KHÓA TU TỊNH ĐỘ CỦA TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHÙA HOẰNG PHÁP TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY) - Pdf 53

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ GÁI

KHÓA TU TỊNH ĐỘ CỦA TÍN ĐỒ
PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHÙA HOẰNG PHÁP
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

TP. Hồ Chí Minh, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ GÁI

KHÓA TU TỊNH ĐỘ CỦA TÍN ĐỒ
PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHÙA HOẰNG PHÁP
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NAY)

Ngành

: Tôn giáo học

Mã số


tại Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và
nghiên cứu tại trường.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS. Ngô Thị Phương Lan, hiệu
trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí
Minh, đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm
có giá trị và giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi thành kính xin gửi lời tri ân đến Thượng Tọa trụ trì và chư Đại Đức
Tăng tại chùa Hoằng Pháp đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi tiến hành nghiên cứu,
tham gia khảo sát các khóa tu tại chùa Hoằng Pháp.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân đến các bạn bè, đồng nghiệp, quý Phật
tử đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Mặc dù, tôi đã cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu xót.
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy- cô, các nhà khoa
học để luận văn được hoàn thiện hơn.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2018
Học viên

Lê Thị Gái


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NQ/TW

: Nghị Quyết/ Trung Ương

PL

: Pháp lệnh


BTS

: Ban Trị Sự

HT

: Hòa Thượng

TT

: Thượng Tọa

ĐĐ

: Đại Đức

TP

: Thành phố


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ......................................... 12
1.1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn .......................................... 12
1.2. Lí thuyết tiếp cận ................................................................................ 15
Chương 2.THỰC TRẠNG KHÓA TU TỊNH ĐỘ CỦA PHẬT GIÁO
TẠI CHÙA HOẰNG PHÁP ......................................................................... 31
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến các khóa tu .......................................... 31
2.2 Các hình thức tu tập tại Chùa Hoằng Pháp ........................................ 33

rất lớn trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, xây dựng triều đại nhà Lý rực rỡ
một thời[28, tr.39]. Điều này cho thấy, Phật giáo luôn sát cánh hòa nhập vào
những hoạt động của xã hội, đóng góp tích cực trong công cuộc chống giặc
ngoại xâm, xây dựng đất nước hùng mạnh.
Trải qua bao thăng trầm cùng thời đại, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân
tộc trong mọi biến động của lịch sử. Bất cứ giai đoạn nào, đất nước trong thời
chiến tranh hay hòa bình, tu sĩ Phật giáo với tinh thần “từ bi”, luôn dấn thân vào
đời hành đạo, nhằm truyền tải những triết lý tinh hoa của Phật giáo đến mọi
người. Những chân lý vi diệu của đạo Phật giúp họ thấy được giá trị của nó mà
áp dụng trong đời sống nhằm hoàn thiện nhân cách, trở thành những công dân
1


gương mẫu của nước nhà. Chính điều nầy, Phật giáo đã góp phần hình thành
nên nét đẹp thuần khiết, trong sáng của con người Việt Nam, tạo nên truyền
thống văn hóa của dân tộc.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đất nước đang trên đà hội nhập phát
triển về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, chính trị... Thế nhưng, “xã hội càng văn minh
thì con người ngày càng xem nhẹ truyền thống đạo đức dân tộc, chạy theo nếp
sống không lành mạnh. Đặc biệt, tình trạng sống lệch hướng của thanh thiếu
niên hiện nay” [28, tr. 52]. Vì thế, Phật giáo cần phải có những phương pháp
tích cực, nhằm góp phần chấn chỉnh mọi hành vi cho con người. Hơn nữa, Phật
giáo phải đi vào đời sống xã hội để giúp con người nhận thức đúng mọi giá trị
đạo đức, văn hóa để hoàn thiện chính mình hướng đến cái đẹp của Chân- ThiệnMỹ. Do vậy, Phật giáo với phương châm nhập thế hành đạo, bảo tồn nền tảng
đạo đức xã hội để giữ gìn nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam. Vì thế,
Phật giáo ngày càng có nhiều phương thức hoạt động phong phúvà được phổ
biến khắp mọi miền đất nước. Nhiều chùa ở vùng sâu, vùng xa, trước đây chỉ có
các phật tử địa phương tự sinh hoạt tu tập. Nay có nhiều Tăng- Ni đến ở, hướng
dẫn Phật tử tu học bằng nhiều phương pháp rất linh động, sáng tạo. Vì thế, các
đạo tràng được mở rộng tại các chùa ngày càng nhiều. Hầu như, hình thức sinh

