Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học Thành Tây - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KHÁNH TRÀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH TÂY

Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ PHƯỚC MINH

HÀ NỘI, 2018


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC .............................................................................................................. 1
1.1. Nguồn nhân lực .............................................................................................. 1
1.2. Chất lượng giáo dục đại học và quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào
tạo tại các trường đại học ...................................................................................... 5
1.3. Quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại
học ....................................................................................................................... 11
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo đại học .. 22



MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động giáo dục và đào tạo, Quản lý Nhà nước đảm bảo chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho
việc duy trì các chuẩn mực và hướng tới mục tiêu không ngừng nâng cao chất
lượng đào tạo, đồng thời, đó cũng là sự thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về phát triển nguồn nhân lực và đổi mới quản lý giáo dục hiện nay:
Phải thay đổi căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục của quốc gia theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục đại học đang ngày ngày càng phát
triển, trở thành một trong những từ khóa vô cùng nóng bỏng, nhận được sự
quan tâm đặc biệt từ xã hội. Những năm gần đây, số lượng các trường đại học
dân lập được thành lập rất nhiều, trong đó có trường đại học Thành Tây.
Thành lập từ năm 2007, cho đến nay, ĐH Thành Tây đã hoạt động được hơn
10 năm, trung bình mỗi năm trường đào tạo khoảng 1000 sinh viên. Thực tế,
rất nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm. Chất lượng đào tạo
của nhiều trường, trong đó có Đại học Thành Tây vẫn còn nhiều hạn chế, rất
nhiều sinh viên ra trường vẫn chưa bắt kịp và làm quen với kỹ thuật mới của
các doanh nghiệp, tỷ lệ sinh viên làm được việc về kiến thức chuyên môn kém
đa số vừa làm vừa học kinh nghiệm của các đồng nghiệp. Điều này đặt ra cho
trường cần có sự nhìn nhận lại về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tương lai
của đất nước, cũng theo đó, cần có sự quản lý nhà nước chặt chẽ hơn để đảm
bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: " Quản lý Nhà nước
đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học Thành Tây "
làm đề tài cho luận văn của mình.



đại học Thành Tây
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo
tại Trường đại học Thành Tây
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý nhà nước (tiếp
cận từ góc độ quản lý kinh tế) trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực (sinh viên) tại trường.
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: trường đại học Thành Tây
- Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2015-2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp thu thập dữ liệu
+ Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Là những ghi chú do cá nhân
tác giả ghi chép lại trong quá trình nghiên cứu tại trường đại học Thành Tây.
+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tác giả thu thập dữ liệu thứ
cấp từ các đề tài nghiên cứu có liên quan, các báo cáo của trường trong hoạt
động đào tạo.
- Phương pháp phân tích: Để phân tích và đánh giá được thực trạng
quản lý chất lượng đào tạo tại trường, tác giả sử dụng các phương pháp như
diễn giải - quy nạp, so sánh, phân tích tổng hợp, thống kê…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Luận văn tổng hợp và hệ thống lại được cơ sở lý luận về
quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong các
trường đại học, làm tăng thêm nguồn tài liệu tham khảo.
Về thực tiễn: Luận văn phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đảm bảo
3


tại và tương lai của chính họ.
Theo nghĩa rộng , NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho toàn XH, bao
gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường; là một yếu tố của sự phát
triển KTXH, là khả năng LĐ của XH theo nghĩa hẹp, bao gồm nhóm dân cư
trong độ tuổi lao động có khả năng LĐ; là tổng hợp những con người cụ thể
tham gia vào quá trình LĐ, là tổng thể yếu tố về vật chất và tinh thần được
huy động vào quá trình LĐ. (Trần Văn Tùng, 2015).
Theo nghĩa hẹp, NNL bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt
động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức. Nó được coi là nguồn tài
nguyên quý báu nhất của tổ chức. Trong quá trình hoạt động của mình mọi tổ
chức đều biết tận dụng một cách tối đa khai thác tiềm năng thể lực của con
người, trong đó việc khai thác tiềm năng về mặt trí lực của con người còn rất
mới mẻ và trong giai đoạn đầu (Trần Văn Tùng, 2005).
NNL là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng
LĐ, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm

