Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành in ở thành phố hà nội - Pdf 49

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ


PHẠM THÚY LAN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO CHO NGÀNH IN
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014


2

BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ


PHẠM THÚY LAN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO CHO NGÀNH IN
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH:
MÃ SỐ:

KINH TẾ CHÍNH TRỊ


nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành in ở thành phố
Hà Nội

26

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO CHO NGÀNH IN Ở THÀNH PHỐ
HÀ NỘI

2.1

Những thành tựu, hạn chế phát triển nguồn nhân lực chất

2.2

lượng cao cho ngành in ở thành phố Hà Nội
Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối với phát triển

39
39

nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành in ở thành phố
Hà Nội

46

Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG
CAO CHO NGÀNH IN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Giáo dục và đào tạo
Khoa học công nghệ
Kinh tế - xã hội
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực chất lượng cao
Sản xuất, kinh doanh
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
CNXH
CNH, HĐH
GDĐT
KH - CN
KT - XH
NNL
NNLCLC
SX - KD
XHCN


5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại ngày càng phát triển
sâu, rộng, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của tất cả các quốc gia, dân tộc.
Trong các ngành khoa học và công nghệ cao, liên tiếp có những phát minh,
sáng chế mang tính đột phá, tạo ra những bước ngoặt mới, làm thay đổi diện
mạo thế giới đương đại; đặc biệt là những phát minh trong lĩnh vực tin học,
sinh học, vũ trụ, hải dương học, năng lượng, vật liệu mới, bảo vệ môi trường và
quản lý… thúc đẩy làn sóng chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ của nền kinh tế thế

những bất hợp lý về số lượng, chất lượng, cơ cấu NNLCLC cho ngành in ở
thành phố Hà Nội đã và đang làm cho những dự án đầu tư lớn hay nhỏ gặp khó
khăn trong phát huy hết công năng, tác dụng của thiết bị... Nhân lực chất lượng
cao cho một chiến lược SX - KD thích hợp để tiếp tục phát triển trong tương lai
là vấn đề cấp bách đặt ra đối với ngành in ở thành phố Hà Nội.
Với mong muốn góp phần vào sự phát triển của ngành in trên địa bàn
thành phố Hà Nội, tác giả lựa chọn “Phát triển NNLCLC cho ngành in ở thành
phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành kinh tế chính
trị của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
NNL chất lượng cao cho phát triển KT - XH nói chung, phát triển của từng
ngành kinh tế nói riêng là vấn đề khá mới, nhưng cũng đã được nhiều tác giả,
nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu ở nhiều góc độ, mức độ và phạm vi tiếp
cận khác nhau, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập. Kết quả nghiên cứu được thể
hiện dưới các hình thức như: Đề tài khoa học các cấp, sách tham khảo và chuyên
khảo, luận văn, luận án, bài báo được đăng tải trên các báo và tạp chí.v.v...
Dưới góc độ tiếp cận của khoa học kinh tế - chính trị, tác giả nhận thấy,
ngoài các văn kiện, nghị quyết của Đảng, có rất nhiều công trình nghiên cứu về
phát triển NNL, NNLCLC đã được công bố, liên quan đến đề tài luận văn, cụ
thể như sau:


7
* Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về nguồn nhân lực, nguồn nhân
lực chất lượng cao cho phát triển KT - XH nói chung
Chủ nghĩa Mác khi bàn về lực lượng sản xuất đã chỉ ra vai trò của hai bộ
phận cấu thành: Lực lượng sản xuất vật chất và lực lượng sản xuất tinh thần.
Song, các tác phẩm của C. Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, đều tập trung nghiên
cứu, tìm hiểu lực lượng sản xuất vật chất. Có lẽ, trong thời kỳ của Mác, lực
lượng sản xuất tinh thần chưa phải là “hiện tượng phổ biến” và nó mới chỉ chiếm