và thấm sâu vào lòng người. Chính điều này, các khóa tu đã thu hút nhiều tín đồ
và mọi tầng lớp trong và ngoài nước tham gia tu tập.
Với sự thành công của hai khóa tu, chúng tôi chọn đề tài “Khóa tu Tịnh
độ của tín đồ Phật giáo tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” (Nghiên cứu
trường hợp chùa Hoằng Pháp từ năm 2007 đến nay), để làm đề tài nghiên cứu
nhằm tìm ra giá trị thiết thực của các khóa tu đóng góp vào vai trò và chức năng
hoạt động nhập thế của Phật giáo.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đếnđề tài
Quá trình nghiên cứu những hoạt động nhập thế của Phật giáo trong các
khóa tu tổ chức tại chùa Hoằng Pháp, nghiên cứu vấn đề này cũng không ngoài
mục đích đi tìm hiểu ba phạm trù: niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng
3


đồng tôn giáo. Ba phạm trù này luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau để hình
thành một chỉnh thể hoàn hảo. Với đề tài: “Khóa tu Tịnh độ của tín đồ Phật
Giáo tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, cũng không nằm ngoài việc nghiên
cứu ba phạm trù trên. Nhưng ở đây, chúng tôi nghiên cứu chuyên sâu về phần
thực hành tu tập của cộng đồng trong “khóa tu Phật thất” và “Khóa tu một ngày
cho sinh viên”. Để các khóa tu hoạt động được thành tựu tốt đẹp, thì tín đồ phải
có niềm tin vững chắc đối với Phật giáo. Vì niềm tin thúc đẩy hành vi con người
thực hành các nghi thức tu tập một cách rốt ráo. Trong tác phẩm “Niềm tin tôn
giáo của tín đồ Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh” (sách chuyên khảo) của Thái
Văn Anh, xuất bản năm 2018, tác giả nghiên cứuvà nhận thấy niềm tin tôn giáo
ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý và hành vi của mỗi tín đồ. Tác giả nhận định
rằng: “Niềm tin tôn giáo có tác động tích cực đến đời sống tâm lý tín đồ. Trong
đó, mặt nhận thức chịu tác động mạnh nhất, tiếp đến là thái độ và cuối cùng là
hành vi”[2, tr.245]. Bởi vì, nhờ có niềm tin vào tôn giáo, hành vi con người mới
hướng đến việc thực hành tu tập một cách thành tâm. Trong quá trình thực hành
tu tập sẽ giúp cho con người có nhận thức đúng để điều chỉnh nhân cách đạo

sách nói về nội dung giáo lý căn bản của đạo Phật, trình bày khá chi tiết về
phương pháp niệm Phật A Di Đà và lợi ích của nó. Tác giả giải thích rõ, “nếu
người nào thực hành phương cách tu Tịnh độ thiết thực, sẽ được lợi lạc ngay
trong cuộc sống hiện tại”[65, tr. 379]. Nói chung, nội dung cuốn sách đem lại
cho chúng ta những kiến thức về pháp tu niệm Phật và lợi ích thiết thực của nó.
Công trình luận án tiến sĩ Pháp tu Tịnh độ và tượng Phật A di đà trong
các ngôi chùa Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ ( 2011), của Đinh Viết Lực, tác giả
đã đề cập đến pháp tu Tịnh độ và nghệ thuật bày trí tượng Phật tại các chùa miền
Bắc. Nội dung trong tác phẩm trình bày khá chi tiết về cách thức bày trí tượng
Phật trong từng không gian thờ tự. Nội dung còn chú trọng vào quá trình phát
triển pháp tu Tịnh độ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nói chung, đây là cuốn sách
cần thiết để chúng ta hiểu thêm về lợi ích của pháp tu Tịnh độ tông.

