TRÌNH BÀY, PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CÔNG Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ VÀ HIỆN NAY TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI LUẬT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC - Pdf 50

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
--------

Đề tài 8: TRÌNH BÀY, PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KẾ
TOÁN CÔNG Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ VÀ
HIỆN NAY TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI LUẬT NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC

GVHD: PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH
LỚP : Cao học Kế toán K26 – Thứ 7
MÔN : Kế toán công
NHÓM: 08
1. Phạm Thị Bé Tý
2. Võ Ngọc Hồng Phúc
3. Trần Thị Phúc Thư
4. Nguyễn Đỗ Thư Hương

TP. Hồ Chí Minh, 12/2017

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CPI- Chỉ số già tiêu dùng
NSNN - Ngân sách Nhà nước


Giai đoạn từ 2004 đến 2011: Lạm phát tăng vọt (từ 6,6% - 19,9%). Đặc biệt, lạm phát
tăng cao kỷ lục vào năm 2008. Cụ thể: 7 tháng đầu năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) đã vượt 25%; Tháng 7/2008, khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra khiến CPI

-

âm vào 5 tháng cuối năm 2008, kéo CPI cả năm xuống ở mức 19,9%.
Giai đoạn từ 2012 đến 2015: Lạm phát giảm mạnh sau khi Chính phủ thực hiện quyết
liệt chính sách kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; điển hình như: khởi đầu là
Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011, tiếp sau đó các Nghị quyết 01/NQ-CP (ngày
3/1/2012), Nghị quyết 01/NQ-CP (ngày 7/1/2013), Nghị quyết 01/NQ-CP (ngày

-

2/1/2014) lần lượt ra đời;
Giai đoạn từ năm 2016 đến nay: Với việc kinh tế Việt Nam dần phục hồi, lạm phát đã
có xu hướng tăng trở lại (CPI năm 2016 lên đến 4,74%).
Tình hình trên đã gây ra nhiều hậu quả kinh tế xã hội nghiêm trọng như: làm
cho tiền tệ mất chức năng thước đo cũng như chức năng tích trữ giá trị, làm cho các
yếu tố của thị trường bị sai lệch, đời sống nhân dân trở nên khó khăn … Việc ngăn
chặn lạm phát trở thành một yêu cầu cấp bách của nền kinh tế xã hội.
Một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát tại Việt nam hiện nay là tình
trạng thâm hụt ngân sách, khiến cho nhà nước không thể quản lý tiền tệ và chỉ số giá
một cách hiệu quả. Thâm hụt ngân sách được gây ra do chi tiêu vượt quá khoản thu

4


của Chính phủ. Để quản lý việc chi tiêu này, Chính phủ cần phải kiện toàn hệ thống

đơn vị khác nhau như: Hệ thống kế toán kho bạc nhà nước hạch toán thu, chi NSNN
theo mục lục NSNN; Hệ thống kế toán thuế; Hệ thống kế toán hải quan; Hệ thống kế

5


toán hành chính sự nghiệp (HCSN); Hệ thống kế toán NSNN và một số hệ thống đơn
vị khác. Trong giai đoạn này, tất cả những vấn đề kinh tế của kế toán công được thực
-

hiện theo Luật NSNN năm 1996.
Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2015: Nền kinh tế Việt Nam luôn luôn phát triển theo
xu hướng chung của nền kinh tế thế giới. Để phù hợp với những thay đổi chung của
toàn xã hội, kế toán khu vực công luôn tuân thủ những quy tắc, quy định áp dụng tại
Việt Nam để hòa nhập với những thông lệ quốc tế. Năm 2002, Luật NSNN được
thông qua và chính thức áp dụng cho các đơn vị công từ năm 2004. Cùng với sự ra đời
của Luật Kế toán năm 2003, kế toán công đã có nhiều đổi mới so với giai đoạn trước.
Hệ thống kế toán kho bạc nhà nước và hệ thống kế toán NSNN được hợp nhất thành
hệ thống kế toán NSNN và nghiệp vụ kho bạc nhà nước dựa trên cơ sở là Luật NSNN
và Luật Kế toán. Hiện nay, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 08/2013/TT-BTC
hướng dẫn thực hiện kế toán nhà nước áp dụng cho Hệ thống thông tin quản lý ngân
sách và kho bạc (TABMIS); Các hệ thống kế toán khác tiếp tục được sửa đổi và hoàn
thiện.
Như vậy, có thể thấy, kế toán công được thực hiện ở nhiều hệ thống đơn vị khác
nhau, chính vì vậy mà thông tin kế toán thu thập được chưa khớp nhau do thiếu đồng
bộ, căn cứ pháp lý và cơ sở khoa học. Điều này dẫn đến những hạn chế trong quản lý
NSNN, dẫn đến nhiều hoạt động tài chính của nhà nước chưa được phản ánh đầy đủ.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Phân tích mối quan hệ giữa thực trạng kế toán khu vực công ở Việt Nam qua các
thời kỳ và hiện nay với Luật Ngân sách Nhà nước.