Cuốn sách này được chia thành ba phần. Phần đầu tiên tổng quan về những quan
điểm khác nhau về triển NNL. Thứ hai đề cập vào chiến lược phát triển NNL và
thứ ba là kinh nghiệm phát triển NNL thực tế.
Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009), “Perspectives on theory clarifying the
boundaries of human resource development” (Những quan điểm dựa trên lý thuyết
làm rõ những ranh giới của phát triển NNL), cụ thể tác giả đã phân tích sự khác biệt
giữa khái niệm phát triển NNL và phát triển vốn nhân lực và phát triển con người ở
phương diện xã hội.
Mấy năm gần đây, vấn đề NNL đã và đang thu hút sự quan tâm, chú ý của
các nhà quản lý và các nhà khoa học ở nước ta vì nó gắn liền với việc hoạch định
đường lối, chiến lược phát triển KT - XH của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành
và địa phương. Đã có một số công trình như:
Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1998), “Phát triển NNL - kinh nghiệm thế
giới và thực tiễn nước ta” [76]. Cuốn sách đã khái quát những kinh nghiệm về
phát triển NNL của các nước phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, cuốn sách chưa
trình bày nội dung tổng quát của phát triển NNL như chăm sóc sức khoẻ, nâng
cao mức sống, việc làm… mà tập trung vào lĩnh vực GDĐT, yếu tố quyết định
đến phát triển NNL.
Đoàn Văn Khái (2000), “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” [28]. Tác giả đã trình bày một số vấn đề chung về
CNH, HĐH trên thế giới và Việt Nam; vai trò của nguồn lực con người trong quá
trình CNH, HĐH; thực trạng nguồn lực con người ở Việt Nam và những vấn đề đặt
ra trước yêu cầu CNH, HĐH; những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển có
hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay.


9
Trần Du Lịch và Nguyễn Thị Cành (2005), “Phát triển và đào tạo NNL”
[39]. Trong đó, nhóm tác giả đã trình bày những vấn đề chung nhất về công tác
đào tạo và phát triển NNL, hình thức và phương pháp đào tạo, cách xác định nhu

đến những bất cập của thị trường lao động của nước ta. Tác giả nhận định thị
trường lao động Việt Nam sẽ tiếp tục thiếu hụt và khan hiếm NNL cao cấp quản lý
trở lên. Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính qua đi, khi các doanh nghiệp tiến hành
tái cấu trúc và nhu cầu nhân lực có chất lượng cao tăng lên thì chắc chắn sự mất
cân đối cung - cầu trên thị trường lao động sẽ diễn ra ngày càng trầm trọng hơn
nếu như Việt Nam không có những biện pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này.
Nguyên nhân của việc này là do các doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường lao
động và chưa tiếp cận một cách hiệu quả được với các dịch vụ đào tạo; nhiều
doanh nghiệp chưa tích cực tham gia vào các chương trình đào tạo; các sinh viên
đã không được định hướng tốt trong việc chọn trường, chọn ngành nghề theo học.
Từ đó tác giả đã đề xuất 10 giải pháp phát triển NNLCLC trong thời gian tới. các
giải pháp tập trung chủ yếu vào việc nâng cao chất lượng đào tạo.
PGS.TS. Bùi Thị Ngọc Lan (2011), “Đại hội XI với vấn đề phát triển
NNL” [31]. Tác giả tập trung phân tích những điểm mới trong tư duy lãnh đạo
của Đảng về phát triển NNL. Theo tinh thần Đại hội XI của Đảng, để phát triển
nhanh NNL, nhất là NNLCLC, cần phải đi vào một số giải pháp căn bản như:
xây dựng và hoàn thiện hệ thống giá trị của con người Việt Nam trong thời đại
mới; đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; nâng cao chất lượng
chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội.
Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1998), "Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
NNL tài năng - kinh nghiệm của thế giới" [76]. Tác giả khái quát những kinh
nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng, khoa học công nghệ, sản
xuất kinh doanh, quản lí của Mỹ và một số quốc gia Châu Âu, Châu Á; qua đó bàn
về thực trạng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng NNL tài năng của đất nước, cũng như
những bất cập quá trình sử dụng NNL tài năng; đề cập một số giải pháp thiết thực
nhằm đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng NNL tài năng của đất nước có hiệu quả.