5


Công trình nghiên cứu Lịch sử Phật giáo(2004), của Nguyễn Tuệ Chân
biên dịch, là cuốn sách bàn đến pháp tu Tịnh độ ảnh hưởng đến đời sống tu tập
của tín đồ. Vì thế, ngài Tông Hiểu trước tác bộ Lạc Bang để tuyên dương pháp
tu Tịnh độ và suy tôn ngài Huệ Viễn là Tổ đầu tiên của Tịnh độ tông. Đây cũng
là công trình đem lại cho chúng ta những kiến thức cơ bản về nguồn gốc của
Pháp tu Tịnh độ.
Cuốn sách Việt Nam Phật giáo sử lược(2004), của Mật Thể, là cuốn sách
có nội dung đề cập đến các pháp tu Tịnh độ. Tác giả giải thích pháp tu này rất dễ
thực hành và thích hợp cho mọi đối tượng. Đồng thời, tác giả khuyên mọi người
nên hành trì pháp tu Tịnh độ nhằm đem lại an lạc cho mình, xây dựng hạnh phúc
gia đình, góp phần kiến tạo một xã hội thanh bình, giàu đẹp. Nhìn chung, nội
dung cuốn sách cũng giúp cho chúng ta có thêm nhiều kiến thức về lợi ích của
pháp tu Tịnh độ đối với mọi người.
Bài viết Vài nét về Tịnh độ tông và tư tưởng Tịnh độ trong lịch sử Phật

hình thức sinh hoạt “khóa tu mùa hè” cho thanh thiếu niên tổ chức tại chùa Hoằng
Pháp. Lễ “Hằng thuận” và “Lễ cầu siêu cho thai nhi”, tổ chức tại chùa Vĩnh
Nghiêm. Qua khảo sát thực tế, tác giả nhận thấy được sự thay đổi tâm lý và hành vi
của tín đồ sau khi tham gia sinh hoạt ở các chùa tại thành phố Hồ Chí Minh. Đây là
nguồn tài liệu rất tốt cho việc nghiên cứu đề tài của chúng tôi.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến pháp tu tịnh độ
và hoạt động nhập thế của Phật giáo một cách tổng quan. Một số công trình có
đi vào nghiên cứu các phương pháp tu Tịnh độ nhưng chưa chi tiết rõ ràng. Đặc
biệt, chưa có tài liệu nào nghiên cứu về “khóa tu Phật thất” và “Khóa tu một
ngày cho sinh viên” tại chùa Hoằng Pháp. Đây là những hoạt động nhập thế tích
cực của Phật giáo theo xu hướng phát triển của xã hội hiện nay. Do vậy, chúng
tôi sẽ cố gắng làm rõ lợi ích của hai khóa tu quahoạt động và chức năng nhập thế
của Phật giáo trong luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
7


- Đề tài nghiên cứu về thực trạng và lợi ích thiết thực của “Khóa tu Phật
thất” và “Khóa tu một ngày cho sinh viên” của tín đồ Phật giáo tại chùa Hoằng
Pháp.
- Chỉ ra phương hướng và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả đối với“Khóa tu Phật thất” và “Khóa tu một ngày cho sinh viên”.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng các phương pháp khoa học và quan sát thực tiễn, để thấy được
giá trị của hai khóa tu tại chùa Hoằng Pháp đối với con người và xã hội hiện
nay. Thông qua hai khóa tu sẽ làm rõ vai trò hoạt động nhập thế của Phật giáo
tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Thông qua phương pháp khảo sát, thống kê và phân tích khoa học, sẽ làm
rõ hoạt động tu tập của tín đồ tại chùa Hoằng Pháp và giá trị của khóa tu đối với