nhà kinh tế học Theodore Surányi-Unger, người Hungary. Tuy Surányi-Unger sử dụng
thuật ngữ khu vực công trong các nghiên cứu của mình, ông không đưa ra khái niệm
hay định nghĩa cho thuật ngữ này.
Nhiều năm sau, thuật ngữ “khu vực công” được sử dụng nhiều trong các sách
và các nghiên cứu về khu vực kinh tế có liên quan đến Nhà nước và Chính phủ. Lane
(2000) đã tổng hợp các định nghĩa về “khu vực công” và nhận định rằng có 4 định
nghĩa được sử dụng:
- Khu vực công là hoạt động của Chính phủ và kết quả hoạt động này.
-

Khu vực công là khu vực ra quyết định tổng thể mang tính nhà nước và kết quả của
các quyết định này.
- Khu vực công là khu vực tiêu dùng, đầu tư và chuyển giao của Chính phủ.
- Khu vực công là khu vực tiêu dùng và đầu tư của Chính phủ.
Rosen (2005) cũng đưa ra một định nghĩa về khu vực công:
- Khu vực công là khu vực sản xuất của Chính phủ

Có thể nói, các định nghĩa về “khu vực công” được sử dụng cho đến năm 2005
đều xoay quanh chủ đề là Chính phủ. Tuy vậy, mỗi định nghĩa lại nhắc đến một phần
khác nhau trong hoạt động của chủ thể này, từ khu vực sản xuất đến khu vực đầu tư,
khu vực tiêu dùng và rộng nhất là khu vực ra quyết định. Việc có quá nhiều định nghĩa
khác nhau được sử dụng không có tính thống nhất như thế này sẽ khiến cho các nhà
kinh tế không thể hiểu lẫn nhau khi đọc các công trình nghiên cứu.
Năm 2011, Hiệp Hội Kiểm Toán Nội Bộ (viết tắt là IIA) đã ban hành một văn
bản, trong đó hướng dẫn định nghĩa khu vực công như sau: “Khu vực công bao gồm
các cơ quan Chính phủ và các cơ quan đại diện, doanh nghiệp và các tổ chức khác, với
đặc điểm: cung cấp các chương trình, hàng hóa hay dịch vụ công”.
Tuy đưa ra định nghĩa, IIA (2011) vẫn cho rằng không thể xác định chính xác
xem một tổ chức nào đó là có hay không nằm trong cái gọi là “khu vực công” này. IIA


Quản lý các lĩnh vực trong xã hội như tài nguyên, môi trường, lao động, an ninh, quốc

-

phòng, …
Cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công như chiếu sáng công cộng, làm sạch không khí

-

…;
Cung cấp một phần lớn trong cách hàng hóa, dịch vụ được đối xử như là hàng hóa,
dịch vụ công như dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, …;
Tuy các vai trò của khu vực công được liệt kê tách rời nhau, nhưng giữa chúng
có mối liên hệ mật thiết với nhau. Xã hội ổn định chính là điều kiện cần thiết để cung
cấp các hàng hóa, dịch vụ công và các hàng hóa, dịch vụ được đối xử như là hàng hóa,
dịch vụ công. Việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công và các hàng hóa, dịch vụ
được đối xử như là hàng hóa, dịch vụ công cũng là một trong các công cụ để khu vực

9


công ổn định xã hội, thônq qua cung cầu thị trường, thông qua việc nâng cao mức
sống của người dân.

