VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ ĐỨC THỌ
TU TẬP
BÁT QUAN TRAI CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẠO TRÀNG VĨNH NGHIÊM,
PHỔ QUANG VÀ ẤN QUANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ ĐỨC THỌ
TU TẬP
BÁT QUAN TRAI CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐẠO TRÀNG VĨNH NGHIÊM,
PHỔ QUANG VÀ ẤN QUANG)
Ngành: TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 8.22.90.09
tập tại trường.
Tôi xin chân thành tri ân PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Ngọc đã hướng
dẫn, chỉ dạy cho tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời chúc an lành và thịnh đạt đến quý vị.
Xin cảm ơn!
Học viên
Ngô Đức Thọ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trang
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TU TẬP
BÁT QUAN TRAI
1.1. Tam tạng nói về tu tập Bát quan trai
11
11
1.2. Nguồn gốc, phương thức và lợi ích của tu tập Bát quan trai 21
1.3. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn
27
Chương 2 : THỰC TRẠNG TU TẬP BÁT QUAN TRAI CỦA TÍN
ĐỒ PHẬT GIÁO TẠI ĐẠO TRÀNG VĨNH NGHIÊM,
65
65
3.2. Một số khuyến nghị để nâng cao hiệu quả tu tập Bát
quan trai
71
KẾT LUẬN
76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BQT
: Bát quan trai
Tp.HCM
: Thành phố Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ khá sớm. Từ khi vào Việt Nam
Phật giáo không chỉ nhanh chóng kế thừa và tiếp biến văn hóa của dân tộc,
các tầng lớp nhân dân tham gia.
Thực tế cho thấy, các hoạt động nhập thế mang màu sắc Phật giáo có
ý nghĩa rất lớn đối với người dân thành phố. Các hoạt động hoằng pháp của
Phật giáo như các khóa tu dành cho tuổi trẻ, khóa tu một ngày an lạc, các
đạo tràng Pháp Hoa, đạo tràng tu thiền, đạo tràng niệm Phật… tăng lên cả
về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, đạo tràng Bát quan trai (BQT) là một
trong các đạo tràng được hình thành gần như sớm nhất, đóng góp rất lớn
cho công tác hoằng pháp của Phật giáo.
Đạo tràng BQT là một đạo tràng có thâm niên và chương trình tu học
hoàn chỉnh. Trong đó chương trình tu học sắp xếp có nề nếp từ học tập giáo
lý đến thực hành của tín đồ Phật giáo. Vì vậy, phương thức tu học này góp
phần rất lớn cho việc xây dựng đời sống tu tập, chuyển hóa thân tâm của
mỗi tín đồ Phật giáo, nhất là trong bối cảnh xã hội hiện nay.
Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
Phật giáo nói chung, vai trò của Phật giáo nói riêng trong đời sống của mỗi
cá nhân tín đồ hay cộng đồng Phật tử. Tuy nhiên, với những nghiên cứu
chuyên sâu mang tính khoa học, chuyên biệt mà vẫn hàm chứa yếu tính
Phật giáo trong đó, nhất là những nghiên cứu dựa trên năng lực thực chứng
hay quá trình tu tập của chính tác giả nghiên cứu thì cho đến nay vẫn là
mảng còn trống vắng. Nếu có, chỉ dừng lại là một số bài viết ngắn gọn của
một số tác giả về tu tập BQT.
2
Vì vậy, rất cần thiết có những nghiên cứu, khảo sát chuyên sâu trên
cả hai phương diện: lý luận và thực hành tu tập BQT nhằm đánh giá đúng,
sát thực về vị trí và chức năng của tu tập BQT – là một trong số các phương
tiện thiện xảo của Phật giáo nhằm đem lại lợi lạc cho đời sống tu tập của cá
nhân tín đồ và cộng đồng.
những giá trị nhân văn, bình đẳng, bác ái và vị tha thì dù đó là tôn giáo nào,
nó đều có tác dụng chuyển hóa tích cực đối với cá nhân và cộng đồng; thậm
chí còn trở thành động lực chính để tạo ra bước ngoặt của lịch sử như sự ra
đời của các tôn giáo lớn: Do Thái giáo, Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Islam giáo;
hay tạo nên một diện mạo mới thúc đẩy xã hội phát triển, như sự ra đời của
Tin Lành giáo. Max Weber cho rằng, nền đạo đức Tin lành có một mối liên
hệ “tương hợp chọn lọc” với “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản, và do vậy đã
tạo ra một số động lực tinh thần cần thiết và thuận lợi cho sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản ở châu Âu [63].