liệu và các thông tin liên quan để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp quan sát tham dự: Với phương pháp này, chúng tôi trực
tiếp đến chùa Hoằng Pháp để tham dự vào các khóa tu. Từ đó, chúng tôi quan
sát cách tổ chức, sinh hoạt thời khóa để ghi chép dữ liệu cần thiết. Sau đó, chúng
tôi khảo sát những thay đổi về tư tưởng, hành vi, đạo đức của tín đồ sau khi
tham dự khóa tu. Chúng tôi sẽ dùng tư liệu này để nhận xét và đánh giá thực
trạng, giá trị của các khóa tu một cách chính xác.
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu: Với phương pháp này,
chúng tôi sẽ sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu,
nội dung từ các nguồn tài liệu đã được công bố có liên quan đến đề tài. Sau đó,
chúng tôi căn cứ vào các dữ liệu đó để đi sâu vào nghiên cứu, phân tích làm nỗi
bật hoạt động tu tập của hai khóa tu để thấy được tinh thần nhập thế của Phật
giáo.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi trực tiếp phỏng vấn những vị
trong ban tổ chức và tín đồ tham gia các khóa tu bằng các câu hỏi cụ thể. Nội
dung phỏng vấn, chúng tôi tập trung vào nguyên nhân tác động, mục đích đến tu
tập và lợi ích của tín đồ sau khi tham dự khóa tu. Phương pháp này giúp chúng
9


tôithu thập những thông tin cần thiết và nhận thức mức độ ảnh hưởng của khóa
tu đối với những người tham gia tu tập.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu này góp phần làm nỗi bật giá trị của pháp tu Tịnh độ.
Pháp tu này sẽ giúp cho các tín đồ nhận thức đúng đắn, tự hoàn thiện nhân cách
sống, góp phần xây dựng nền đạo đức trong xã hội hiện nay.
Đề cao vai trò giáo dục- văn hóa- xã hội của Phật giáo trong hoạt động
nhập thế đối với xã hội. Thông qua hoạt động này, Phật giáo góp phần để giữ
gìn và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống của dân tộc.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm sử dụng trong luận văn
1.1.1. Khóa tu Tịnh độ
Thuật ngữ ‘khóa tu’ thường sử dụng trong các sinh hoạt tu học của Phật
giáo. Theo cuốn “Cẩm nang tổ chức khóa tu” chùa Hoằng Pháp khái niệm:
“Khóa tu là hoạt động đời sống tâm linh theo lời Phật dạy trong một thời gian
nhất định… Khóa tu chú trọng việc thực tập lời Phật dạy”[14, tr.9]. Như vậy,
khóa tu là thời gian tín đồ thực hành những phương pháp tu tập trong Phật giáo.
Thuật ngữ ‘Tịnh độ” được sử dụng trong Phật giáo để chỉ một nơi thanh
tịnh hay trạng thái an lạc của tâm. Trong Từ điển Phật học Huệ Quang giải
thích: “Tịnh độ là thế giới trang nghiêm thanh tịnh. Thế giới này do chư Phật
kiến lập bằng cách tích lũy công đức trong vô lượng kiếp…”. Ngoài ra, Tịnh độ
còn được hiểu là trạng thái an lạc của tâm mà người tu tập đạt được.
Như vậy, “khóa tu Tịnh độ” là thực nghiệm đời sống tâm linh theo lời Phật
dạy trong một thời gian nhất định, để đạt được trạng thái an lạc của tâm.
1.1.2. Tín đồ Phật giáo
Thuật ngữ ‘Tín đồ’ theo Đại từ điển tiếng Việt giải thích: “Tín đồ là người
theo một tôn giáo nào đó” [80, tr.1608]. Còn theo từ Điển Tôn Giáo định nghĩa:
“Tín đồ là những ai tin ở những gì một tôn giáo dạy bảo và qua một thủ tục
nhập đạo” [30, tr.633] để trở thành những thành viên của tôn giáo đó. Trong Từ
Điển Hán Việt Từ Nguyên giải thích: “Tín đồ là người tin theo một tôn giáo nào
đó” [46, tr 1792] và thực hành các nghi lễ tôn giáo một cách xuyên suốt. Ngoài
các định nghĩa và giải thích trên, thuật ngữ tín đồ còn được “Pháp Lệnh tín
ngưỡng, Tôn giáo” năm 2004, nhận định trong điều 3, khoản 8 như sau:“Tín đồ
là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận.” [77].
Như vậy, tín đồ được hiểu là người tin theo một tôn giáo và thực hành các
nghi lễ tôn giáo. Đồng thời phải được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Thuật ngữ tín
12