Hình 1 - Hệ thống cơ quan hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
1.2 Tổng quan về kế toán công
1.2.1 Khái niệm kế toán công
Hệ thống kế toán áp dụng trong khu vực công được gọi là kế toán công. Adams
(2004) định nghĩa kế toán công là một quá trình ghi chép, truyền thông, tổng hợp,

nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Bởi vậy, trên phương diện
-

kinh tế, có nhiều định nghĩa về NSNN khác nhau:
Dưới góc độ hình thức: NSNN là một bản dự toán thu và chi tài chính hàng năm của
nhà nước do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội quyết định và giao cho chính phủ

-

thực hiện.
Dưới góc độ về thực thể: NSNN bao gồm các nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ
thể và được định lượng. Các nguồn thu đều được nộp vào một quỹ tiền tệ và các
khoản chi đều được xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy. Thu chi quỹ này có quan hệ ràng buộc
nhau gọi là cân đối ngân sách đây là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trường.
Xét về bản chất kinh tế chứa đựng trong NSNN: Các hoạt động thu chi Ngân
sách đều phản ánh những quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã
hội gắn với quá trình tạo lập quản lý và sử dụng quỹ NSNN. Hoạt động đó đa dạng
được tiến hành trên hầu khắc các lĩnh vực và có tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã
hội. Những quan hệ thu nộp cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định
trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng để điều tiết vĩ mô kinh tế xã hội.
Như vậy, trên phương diện kinh tế có thể hiểu NSNN phản ánh các quan hệ kinh
tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ chung của

11


nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực
hiện các chức năng của mình trên cơ sở luật định.
Trên phương diện pháp lí, NSNN được định nghĩa khác nhau trong pháp luật
thực định và trong khoa học pháp lí. NSNN được định nghĩa là “một đạo luật đặc biệt,



hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước; phê
chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.
Nội dung 3 - Nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước: Ngân sách Nhà nước
được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng số
chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường
hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng
thu, chi ngân sách.
Nội dung 4 - Nguồn thu, nhiệm vụ chi của Ngân sách các cấp: Nguồn thu,
nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp từ trung ương đến địa phương (tỉnh; huyện; xã, thị
trấn; phường). Tiêu thức bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để cân
đối thu, chi ngân sách: dân số; điều kiện tự nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội.
Nội dung 5 -Lập dự toán NSNN: Dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm được
lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Các khoản thu trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh
tế và các quy định của pháp luật về thu ngân sách. Các khoản chi trong dự toán ngân
sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quản lý Nhà
nước và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với các khoản chi thường xuyên, việc lập
dự toán còn phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu
chuẩn, định mức do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.
Nội dung 6 - Chấp hành NSNN: chỉ cơ quan thuế và cơ quan Nhà nước giao
nhiệm vụ thu ngân sách (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu ngân sách Nhà
nước. Nghiêm cấm tăng chi về quỹ tiền lương đã ghi trong dự toán ngân sách được
duyệt, trừ trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép.
Nội dung 7 - Kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước: Các tổ chức, cá nhân
có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước phải tổ chức hạch toán kế toán, báo cáo và
quyết toán theo đúng chế độ kế toán Nhà nước. Kết dư ngân sách trung ương, ngân
sách cấp tỉnh được trích năm 50% chuyển vào quỹ dự trữ tài chính, 50% chuyển vào
ngân sách năm sau, nếu quỹ dự trữ tài chính đã đủ mức giới hạn thì chuyển số còn lại

- Giai đoạn quyết toán ngân sách nhà nước;