Với Phật giáo, niềm tin sâu sắc của tín đồ thúc đẩy họ thực hành
Giới (Đạo đức) - Định (Sức mạnh) - Tuệ (Trí tuệ) để đi đến giác ngộ, giải
thoát khổ đau. Từ việc nhận chân được đau khổ, thực hành chuyển hóa đau
khổ thì họ cũng không làm người khác khổ đau và thương tổn, họ hướng
đến tha nhân, đến cộng đồng và tình thương nhân loại, vũ trụ. Do vậy, niềm
tin tôn giáo được xem như phương tiện để đạt đến cứu cánh giải thoát.
Học giả Lý Tùng Hiếu chuyên nghiên cứu về tôn giáo với bài Tổng
quan về tôn giáo của cư dân Nam Bộ [24, tr. 11-32]. Ở đó, tác giả chỉ ra
một trong những nguyên nhân hình thành niềm tin tôn giáo ở Việt Nam, đó
là vì mong muốn có một đời sống hạnh phúc lâu dài mà con người tìm sự
trợ giúp của tôn giáo.
Vào năm 1997, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ấn hành
tập chuyên đề Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam
4
[62]. Trong tập này có 9 bài viết của các nhà nghiên cứu nói đến vai trò,
đặc điểm tôn giáo tại Việt Nam. Đặc biệt, các nghiên cứu chú trọng đến
việc thực hành tôn giáo trong đời sống tín đồ. Họ nhận định các tín đồ chưa
am hiểu giáo lý sâu nhưng lại chăm chỉ thực hiện các nghi thức tôn giáo.
Thái Văn Anh (2018), với tác phẩm Niềm tin tôn giáo của tín đồ Phật
Thích Chơn Thiện (1942-2016), với tác phẩm Phật học khái luận, với
bài viết Liên hệ giữa chư Tăng và cư sĩ, tác giả đã đề cập đến nguồn gốc,
lợi ích của tu tập BQT trong một ngày một đêm [50, tr. 473-513].
Thích Tuệ Sỹ, với bài viết Bát quan trai giới [71], tác giả đề cập
nguồn gốc, ý nghĩa, nội dung và lợi ích BQT giới rất chi tiết.
Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ đề cập đến khía cạnh niềm tin
tôn giáo và sự ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo với xã hội, đời sống con người.
Một số khác nghiên cứu liên hệ giữa niềm tin tôn giáo và thực hành tôn giáo.
Do vậy, nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tu tập BQT của tín đồ Phật
giáo vẫn còn là mảng trống vắng. Luận văn sẽ hướng tới làm rõ vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng tu tập BQT của tín đồ Phật giáo
(Đạo tràng BQT ở chùa Vĩnh Nghiêm ở quận 3, chùa Phổ Quang ở quận
Tân Bình, chùa Ấn Quang ở quận 10 tại Tp.HCM).
- Chỉ ra phương hướng và đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả tu tập BQT.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
- Phân tích các bản kinh đề cập đến pháp tu BQT và thực tế từ hoạt động
tu tập BQT (Đạo tràng BQT ở chùa Vĩnh Nghiêm, Phổ Quang và Ấn Quang
tại Tp.HCM).
- Phân tích nguồn gốc và vai trò của tu tập BQT.
6
- Khảo sát thực trạng tu tập, phương thức tu tập BQT của tín đồ Phật
giáo tại ba đạo tràng đã chọn mẫu.
- Phân tích, đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến việc tu tập BQT tại
Tp.HCM hiện nay.
