renondeau trình bày nền Phật giáo Nhật bản. Nhà nhân
chủng học Lévi-Strauss đã viết trong quyển “ Tristes tropiques” về tính cách hiện
đại của Phật giáo: “ ...dù con đường dẫn đến Bồ đề có 12 chặng , hoặc nhiều hơn,
hoặc ít hơn, tôi vẫn phải luôn luôn sống những hoàn cảnh, những tình thế mà mỗi
lúc đòi hỏi ở tôi một cái gì đó: tôi có nhiều bỏn phận đối với người cũng như tôi có
nhiều bổn phận đối với trí tuệ” [51,tr.21]
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích :
Nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức Phật giáo ở chùa Từ Quang và một
số chùa thuộc địa bàn thành phố Sa Đéc hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các kiến
nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức Phật giáo ở Sa
Đéc hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục đạo đức của Phật giáo.
+ Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức Phật giáo trên địa bàn thành phố Sa
Đéc hiện nay

8


+ Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

có chiều sâu. Do đó, chúng tôi thực hiện phƣơng pháp này để phỏng vấn thu thập
thông tin cho đề tài.
Nội dung của các cuộc phỏng vấn sâu đƣợc tập trung vào các vấn đề chính
liên quan trực tiếp đến đề tài nhƣ tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức Phật giáo,
quan điểm của ngƣời đi học, quan điểm của ngƣời dạy... Gợi ý phỏng vấn là các câu
hỏi mở nhằm giúp cho ngƣời đi phỏng vấn nắm vững nội dung cần khai thác và thu
thập thông tin từ đối tƣợng nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát tham dự: Đây là phƣơng pháp trực tiếp tham gia vào
cộng đồng để quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức Phật giáo ở chùa Từ Quang
và các chùa khác. Phƣơng pháp này sẽ luôn đƣợc chúng tôi thực hiện trong quá
trình đi khảo sát. Các thông tin thu thập từ phƣơng pháp này đƣợc chúng tôi ghi lại
dƣới dạng ghi chú (note) và nhật ký điền dã, đƣợc thể hiện trong đề tài dƣới dạng
miêu tả.
- Phương pháp so sánh :với phƣơng pháp nầy có thể thấy đƣợc ƣu, khuyết
điểm của các chùa trong việc dạy đạo đức. Từ đó có thể áp dụng cho các mô hình
dạy đạo đức sau nầy.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: sử dụng để phân tích và tổng hợp các
kết quả từ các tài liệu thứ cấp và sơ cấp.
Ngoài ra, chúng tôi còn sƣu tầm thông tin thƣ tịch, các văn bản, số liệu thống
kê, các báo cáo... từ các thƣ viện, các cơ quan chức năng...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Thực hiện đề này nhằm hƣớng đến việc phân tích, đánh giá công tác giáo dục
đạo đức Phật giáo tại Thành phố Sa Đéc theo hƣớng khoa học. Đó là việc sử dụng
các dữ liệu thực tế để đánh giá đúng nguyên nhân và phân tích vấn đề dƣới góc nhìn
khoa học xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những giải pháp, kiến nghị cho việc giáo
dục đạo đức Phật giáo ở các chùa đƣợc hoàn thiện hơn, góp phần giúp ích cho giáo


chăm nom để bồi đắp nhƣ đức dục, thể dục [54, tr. 164]
- Tự điển Hán Việt : Giáo là lệnh dạy, lệnh truyền. Mệnh lệnh của thiên tử gọi là
chiếu, mệnh lệnh của thái tử và chƣ hầu gọi là giáo. Gíáo là dạy dỗ, nhƣ giáo dục là dạy
nuôi, giáo sƣ là thầy giáo.Tôn giáo gọi tắt là giáo nhƣ giáo hội [ 13, tr.231] .Dục là ham
muốn [13, tr.19], là sinh , nuôi [13, tr. 295], nuôi cho khôn lớn [13, tr.265]
- Phật Quang đại từ điển : Gíáo tiếng Phạm là Sastra nghĩa là lời dạy. Ví dụ :
Thánh giáo là những lời dạy bảo của bậc Thánh, Ngôn giáo là giáo pháp đƣợc biểu
đạt bằng lời nói, Giáo pháp là lời nói đƣợc dùng làm phép tắc. Dục tiếng Phạn là
Chanda hoặc Rajas là tác dụng tinh thần mong muốn sự nghiệp đƣợc hoàn thành
[16, tr.1969]. Dục có ba tính : thiện, ác và vô ký. Dục tính thiện là nguồn gốc phát
khởi tâm tinh tiến, cần mẫn, dục mang tính ác thì thèm muốn tài vật của ngƣời khác,
gọi là tham, là một trong những phiền não căn bản [16, tr.1321].
- Phật học từ điển : Gíáo dùng về động từ nghĩa là dạy dỗ, khuyên nhủ, sai
khiến, dùng về danh từ nghĩa là sự giáo hóa, cuộc giáo độ, sự dạy bảo về phong
hóa, về đạo lý là việc chỉ dạy cho ngƣời ta làm lành. Giáo cũng có nghĩa là nền
tôn giáo, là khoa giáo dạy ngƣời tu học nhƣ Phật giáo, Nho giáo...Phật tùy lúc,
tùy dịp, tùy tình ý của chúng sanh, tùy nhơn duyên mà thuyết giáo với chúng
sanh [12, tr.600].
Vậy giáo dục ở đây chính là những lời dạy để con ngƣời đƣợc hoàn thiện.
1.1.2. Đạo đức
- Định nghĩa của John Yale trong tác phẩm “Tôn giáo là gì?’’ cho rằng:“Tôn
giáo cần phải được thực hiện ngay bây giờ. Và đối với bạn, trở nên đạo đức có
nghĩa là bạn sẽ cố gắng lần lượt tiến trên con đường đã chọn, và thực hiện nhiều
việc, nhận thấy những sự việc đó cho chính mình bạn” [31, tr. 47]