14


Nội dung 4 -Về vấn đề công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình
“Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách
nhiệm”. Ngân sách nhà nước các cấp, các đơn vị dự toán, các tổ chức, cá nhân được
ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách, tạo điều
kiện thuận lợi để phát huy dân chủ cũng như tăng cường giám sát của các cơ quan, tổ
chức và nhân dân đối với toàn bộ hoạt động Ngân sách nhà nước và quản lý, sử dụng
tài sản của Nhà nước. Việc công khai được thực hiện một cách toàn diện.
Nội dung 5 - Về trách nhiệm giải trình trước cơ quan dân cử
Luật Ngân sách nhà nước hiện hành qui định trách nhiệm báo cáo giải trình dự
toán, phân bổ dự toán, thực hiện và quyết toán ngân sách nhà nước trước Quốc hội,
Hội đồng nhân dân các cấp chủ yếu tập trung vào các cơ quan tổng hợp (cơ quan tài
chính, cơ quan kế hoạch và đầu tư các cấp).
1.4.2.3 Luật Ngân sách Nhà nước 2015
Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015 bao gồm 7 chương 77 điều quy định cụ
thể việc lập, chấp hành, quyết toán, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán ngân sách nhà nước
và về quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước các cấp trong việc lĩnh vực ngân
sách nhà nước.
Nội dung 1: Bảo đảm toàn diện, đồng bộ và chặt chẽ trong quản lý ngân sách
nhà nước. Nội dung về phân cấp quản lý NSNN phù hợp với phân cấp kinh tế - xã hội
giữa các cấp chính quyền cũng được rà soát để phù hợp với quy định hiện hành. Bám
sát quy định tại Điều 55 của Hiến pháp năm 2013 và Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc
hội tại điều 70. Thể hiện sự thống nhất xuyên suốt trong các quy định về chính sách
thu, chi ngân sách, định mức phân bổ ngân sách, bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung
có mục tiêu và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp.

Nội dung 7 - Bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu của ngân sách cấp trên
cho ngân sách cấp dưới: Bổ sung quy định tại khoản 8 Điều 9 tăng cường trách nhiệm

16


của các địa phương phát triển kinh tế, tăng quy mô ngân sách, góp phần bảo đảm cân
đối NSNN vững chắc.
Quy định 4 trường hợp được ngân sách cấp trên bổ sung có mục tiêu. Số bổ
sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định theo
định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; khả
năng ngân sách cấp trên và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương cấp dưới,
để hỗ trợ ngân sách cấp dưới trong các trường hợp cụ thể.
Nội dung 8 - Quy định về bội chi ngân sách địa phương: Lần đầu tiên Luật
NSNN mới quy định bội chi ngân sách địa phương (NSĐP) là một phần trong bội chi
NSNN.
Chỉ NSĐP cấp tỉnh mới được phép bội chi. Bội chi NSĐP chỉ được sử dụng để
đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công 5 năm đã được Hội đồng Nhân dân
(HĐND) cấp tỉnh quyết định,… Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội
chi NSĐP để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội
chi chung của NSNN. Bên cạnh đó, Luật NSNN mới cũng đã nêu rõ những quy định
về mức dư nợ vay của NSĐP.
Nội dung 9 - Các khoản thu ngân sách nhà nước: Thu từ hoạt động xổ số kiến
thiết và thu tiền sử dụng đất đều đưa vào cân đối NSNN (như Luật NSNN năm 2002)
nhưng không sử dụng để xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia nguồn thu giữa
NSTW và NSĐP hoặc xác định số bổ sung cân đối từ NSTW cho NSĐP.
Quy định rõ các khoản thu NSNN bao gồm thu từ đầu tư ra nước ngoài, thu từ
cổ tức thuộc vốn cổ phần của Nhà nước và thu tiền bán vốn, tài sản Nhà nước sau khi
giảm trừ chi phí cổ phần hoá, thu lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quy
định của pháp luật tại các doanh nghiệp Nhà nước,… để bảo đảm tính bao quát và

1.5 Các giai đoạn phát triển của Kế toán Việt Nam
1.5.1 Giai đoạn 1945 – 1975
Trong giai đoạn này, do điều kiện thực tế của đất nước lúc này là tất cả phục vụ
cho kháng chiến với điều kiện kinh tế nhiều khó khăn. Khi đó vấn đề đặt ra là làm thế
nào để Chính phủ có tiền tiêu ngay và tài chính nhà nước quan tâm chủ yếu đến tập