Thứ hai, luận văn xác định thuộc phần “thực hành tôn giáo” là một
trong ba cốt lõi của thực thể tôn giáo đó là niềm tin tôn giáo, thực hành tôn
giáo và cộng đồng tôn giáo. Tuy nhiên, đối với hoạt động tu tập BQT của
tín đồ Phật giáo có sự gắn kết ba cốt lõi niềm tin, thực hành và cộng đồng
tôn giáo. Tức là tín đồ có niềm tin vào Tam bảo (Đức Phật, giáo lý và Tăng
đoàn), có tin lời Phật dạy (giáo lý) mới nỗ lực thực hành và những người
cùng tin và thực hành lời Phật dạy tạo thành cộng đồng Phật giáo.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp quan sát tham dự: Áp dụng phương pháp này trong
nghiên cứu, chúng tôi trực tiếp đến đạo tràng tu BQT của các chùa đã chọn
để quan sát tham dự. Qua đó, chúng tôi ghi chép dữ liệu, xem xét mọi hoạt
động tu tập của tín đồ ở từng thời khóa (tụng kinh, sám hối, dùng cơm, kinh
hành, niệm Phật, nghỉ ngơi, ngồi thiền, nghe pháp…) những thay đổi về cử
chỉ, hành vi, cảm xúc của tín đồ trong và sau khi tu tập BQT. Cuối cùng
chúng tôi sử dụng dữ liệu này nhận xét và đánh giá về thực trạng tu tập
BQT của tín đồ.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Với phương pháp này, chúng tôi trực tiếp
nêu ra hệ thống câu hỏi cho người được phỏng vấn trả lời nhằm mục đích thu
thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Cụ thể, chúng tôi phỏng vấn các tín đồ tu tập BQT, mỗi đạo tràng
chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 vị để phỏng vấn, tổng số có 6 tín đồ được
phỏng vấn trực tiếp. Với tín đồ, nội dung hỏi có liên quan đến nội dung của
8
bảng hỏi đã được khảo sát nhằm phục vụ cho nhận xét kết quả thống kê thu
thập được. Đối với các vị hướng dẫn tu tập, chúng tôi chọn mỗi chùa 1 vị,
tổng cộng có 3 vị được phỏng vấn trực tiếp. Với vị hướng dẫn tu tập, nội
dung hỏi liên quan đến công tác tổ chức đạo tràng, phương pháp tu tập…
Đối với giảng sư, chúng tôi cũng chọn mỗi chùa 1 vị, tổng cộng có 3 vị
dựng quản lý tổ chức tu tập BQT cho Ban Trị sự các quận huyện trong
thành phố.
Đối với chư Tăng ni trụ trì các cơ sở Phật giáo tại Tp.HCM, có thể
dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tổ chức đạo tràng BQT để nâng cao
hiệu quả tu tập cho tín đồ Phật giáo.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và phần kết luận.
Phần nội dung gồm có ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của tu tập bát quan trai. Nội
dung chương này chúng tôi trình bày các sự kiện được đề cập liên quan đến
tu tập BQT trong Tam tạng (Kinh, Luật, Luận) Phật giáo trong tiếng Pali,
tiếng Phạn và tiếng Hán. Sau đó là trình bày về nguồn gốc, phương thức và
lợi ích của tu tập BQT và một số khái niệm sử dụng trong luận văn.
Chương 2. Thực trạng tu tập BQT của tín đồ Phật giáo tại đạo tràng
Vĩnh Nghiêm, Phổ Quang và Ấn Quang hiện nay. Đây là chương chính của
luận văn, trình bày đặc điểm, tình hình có liên quan đến phương thức tu tập
BQT ở ba đạo tràng đã chọn tại Tp.HCM hiện nay; những yếu tố ảnh hưởng
đến tu tập của tín đồ Phật giáo tại ba đạo tràng BQT đã chọn; thực trạng về
tu tập BQT; thực trạng về tổ chức tu tập BQT.
Chương 3. Một số khuyến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả tu tập
của tín đồ Phật giáo tại ba đạo tràng đã chọn hiện nay. Chương này chúng
tôi đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả tu
tập BQT của tín đồ Phật giáo tại ba đạo tràng đã chọn.
10
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TU TẬP BÁT QUAN TRAI
này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi
phần thứ hai được thành tựu”.