11
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, đề án, bài báo, báo cáo khoa học nghiên

thống về công tác đào tạo và phát triển NNL tại các trường đại học khối kinh tế ở
Việt Nam, nhưng chỉ giới hạn trong công tác đào tạo hợp tác quốc tế.
Phạm Hoàng Lân (2010), “Đào tạo và phát triển NNL tại Viện hệ thống
thông tin FPT” [33]. Tác giả đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về NNL và phát
triển NNL. Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng đào tạo và phát triển NNL của
Viện FPT và đề xuất những giải pháp phát triển NNL trong tương lai cho đơn vị.
Tạ Quang Ngải (2006), Đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh tế
thị trường ở nước ta (qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội) [50]. Tác giả đã đánh
giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hiện nay (qua thực tiễn ở
thành phố Hà Nội), đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi
dưỡng công chức góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức trong nền
kinh tế thị trường ở nước ta nói chung, ở thành phố Hà Nội nói riêng.
Bài viết của tác giả Lương Công Lý, đăng trên tạp chí Lý luận chính trị và
truyền thông số 7- 2010, với tiêu đề “Vai trò và những quy chuẩn đào tạo NNL
trong các trường đại học, cao đẳng của ngành giao thông vận tải” [42], đã trình
bày vai trò đào tạo NNL và những quy chuẩn của đào tạo NNL trong các trường
đại học, cao đẳng của ngành giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay.
Cùng với việc tiếp tục luận giải, khẳng định NNLCLC là động lực cho quá
trình CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế trí thức ở Việt Nam, các công trình trên
đã nghiên cứu, làm rõ lý luận về NNL, NNLCLC ở một số khu kinh tế, ngành kinh
tế, vùng kinh tế cụ thể; khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lượng NNL; và đề xuất
những giải pháp, kiến nghị, khuyến nghị phát triển, nâng cao chất lượng NNL ở
khu, ngành, vùng kinh tế cụ thể đó.
Tuy có sự khác nhau về mục đích, nhiệm vụ, nội dung và phạm vi nghiên cứu
nhưng các công trình trên đều hướng tới giải quyết các vấn đề liên quan tới NNL,
chất lượng NNL, phát triển NNLCLC ở một số ngành nghề cụ thể hoặc ở một số
khu kinh tế, vùng kinh tế mà đề tài nghiên cứu của các tác giả trực tiếp đặt ra. Các
công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh, với cách tiếp cận phong phú,





14
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên các quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và
Nghị quyết của Đảng bộ thành phố Hà Nội về NNL, NNLCLC, về phát triển các
ngành kinh tế. Tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về NNL, NNLCLC
của các tác giả trong và ngoài nước. Đồng thời, dựa vào các báo cáo tổng kết, số
liệu thống kê hiệp hội in Việt Nam và của ngành in Thành phố Hà Nội từ năm
2009 đến nay.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị Mác – Lênin
(trừu tượng hoá khoa học) làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo. Kết hợp với
các phương pháp khác như: kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp,
thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về
NNLCLC cho ngành in ở thành phố Hà Nội nói riêng, NNLCLC cho ngành in ở
nước ta nói chung.
- Cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chính quyền thành
phố Hà Nội trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KT - XH, trực tiếp là giải quyết
vấn đề NNLCLC cho ngành in; góp phần nâng cao hiệu quả quán triệt và thực
thi quan điểm của Đảng ta về phát triển nhanh và bền vững đất nước.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy và học
tập môn kinh tế chính trị ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu

nhân và của đất nước”. Nguồn nhân lực được coi là một yếu tố quan trọng bậc
nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội.