12


- Tự điển Phật học : Đạo là chánh pháp. Đức là đắc đạo, chẳng để cho sai lạc
nền chánh pháp.Nguyên lý tự nhiên, cái chơn tánh là đạo. Vào đƣợc lòng ngƣời,


nay. Ngài cho rằng đạo đức Phật giáo là nếp sống trong sạch và lành mạnh và chỉ nhƣ
thế mới có thể đem lại đời sống hạnh phúc.
Theo Tự điển Việt Nam phổ thông: Đạo có nhiều nghĩa: là đƣờng nhƣ chính đạo,
là bổn phận nhƣ đạo làm ngƣời, là nói nhƣ đàm đạo, là tôn giáo nhƣ đạo Thiên Chúa, là
toán quân nhƣ đạo quân, là ăn trộm nhƣ đạo tặc, là bài bản luật pháp nhƣ đạo luật.- Đức:
là cá tính của ngƣời đời hợp với đạo lý nhƣ công ,dung, ngôn, hạnh là bốn đức chính
của đàn bà, là ý chí làm điều lành nhƣ ăn ở có đức, là ân huệ nhƣ âm đức, là tiếng
gọi thần, thánh, vua nhƣ đức Chúa, đức Vua...
Đạo còn là những lý thuyết, triết thuyết, những nguyên tắc.
So sánh đạo đức thông thƣờng với đạo đức Phật giáo có những điểm tƣơng
tự khi kết hợp một số nghĩa nhƣ đạo đức là cá tính của ngƣời hợp với đạo lý và ý
chí làm điều lành cũng nhƣ nếp sống đem lại an lạc và hạnh phúc cho mọi loài.
Tuy nhiên, giáo dục đạo đức với giáo dục đạo đức Phật giáo có nhiều điểm
khác biệt. Với giáo dục đạo đức đời thƣờng sẽ giúp ngƣời đƣợc giáo dục có những
đức tính tốt, hƣớng đến chân, thiện , mỹ. Đạo đức Phật giáo cũng giúp con ngƣời
đến những sự tốt lành, phân biệt thiện/ ác, tốt/ xấu nhƣng còn hƣớng con ngƣời đến
sự an lạc, giải thoát và hƣớng thƣợng.
1.1.4. Phật tử
- Định nghĩa của Phật Quang Đại Từ Điển : có 3 nghĩa (16, tr.4299)
* Ngƣời tin và nhận theo giáo pháp của Phật, thừa kế gia nghiệp của Ngài,
tức là ngƣời mong cầu thành Phật để làm cho hạt giống Phật không dứt mất.
* Chỉ cho những ngƣời tín đồ Phật giáo thọ giới Bồ tát thừa.
* Chỉ cho hết thảy chúng sinh. Chúng sinh thuận theo Phật, sự nhớ nghĩ của
Phật đối với chúng sanh cũng giống nhƣ cha mẹ thƣơng nhớ con cái, vả lại, chúng
sinh vốn có tính Phật, có khả năng thành Phật, vì thế gọi chúng sinh là Phật tử.
- Phật học từ điển: Phật tử là con của Phật về Pháp giáo, đệ tử của Phật, tín
đồ Phật giáo.
- Tự điển Hán Việt : Phật dịch âm tiếng Phạn (Buddha), nói đủ phải nói là
Phật đà là bậc tu đã tới cõi giác ngộ hoàn toàn, lại giáo hóa cho ngƣời đƣợc hoàn

+ Đối với các bậc sƣ trƣởng đứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự
phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp. Đối lại, các bậc sƣ trƣởng phải huấn luyện
đệ tử những gì mình đã đƣợc khéo huấn luyện, dạy cho bảo trì những gì mình đƣợc
khéo bảo trì, dạy cho thuần thục các nghề nghiệp, khen đệ tử với các bạn bè quen
thuộc, bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.
+ Chồng phải kính trọng vợ, không bất kính với vợ, trung thành với vợ, giao
quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang cho vợ. Vợ đối với chồng, khéo tiếp đón bà