Chi phần thứ ba: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi Phạm
hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm
này và ngày nay, ta cũng đoạn tận phi Phạm hạnh, hành Phạm hạnh, sống xa
lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ
thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu”.
Chi phần thứ tư: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo,
từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy,
không lường gạt đời. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận nói
láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin
cậy, không lường gạt đời. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ
thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu”.
Chi phần thứ năm: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm
say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay,
đêm này và ngày nay, ta cũng đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ
bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán,
ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu”.
Chi phần thứ sáu: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán dùng mỗi ngày
một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời.
Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng dùng mỗi ngày một bữa, không ăn
ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Với chi phần này, ta
theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới. Ðây là chi phần thứ
sáu được thành tựu”.
12
Chi phần thứ bảy: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ không đi xem
múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu
thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm này và ngày nay, ta cũng từ bỏ không đi
(IV) (44) Vàsettha, Phật dạy giới BQT cho nam cư sĩ Vàsettha ở
Vesàli, tại Mahàvana. Đức Phật nhấn mạnh với nam cư sĩ, ai cũng có thể
thực hành tám giới này và đạt được lợi lạc.
“Này Vàsettha, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với
đầy đủ tám chi phần, tất cả các Sát-đế-lỵ được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Này Vàsettha, nếu tất cả Bà-la-môn ... các Phệ-xá ... các Thủ-đà thực hành
ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà sẽ được hạnh
phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu thế giới chư Thiên, với các ác ma,
các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn thực hành ngày trai
giới, với đầy đủ tám chi phần, như vậy, thế giới chư Thiên, các ác ma, các
Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, sẽ được hạnh phúc an lạc
lâu dài” [8, tr. 368-369].
(V) (45) Bojjhà, Phật dạy giới BQT cho nữ cư sĩ Bojjhà ở Sàvavatthì,
tại Jetanava.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ, Tập II, Chuơng 10, V. Phẩm Mắng Nhiếc,
đức Phật đề cập đến BQT cho các Thích tử trong ngày trai giới Uposatha.
Câu chuyện tại Kapilavatthu, Thế Tôn ở giữa các Thích tử trong khu vườn
Nigrodha. Thế Tôn dạy các Thích tử nếu thực hành trai giới đầy đủ tám chi
phần và sống nhiệt tâm, tinh cần, không phóng dật thì có thể chứng được
quả Nhất-lai, quả Bất-lai và quả Dự-lưu [8, tr. 589-591].
Kinh Nhựt Tụng của Phật giáo Nam truyền có trình bày nghi thức
truyền thọ giới BQT. Tín đồ phát nguyện thọ tám giới như sau:
14
1. Pānātipātā veramamī sikkhāpadam samādiyāmi. (Đệ tử nguyện
giữ giới không sát sanh).
2. Adinnādānā veramanī sikkhāpadam samādiyāmi. (Đệ tử nguyện
giữ giới không trôm cắp).
Trước hết, Kinh Trung A Hàm III, Phẩm Bô Đa Lợi, 202. Kinh Trì
Trai, ghi lại việc nữ cư sĩ Tỳ-xá-khư đến xin thọ giới BQT với đức Phật ở
nước Xá-vệ trong Đông viên, tại giảng đường Lộc-tử-mẫu. Tại đây đức
Phật nói có ba loại trai: Thứ nhất là loại trai của mục đồng; thứ hai là loại
trai của Ni-kiền; thứ ba là Thánh trai tám chi.
15
Loại trai của mục đồng và loại trai của Ni-kiền, đức Phật dạy rằng,
nếu ai trì loại trai này thì sẽ không lợi ích, không có công đức và không đạt
được đại quả. Thứ ba là Thánh trai tám chi, đức Phật trình bày tám chi phần
tương tự như Kinh Tăng Chi Bộ, Tâp II, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (I) (41)
Các Trai Giới.
Phần cuối kinh nói về phước do trì trai, nếu người hành trì Thánh trai
tám chi phần này sẽ được sanh lên các cõi trời: Tứ-vương thiên, Tam-thậptam thiên, Diệm-ma thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hóa-lạc thiên, Tha-hóa-lạc
thiên. Sau khi nghe Phật dạy xong, nữ cư sĩ phát nguyện thọ trì Thánh trai
tám chi đến trọn đời.