18


trung các nguồn thu cho Nhà nước mà chưa thực sự quan tâm đến các yêu cầu đảm
bảo an toàn tài sản và yêu cầu hiệu quả trong sản xuất và sử dụng kinh phí.
Ngày 29/05/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 75/SL thành lập Nha
Ngân khố trực thuộc BTC – một cơ quan chuyên môn đặc trách giải quyết các vấn đề
tài chính, tiền tệ. Lúc này, kế toán Nhà nước chưa được tổ chức một cách hệ thống.
Chưa có sự phân biệt về kế toán giữa đơn vị, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh với
các đơn vị sử dụng ngân sách thuần tuý của Nhà nước. Các nguyên tắc, phương pháp
kế toán mới manh nha hình thành và việc thực hiện ở mỗi đơn vị cơ sở, mỗi địa
phương qua từng thời gian chưa được quy định thống nhất. Có thể nói công tác quản
lý nhà nước về kế toán nói chung và kế toán Nhà nước nói riêng chưa được xác định
rõ ràng.
Để thực hiện chính sách động viên tài chính, ổn định tiền tệ và nghĩa vụ đóng góp
của nhân dân, cố gắng để có thể cân đối được thu, chi ngân sách đồng thời đẩy mạnh
sản xuất, phát triển lưu thông hàng hoá, ngày 06/05/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam; đồng thời giải tán Nha
Ngân khố và Nha Tín dụng sản xuất trực thuộc BTC, giao Ngân hàng Quốc gia Việt
Nam làm nhiệm vụ cho vay phát triển sản xuất và quản lý quỹ ngân sách Nhà nước.
Ngày 20/07/1951, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 107-TTg thành lập
Kho bạc Nhà nước đặt trong Ngân hàng Quốc gia và chịu sự quản lý của Bộ tài chính.
Kho bạc Nhà nước có nhiệm vụ thu, chi cho quỹ Quốc gia và được tổ chức như sau: ở
Trung ương có Kho bạc Nhà nước Trung ương, ở các khu có Kho bạc liên khu, ở các

số 56/NH-QĐ ban hành “Chế độ kế toán Quỹ ngân sách nhà nước thuộc hệ thống
Ngân hàng Nhà nước các cấp”. Đây là chế độ kế toán quỹ ngân sách hoàn chỉnh nhất
từ trước đến thời điểm đó. Chế độ kế toán này là một tham khảo chủ yếu cho việc xây
dựng Hệ thống Kế toán quỹ ngân sách tại Kho bạc Nhà nước sau này.
Nhìn lại sự ra đời và phát triển của quản lý tài chính và kế toán Nhà nước từ những
ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám đến 1988, chúng ta có thể thấy rằng hệ thống
quản lý tài chính nhà nước mà trọng tâm là quản lý ngân sách nhà nước đã có những
bước phát triển rất quan trọng.
1.4.3 Giai đoạn 1991 đến nay - kế toán theo cơ chế thị trường
Trên cơ sở kinh nghiệm đã được tích luỹ trong những năm hoạt động của Ngân
khố Quốc gia, qua tham khảo kinh nghiệm tổ chức Kho bạc, kế toán Nhà nước của
Cộng hòa Pháp và một số nước khác trên thế giới và đặc biệt là kết quả làm thí điểm

20


Kho bạc Nhà nước tại An Giang và Kiên Giang. Ngày 04/01/1990, Hội đồng Bộ
trưởng đã ký Quyết định số 07/HĐBT về việc thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước
trực thuộc Bộ tài chính và được tổ chức thống nhất từ trung ương tới huyện, quận và
cấp tương đương. Trong Nghị định có quy định Kho bạc Nhà nước có nhiệm vụ: tổ
chức quản lý hạch toán kế toán, hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê các hoạt
động thu, chi NSNN tại ngân hàng, gồm: quỹ ngoại tệ tập trung, quỹ dự trữ tài chính
NN, các tài sản và tiền tạm gửi chờ xử lý, các khoản tịch thu đưa vào tài sản nhà nước.
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao, đồng thời để quản lý các nghiệp vụ của
mình, Kho bạc Nhà nước đã tổ chức một hệ thống kế toán và thanh toán riêng trong
nội bộ, độc lập với kế toán ngân sách nhà nước, kế toán thuế, kế toán hải quan và kế
toán đơn vị hành chính sự nghiệp.
Ngày 02/03/1990, Bộ trưởng Bộ tài chính đã ký quyết định số 75 TC/KBNN ban
hành “Chế độ kế toán thống nhất tạm thời áp dụng trong hệ thống Kho bạc Nhà
nước”, đáp ứng nhu cầu ghi chép, phản ánh và cung cấp thông tin về quỹ ngân sách

nghĩa theo IIA (2001), tức là bao gồm các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp

22


và một số tổ chức khác như doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp nhà nước, các tổ
chức sử dụng quỹ công mà chịu ảnh hưởng lớn của Chính phủ trong việc cấp kinh phí
và quản lý theo 8 chỉ tiêu do IIA (2001) đưa ra. Tuy nhiên, cốt lõi của khu vực công
vẫn là các đơn vị hành chính sự nghiệp, vốn chiếm số lượng lớn và sử dụng nhiều
kinh phí của Nhà nước hơn các doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp Nhà nước, các
tổ chức sử dụng quỹ công. Như vậy, “khu vực công của Việt Nam” chỉ là một khu vực
của nền kinh tế với các đơn vị hành chính sự nghiệp từ cấp trung ương đến cấp
phường, xã, trải rộng trên khắp lãnh thổ nước Việt Nam và hoạt động trong rất nhiều
lĩnh vực, từ quản lý hành chính đến cung cấp các dịch vụ giáo dục, y tế … cho xã hội.
Với một khu vực công có cơ cấu phức tạp như vậy, hệ thống các quy định liên
quan đến các hoạt động của các đơn vị này cũng cực kỳ phức tạp. Các văn bản điều
chỉnh hoạt động của khu vực công có thể kể ra là Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Ngân
sách, Luật Doanh nghiệp, … Dưới luật còn có các Nghị định, Nghị quyết như Nghị
định quy định về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí
quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước, Nghị định quy định về cơ chế tự
chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp, … Mỗi ngành lại có các quy định riêng thể
hiện trong các văn bản từng ngành như các quyết định trong ngành y tế, ngành giáo
dục, …
2.1.2. Tổng quan về kế toán công ở Việt Nam
Không chỉ có các văn bản điều chỉnh về hoạt động của khu vực công Việt Nam
là phức tạp, hệ thống các quy định về kế toán dành cho khu vực công của Việt Nam
hiện nay cũng vô cùng phức tạp. Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Kế toán năm
2003 để thống nhất quản lý kế toán trong nước. Luật kế toán được áp dụng chung cho
kế toán cả khu vực công lẫn khu vực tư. Hiện nay, kế toán khu vực tư đang hoạt động
theo chế độ kế toán doanh nghiệp và chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ. Còn

liệt kê các hạn chế của hệ thống kế toán công Việt Nam như sau:
-

Hệ thống kế toán công Việt Nam chưa được hình thành thống nhất, chưa tuân thủ
thông lệ quốc tế và chưa có sự thống nhất giữa các lĩnh vực có liên quan đến nhau

-

trong khu vực công.
Số liệu kế toán giữa các đơn vị có liên quan đến nhau chưa đồng bộ nên không thể

-

tổng hợp và phân tích một cách hợp lý
Hệ thống thông tin kế toán chưa tập trung, chưa thể tích hợp nên không thể giúp cho

-

các chủ thể sử dụng thông tin có cái nhìn tổng thể để đưa ra quyết định đúng đắn.
Các quy định pháp lý về kế toán chưa thể theo kịp sự phát triển của nền kinh tế.
Năng lực và trình độ của nhân viên kế toán trong một số lĩnh vực của khu vực công

-

vẫn còn hạn chế.
Hạ tầng công nghệ và kỹ thuật dùng để phục vụ cho kế toán khu vực công còn hạn
chế.
Như vậy, nhìn chung, kế toán công ở Việt Nam còn rất nhiều mặt hạn chế và
không thể cung cấp được các thông tin để phục vụ quản lý.
2.2 Thực trạng kế toán khu vực công ở Việt Nam

Hệ thống kế toán thuế (thuế TNDN, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá
nhân, …): số liệu thu thuế được hạch toán để phục vụ theo yêu cầu quản lý của cơ
quan thuế. Thực tế số liệu hạch toán này không trùng khớp hoàn toàn với số liệu kế
toán ghi thu tại Kho bạc Nhà nước. Chưa có chế độ kế toán áp dụng chung cho các sắc
thuế. Hệ thống kế toán thuế (nội địa) thực hiện theo một số cơ sở pháp lý khác được
ban hành và có hiệu lực thi hành song song với Luật Ngân sách Nhà nước năm 1996.
Cụ thể như sau:
-

Luật thuế TNDN số 03/1997/QH9 được Quốc Hội khóa IX tại kỳ họp thứ 11 thông

-

qua ngày 10/05/1997 có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 thay thế cho thuế Lợi tức.
Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của Chính Phủ quy định chi tiết thi
hành Luật thuế TNDN.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status