Theo Nhiếp Đại Thừa Luận Thích 8 ( bản dịch đời Lương), thì tu tập của
Phật giáo được giải thích gồm có 4 loại: “1) Trường thời tu: Tu hành trong thời
gian dài. 2) Vô gián tu: Tu hành không dừng nghỉ. 3) Cung kính tu: Tu hành với
tâm chí thành cung kính. 4) Vô dư tu: Tu hành hoàn toàn không thiếu xót. Đại
sư Thiện Đạo đời Đường dùng pháp tu này để làm phép tắc tu hành cho tông
Tịnh Độ” [8, tr. 4630].
Như vậy, tu tập là hành động lập đi, lập lại thường xuyên với một pháp
tu nào đó. Quá trình thực hiện pháp tu giúp tín đồ an lạc và hạnh phúc ngay
trong hiện tại.
Trong sinh hoạt, Phật giáo đặc biệt xem trọng việc tu tập. Vì tu tập giúp
hành giả tinh tấn hành trì trong chánh pháp, để đạt được mục đích cứu cánh của
mình.
- Đạo tràng
Thuật ngữ “đạo tràng” trong tiếng Phạn đọc là “Bodhi-manda”, tiếng
Trung Hoa viết là : “道場”, dịch sang tiếng Việt gọi là “đạo tràng”. Đạo tràng là
nơi tu tập của tăng sĩ và tín đồ Phật giáo để thực hiện các nghi lễ tôn giáo một
cách nghiêm túc.
Theo Từ Điển Phật học Huệ Quang, “Đạo tràng” được giải thích: “Đạo
tràng là nơi tu hành Phật đạo” hay “Phạm vi đã được kiết giới để thành lập
Đạo tràng Bản tôn, tu Đạo tràng quán của hành giả Mật tông” [7, tr.1438].
Ngoài ra, Phật Quang Đại Từ Điển giải thích rõ: “Đạo Tràng, Tên gọi khác của
chùa. Vua Dượng Đế nhà Tùy từng ban lệnh đổi tên chùa là Đạo tràng” [16,
tr.1646 ].
Như vậy, đạo tràng là nơi tu tập để thực hành các nghi lễ tôn giáo của tăng
sĩ và tín đồ Phật giáo. Với nghĩa này, thì các cơ sở Phật giáo như: chùa, tịnh xá,
thiền viện, niệm Phật đường, tịnh thất,.. là những đạo tràng.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì: đạo tràng là nơi hội tụ những tín đồ chuyên
tu theo một pháp môn Tịnh độ nhất định nào đó như: đạo tràng chuyên tụng kinh
14

15


nầy là Emile Durkheim. Dựa vào các lý thuyết chức năng, Emile Durkheim đã
nghiên cứu, phân tích rất khoa học và logic về sự phân công lao động, tín
ngưỡng, tôn giáo trong xã hội. Việc phân công lao động theo từng chức năng sẽ
giúp cho các tổ chức xã hội hoàn thành tốt chức năng của mình. Khi các tổ chức
xã hội hoạt động tốt, là điều kiện để thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển hoàn
thiện hơn. Theo Emile Durkheim: “Mỗi một yếu tố, một thành phần, một bộ
phận cấu thành của xã hội đều thực hiện những chức năng và thỏa mãn những
nhu cầu nhất định của hệ thống xã hội. Thay đổi một yếu tố hay một bộ phận
nào đó, sẽ kéo theo sự thay đổi các bộ phận, các yếu tố khác và làm biến đổi cả
hệ thống”[85].
Tư tưởng tích cực của ông đã được Parsons phát triển lên mức hoàn thiện
nhất. Đặc biệt, Parsons đã trình bày các chức năng xã hội một cách logic và có
hệ thống chặt chẽ. Có thể tóm tắt như sau: “Mọi xã hội trong bản chất nội tại
của nó luôn có xu hướng tiến tới sự hài hòa và tự điều chỉnh…Các bộ phận
riêng phải phục tùng những nhu cầu cụ thể của cả hệ thống. Xã hội là một hệ
thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự bền vững của
tổng thể”[79, tr.87]. Vì thế, tìm hiểu chức năng là tìm hiểu những tác động của
các bộ phận để tạo sự ổn định cho xã hội, chấn chỉnh xã hội sao cho phù hợp với
bản chất bên trong của các bộ phận.
Ngoài ra, còn có thuyết chức năng luận của hai nhà nhân học là
B.Malinowski và A.R.Radcliffe – Brown. Lý thuyết chức năng luận của hai ông
đi sâu vào phân tích chức năng tâm lý của con người trong việc thực hành nghi
lễ và các phong tục khác. Các ông cho rằng:“chức năng tín ngưỡng, tôn giáo là
nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lý của con người, giúp họ tránh đi những sợ hãi, lo
lắng bởi những rủi ro, bất trắc khó lường trong cuộc sống” [3, tr. 664]. Cùng
quan điểm đó, nhà chức năng luận Thomas O’ Dea lý giải rằng: “Trong cuộc
sống, con người luôn đối diện với những sự thất bại, mất mát. Và tôn giáo có thể