Ngoài ra, kinh này được Thích Nhật Từ soạn dịch và in trong tập
Kinh Phật cho người tại gia [58, tr. 63-73], đây là bản dịch rõ ràng, dễ hiểu
hơn các bản dịch cũ.
Kinh Tăng Nhất A Hàm I, Phẩm Cao Tràng: Kinh này trình bày sự
kiện đức Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc, bảo các Tỳkheo về phép BQT. Đức Phật nói với các Tỷ-kheo, nếu có thiện nam tử,
thiện nữ nhân, vào các ngày mười bốn, ngày mười lăm trong tháng, khi
thuyết giới trì trai, đến trong bốn bộ chúng nên nói: Nay là ngày chay, tôi
muốn trì phép BQT. Cúi mong Tôn giả, hãy thuyết cho tôi. Khi đó, bốn bộ
chúng nên dạy thuyết phép BQT cho họ tu tập.
Trước hết, bậc giáo thọ dạy các thiện nam tử, thiện nữ nhân phát
nguyện và sám hối, trong kinh chép lời sám hối: “Nay tôi vâng giữ pháp
chay của Như Lai đến sáng sớm ngày mai, tu giới thanh tịnh, trừ bỏ pháp
Giới thứ sáu: “Như A-la-hán suốt đời không hoại trai pháp, hằng ăn
đúng giờ, ăn ít, biết đủ, không đắm mùi vị, nay con cũng lại như thế, suốt
đời không hoại trai pháp, hằng ăn đúng giờ, ăn ít biết đủ, không đắm mùi
vị. Từ hôm nay đến sáng mai không có xúc phạm. ”
17
Giới thứ bảy: “Như A-la-hán suốt đời không ngồi trên giường cao
rộng, giường cao rộng là giường vàng, bạc, ngà voi, hoặc giường (sừng) tòa
của Phật, tòa Bích-chi Phật, tòa A-la-hán, tòa các Tôn sư, vậy A-la-hán,
không ngồi trên tám loại tòa này, con cũng không chạm đến chỗ ngồi này ”.
Giới thứ tám: “Như A-la-hán suốt đời không đeo hương hoa, trang
điểm phấn sáp; nay con cũng sẽ như thế, suốt đời không đeo hương hoa
phấn sáp tốt đẹp ”.
Sau khi nghe giáo thọ truyền giới xong, các thiện nam tín nữ thệ
nguyện giữ giới: “Nay con tên ... lìa tám việc này, vâng giữ pháp Bát quan
trai chẳng đọa ba đường ác. Giữ công đức này không vào địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh và trong tám nạn, hằng được thiện tri thức, chẳng theo hầu
ác tri thức, hằng được sanh vào nhà cha mẹ lành, chẳng sanh chỗ biên địa
không Phật pháp, chẳng sanh cõi trời Trường Thọ, chẳng làm nô tỳ cho
người, chẳng làm Phạm thiên, chẳng làm trời Ðế Thích, cũng chẳng làm
Chuyển luân Thánh vương, hằng sanh ở trước Phật, tự mình thấy Phật, tự
nghe Pháp, khiến các căn chẳng loạn. Con chỉ thệ nguyện hướng Tam thừa
tu hành mau thành đạo quả” [60, tr. 501-511].
Đặc biệt, bản kinh này trình bày tương tự như nghi thức thọ giới
BQT được soạn lại về sau. Đây có thể là cơ sở để hình thành nghi thức
truyền giới BQT sau này.
1.1.3. Tam tạng tiếng Hán
Trong tam tạng tiếng Hán, cũng có các kinh đề cập đến BQT. Như là
Kinh Bát Quan Trai (Thư Cừ Kinh Thanh đời Lưu Tống dịch) và Kinh Ưubà-di-đọa-xá-ca (khuyết tên người dịch), hai kinh này đều thuộc Đại chánh
cho tín đồ xin thọ giới (giới tử).
19