16
Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người được xem xét với tư cách là
một nguồn lực cơ bản cho sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Theo
tổ chức Ngân hàng thế giới (WB), nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người, bao
gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân sở hữu . Ở đây,
nguồn nhân lực được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất
khác như vốn tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Đầu tư cho con người
giữ vị trí trọng tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở vững chắc cho sự
phát triển bền vững.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì “NNL của một quốc gia là toàn
bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. NNL được hiểu
theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản
xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển” [81, tr.4]. Do đó,
NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp,
NNL là khả năng lao động của xã hội, là một nguồn lực cho sự phát triển KT XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào
lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá
trình lao động.
Đề cao vai trò của yếu tố con người cũng là nét nổi bật trong tư tưởng
kinh tế của C. Mác với tư tưởng chủ đạo: chỉ có lao động mới tạo ta giá trị nguồn
gốc duy nhất của mọi của cải trong xã hội. Tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng;
nó cho thấy tiến bộ kỹ thuật không hề làm giảm ý nghĩa của yếu tố con người mà
ngược lại, cùng với quá trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất con
người cùng với tiềm năng trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng. V.I. Lênin đã
khẳng định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân,
là người lao động” [35; tr 430].
Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc thì: “NNL cần được hiểu là số dân

chính là các yếu tố thuộc về chất lượng NNL. Ngoài ra khi nói tới NNL phải nói
tới cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề. Khi nói


18
NNL cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của con người, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự
phát triển NNL. Ngoài ra khi nói đến NNL cũng cần phải nói tới kinh nghiệm
sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con người.
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới giác độ phổ quát của Kinh tế
Chính trị có thể hiểu: NNL là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ
lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và
kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để
sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương
lai của đất nước.
- Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và các nguồn lực khác
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát
triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người
… Trong những thời kỳ mà nền kinh tế tự nhiên còn phổ biến, thì sự phát triển
của các nền kinh tế quốc gia trên thế giới chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên và lao động thủ công, do đó nước nào giàu tài nguyên hoặc có
nhiều lao động, thì nước đó có lợi thế trong phát triển KT - XH và ngược lại.
Tuy nhiên, thời của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, nước giàu tài
nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào chưa hẳn đã có lợi thế trong phát
triển hơn các nước nghèo tài nguyên hoặc khan hiếm lao động giản đơn.
Trong các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, NNL chính là nguồn lực chủ
yếu tạo động lực cho sự phát triển. Vì vậy việc cung ứng đầy đủ và kịp thời NNL
theo nhu cầu, mục tiêu của nền kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định đảm bảo
tốc độ tăng trưởng KT - XH.
Theo thuyết về vốn con người (Human resource), yếu tố con người được

biệt là NNLCLC ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết
tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở
mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát
triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng NNL. Trong đó động lực


20
quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người,
đặc biệt là NNLCLC, tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ
năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành
“nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực”. Bởi trong bối cảnh thế giới có
nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc
gia có NNLCLC, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, có môi trường
chính trị- xã hội ổn định.
Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một người
lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một
ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất
định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề).
Giữa chất lượng NNL và NNLCLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đó
là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng NNL là muốn nói
đến tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNLCLC là một bộ phận cấu
thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lượng nhất. Cho nên,
khi nói về NNLCLC không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng
NNL nói chung của đất nước.
Theo tác giả Trần Mai Ước thì: “NNL chất lượng cao được hiểu là bộ
phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật cao; có kĩ năng
lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng
của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng
sáng tạo những tri thức, những kĩ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động
sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [80; tr.14]

ngành, lĩnh vực hoạt động.
Nội hàm NNLCLC
Thứ nhất, NNLCLC là lực lượng lao động có trình độ học vấn hay chuyên
môn kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu từng ngành, lĩnh vực hoạt động.
Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ là những chỉ báo
quan trọng thể hiện đặc điểm về trí lực của NNLCLC. Trình độ học vấn của