15


con, trung thành với chồng, khéo giữ gìn tài sản của chồng, khéo léo và nhanh nhẹn
làm mọi công việc.
+ Đối với bạn phải biết bố thí, ái ngữ là dùng lời êm dịu đối với nhau, lợi
hành tức cùng làm lợi lạc cho nhau, đồng sự nghĩa là cùng nhau làm việc gì đó,
không lƣờng gạt nhau. Bạn bè phải biết đối lại nhƣ che chở nếu bạn phóng túng,
bảo trì tài sản của bạn nếu vị nầy phóng túng, trở thành chỗ nƣơng tựa khi bạn gặp
nguy hiểm, không tránh xa khi bạn gặp khó khăn, kính trọng gia đình bạn.
+ Đối với ngƣời giúp việc phải giao việc đúng với sức của họ, lo cho họ ăn
uống và tiền lƣơng, điều trị cho họ khi bịnh hoạn, chia sẻ các mỹ vị đăc biệt cho họ,
thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép. Ngƣời giúp việc đối với chủ nhân phải dậy trƣớc khi
chủ dậy, đi ngủ sau chủ, tự bằng lòng với các vật đã cho, khéo làm các công việc,
đem danh tiếng tốt đẹp cho chủ.
+ Đối với các vị Sa-môn phải có lòng từ về thân, có lòng từ trong hành động
về khẩu, có lòng từ trong hành động về ý, mở rộng cửa để đón tiếp các vị ấy, cúng
dƣờng các vị ấy các vật dụng cần thiết. Nhƣ vậy vị Sa-môn ấy phải có lòng thƣơng
tƣởng vị tín đồ ấy nhƣ ngăn họ không làm điều ác, khuyến khích họ làm điều thiện,
thƣơng xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chƣa nghe, làm cho thanh tịnh điều
đã đƣợc nghe, chỉ bày con đƣờng đƣa đến cõi Trên.
Ngoài ra, Thế Tôn còn giảng ngƣời đệ tử Phật còn phải diệt trừ bốn nghiệp

nghĩa là những bƣớc chân đƣa đến giác ngộ, giải thoát, đƣa đến chân, thiện...Kinh
này đƣợc nhiều tác giả cho là thánh thƣ của Đạo Phật và đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng
trên thế giới. Kinh gồm 423 bài kệ chia thành 26 Phẩm, thâu tóm tinh hoa giáo lý
Đức Phật. Sau đây là một số bài kệ có liên quan đến đạo đức Phật giáo :
+ Phẩm Song Yếu (Yamakavagg), bài kệ số 5 :
Với hận diệt hận thù,
Đời nầy không có đƣợc,
Không hận diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
Từ trƣớc đến nay những ngƣời thù hận với nhau chỉ trả lại bằng hận thù và
nhƣ thế nối tiếp nhau đời nầy qua đời khác. Chỉ khi nào ta không còn thù oán với
nhau, lấy tình ngƣời với lòng từ bi đối đãi nhau thì hận oán mới dần tiên tan, biến
thù thành bạn, hóa giải đƣợc oán hờn.
+ Phẩm Tâm (Cittavagga) , bài kệ 43 :
Điều mẹ, cha, bà con,
Không có thể làm đƣợc,

17


Tâm hƣớng chánh làm đƣợc,
Làm đƣợc tốt đẹp hơn.
Chỉ có chính ta mới có thể hƣớng tâm về néo chánh, những ngƣời thân nhƣ
cha, me, anh em trong nhà hay ngƣời khác không có thể làm đƣợc thay ta.
+ Phẩm Hoa (Pupphavagga), bài kệ 50 :
Không nên nhìn lỗi ngƣời,
Ngƣời làm hay không làm,
Nên nhìn tự chính mình,
Có làm hay không làm..
Thực tế nhiền ngƣời không nhận thấy lỗi mình mà chỉ thấy lỗi ngƣời khác

+ Phẩm Ác (Papavagga), bài kệ 117 :
Nếu ngƣời làm điều ác,
Chớ tiếp tục làm thêm,
Chớ ƣớc muốn điều ác,
Chứa ác tất chịu
Ngƣời xƣa có câu “ Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác”, cho nên
ngƣời làm điều thiện gặp thiện, làm ác gặp ác vậy.
+ Phẩm Hình phạt (Dandavagga), bài kệ 136:
Ngƣời ngu làm điều ác,
Không ý thức việc làm.
Do tự nghiệp, ngƣời ngu,
Bị nung nấu nhƣ lửa.
Ngƣời hay làm ác đôi khi không ý thức đƣợc việc mình làm và nhƣ thế cứ
trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi.
+ Phẩm Tự ngã (Attavagga), Bài kệ 165:
Tự mình làm điều ác,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Tịnh , không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai.
Tự mình làm lành tránh ác, không ai có thể thay ta làm điều nầy. Do đó,
tự mình là chủ nhân cuộc đời mình, không ai có thể sống thay ai, nên tự mình
hƣớng về cuộc sống thánh thiện để không bị đọa vào đƣờng dữ.
+ Phẩm Phật Đà (Buddhavagga), bài kệ 183:
Không làm mọi điều ác
Thành tựu các hạnh lành
Tâm ý giữ trong sạch

19


20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status