Con người ngoài ý thức luôn hoạt động bên trong, còn gắn liền với mỗi hành
động cụ thể. Vì vậy, chúng tôi vận dụng “lý thuyết hành động xã hội” nhằm làm rõ
hành vi của mỗi người đối với những người xung quanh và xã hội.
Lý thuyết hành động xã hội đã được Max Weber phân tích: “Hành động xã
hội trước hết nó là một hành vi cụ thể của cá nhân hoặc nhóm. Nhưng hành vi
17


đó mang một ý nghĩa, một giá trị và hướng đến một đối tượng khác. Đó chính là
lúc hành vi đã mang tính xã hội. Hành động xã hội mang tính duy lý, tức là cá
nhân căn cứ vào các giá trị chuẩn mực xã hội để điều chỉnh hay tiếp nhận khi
hành động” [41]. Qua sự phân tích của Max Weber, sẽ giúp cho việc tìm hiểu
hành vi của những người tham gia các khóa tu tại chùa Hoằng Pháp một cách dễ
dàng nhất. Cụ thể là tìm hiểu về hành vi của những người tham gia “Khóa tu
Phật thất” và “Khóa tu một ngày cho sinh viên”tại chùa Hoằng Pháp.Việc tổ
chức và hoạt động của các khóa tu, cũng chính là chức năng và hành động xã
hội của Phật giáo. Thông qua những ngày tu học, các tín đồ thực hành những
quy tắc, điều luật một cách nghiêm túc để thực hành đời sống tâm linh. Bên cạnh
đó, các giáo lý nhân quả, nghiệp báo, hiếu đạo,… giúp cho họ hiểu rất nhiều về
những nguyên lý và giá trị cuộc sống. Từ đó, mỗi người tự nhận thức những
khiếm khuyết của mình để tự điều chỉnh tư tưởng, hành vi để hoàn thiện nhân
cách đạo đức hướng tới cái đẹp toàn diện của “Chân – Thiện – Mỹ”.
- Đối với “khóa tu Phật thất”, hành vi của những người tham gia tu tập là
hành vi mang tính chủ thể. Khi họ tham gia tu tập, chủ thể đã thực nghiệm và
trải nghiêm bằng những phương pháp tu tập hữu ích. Họ sẽ hiểu rõ về giá trị
nhân phẩm đạo đức, lòng thương yêu, chia xẻ với cộng đồng. Từ đó, họ tự điều
chỉnh tư tưởng, lời nói, hành động của mình một cách hoàn thiện nhất.
- Đối với “Khóa tu một ngày cho sinh viên”, hành vi của những bạn trẻ đến
tham gia khóa tu là hành vi mang tính chủ thể. Sau khi tham gia khóa tu, các bạn
trẻ sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng ứng xử để sửa đổi những

tế như: xây dựng các khu chiết xuất, khu công nghiệp, hình thành trung tâm giao
dịch chứng khoán, phát triển hệ thống ngân hàng, phát triển các loại hình thị
trường hàng hóa, dịch vụ, du lịch .v.v…trên toàn thành phố. Với phương thức
hoạt động và cơ cấu kinh tế trên, thành phố đã thu hút những nhà đầu tư, kinh
doanh từ nhiều nơi khác đến, trong đó có cả thương gia người nước ngoài. Chỉ
trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2018, thành phố nỗi tiếng với những khu
thương mại lớn như: Chợ Bình Tây, Thương Xá Kình Lâm, khu thương mại chợ
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status