22
NNLCLC phải ở nhóm 5 trong phân loại trình độ học vấn của NNL nói chung –
tức là đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của
NNLCLC thế hiện ở họ được đào tạo trên đại học, đại học, cao đẳng, lao động
kỹ thuật lành nghề.
Thứ hai, NNLCLC là những người lao động đã trải qua quá trình đào tạo,
bồi dưỡng, rèn luyện từ thực tiễn, đáp ứng với yêu cầu công việc mà người lao
động trực tiếp tham gia hoạt động.
Thứ ba, NNLCLC là lực lượng lao động có thể lực, đạo đức tốt; tâm
huyết với nghề, trách nhiệm với công việc và có tính kỷ luật cao; luôn muốn
đóng góp sức lực, tài năng cho sự phát triển KT - XH đất nước.
Như vậy, NNLCLC là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu
cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước). Đó là: Có kiến thức (chuyên môn,
kinh tế, tin học); có kỹ năng (kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn,
làm việc hợp tác); có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc.
NNLCLC phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả
năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng.
NNLCLC có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất.
NNLCLC luôn gắn với lĩnh vực, nghề nghiệp, hoạt động kinh tế, quá trình kinh tế
cụ thể, nhất định.
1.1.2. Quan niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành
in ở thành phố Hà Nội

NNLCLC, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành trong bối cảnh mới.
Trên cơ sở khái niệm nguồn nhân lực, chúng ta quan niệm nguồn nhân lực
ngành in là bộ phận lao động có trình độ học vấn, chuyên môn kĩ thuật, có sức
khỏe và phẩm chất đáp ứng yêu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành in.
Theo đó, NNLCLC cho ngành in là bộ phận lao động đã qua đào tạo, có trình
độ học vấn hay chuyên môn kĩ thuật cao, có sức khỏe và phẩm chất cần thiết,
đáp ứng yêu cầu hoạt động SX - KD của các nhà xuất bản, nhà máy in, xí
nghiệp in, công ty in, cơ sở in.


24
Những năm qua, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, sản lượng trang
in toàn ngành chỉ tăng khoảng 5% mỗi năm, thấp hơn nhiều so với thời kỳ trước.
Vì vậy, nguồn lao động, đặc biệt lao động trực tiếp đứng máy của các doanh
nghiệp in diễn biến theo một chiều, ra nhiều hơn vào, làm cho các doanh nghiệp
thiếu hụt nguồn lao động rất nhiều, đặc biệt là lao động có tay nghề, hoặc đã qua
đào tạo trong ngành in, nhất là trong những thời điểm mang tính mùa vụ của các
doanh nghiệp in. Sự biến đổi này xảy ra ở hầu hết các cơ sở in gồm doanh
nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp nước ngoài và doanh
nghiệp tư nhân. Điều này làm cho ngành in đã rất khó khăn trong lúc đang suy
giảm kinh tế, công việc ít, giá vật tư, dịch vụ tăng cao, nhưng giá công in không
tăng lại càng khó khăn thêm.
* Quan niệm phát triển NNLCLC cho ngành in ở thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích tự
nhiên, đứng thứ hai về diện tích đô thị (sau thành phố Hồ Chí Minh) và đứng thứ
hai về dân số với 6.779.300 người (2011). Nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú,
nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của Việt Nam.
Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện
nay có diện tích 3.344,7 km², gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành.
Với sựu điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 02 quận và

tiễn của con người, sử dụng những phương tiện đó nữa…” [44; Tr .474].
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có
nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển NNL nói chung, NNLCLC nói
riêng. Theo quan niệm của Liên hiệp quốc, phát triển NNL bao gồm giáo dục,
đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển KT - XH và
nâng cao chất lượng cuộc sống NNL.
Có quan điểm cho rằng, phát triển NNL là gia tăng giá trị cho con người, cả giá
trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho
con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp
ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển KT - XH.
Một số tác giả khác lại quan niệm, phát triển là quá trình nâng cao năng
lực của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status