1


đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc
gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương
lai.( Phạm Minh Hạc, 2012).
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện khoa học Lao động và
các vấn đề xã hội, xem xét NNL dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năng
động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã
hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vật
chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét NNL dưới dạng tiềm năng giúp định
hướng phát triển NNL để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của
NNL thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên, nếu chỉ
dừng lại xem xét NNL dưới dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm


Đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là điều cần thiết, điều này
xuất phát từ vai trò của nguồn nhân lực. Bởi xét đến cùng yếu tố giữ vai trò
chi phối, quyết định sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản
xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó
người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu. Ph. Ăngghen đã từng nhấn
mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư
liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác cũng không đủ mà cần có những
người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó. Như vậy vai trò của
nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát
triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.
- Con người là động lực của sự phát triển
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị
trí địa lý…là những khách thể, chịu sự khai thác cải tạo của của con người.
Các nguồn lực này tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác
dụng phải có sự kết hợp với nguồn lực con người ,thông qua hoạt động có ý
thức của con người. Con người với tất cả những năng lực, phẩm chất tích cực

3


của mình, bao gồm trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động, sáng
tạo…tác động vào các nguồn lực khác và gắn kết chúng lai để tạo ra hoạt
động lao động phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Chính con người là nhân tố
làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động cơ khí
và lao động trí tuệ. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà khoa học và công
nghệ đã trở thành bộ phận trực tiếp của lượng sản xuất thì con người lai là
nhân tố tạo ra các tư liệu lao động hiện đại, sử dụng, khai thác đưa chúng vào
hoạt động lao động nếu không những nguồn lực khác đó chỉ là những vật chất
vô tri vô giác. Như vậy để xã hội thực sự phát triển thì động lực lớn nhất,

Chính vì vậy, để có thể có được một nguồn nhân lực có chất lượng,
ngay từ đầu vai trò của giáo dục hết sức quan trọng và cần thiết phải đảm bảo
chất lượng đào tạo sinh viên – nguồn nhân lực trong tương lai. Đó là sự thay
đổi rất lớn, căn bản, chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang việc đào tạo
những con người có phẩm chất, năng lực, tiếp cận với yêu cầu hiện hữu là
nguồn nhân lực có chất lượng không chỉ phục vụ trong đổi mới trong nước
mà còn cạnh tranh với nguồn nhân lực chất lượng cao các nước khác.
1.2. Chất lượng giáo dục đại học và quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào
tạo tại các trường đại học
1.2.1. Khái niệm đào tạo đại học

Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỳ năng thực hành, nghề nghiệp hay
kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm giữ
những tri thức, kỳ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc
nhất định.
Khái niệm về đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục,
thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ
tuổi nhất định, có một trĩnh độ nhất định.

5


Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo
chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo...
Đào tạo đại học là giai đoạn đào tạo giáo dục thường diễn ra ở các
trường đại học, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, học viện, và viện công
nghệ. Đào tạo đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao
đẳng, đại học, và sau đại học và gồm cả một số cơ sở giáo dục bậc đại học
hay cao đẳng như các trường huấn nghệ và trường kinh doanh có trao văn

với sự vật khác.
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào
tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, 2008).
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở
các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng
lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương tình đào
tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức ,2010).
Chất lượng đào tạo là chất lượng thực hiện các mục tiêu đào tạo (Lê
Đức Phúc, 2008). Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo được xem là
nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở đào tạo đại
học nói riêng.
Sản phẩm của quá trình đào tạo là con người và các dịch vụ đào tạo
(đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị
nhân văn và năng lực vận hành nghề nghiệp. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu
nhân lực của thị trường lao động, quan điểm về chất lượng đào tạo không chỉ
dừng ở kết quả của quá trình đào tạo với những điều kiện đảm bảo chất lượng
như: Cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên,... mà còn phải tính đến mức độ phù
họp và thích ứng của học sinh tốt nghiệp đối với yêu cầu công việc, yêu cầu
của người sử dụng lao động và xã hội.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng: Chất lượng đào tạo trước hết phải là
kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp
của người học. Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ

7


thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc các yếu tố của thị trường như:
Quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và bố trí công
việc của Nhà nước, người sử dụng lao động. Do đó khả năng thích ứng còn
phản ánh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động.

chất lượng đào tạo.
Đặc điểm chủ yếu của hệ thống này là tính tự chịu trách nhiệm của các
cơ sở đào tạo đại học trước cộng đồng về chất lượng đào tạo của mình. Nhà
nước tạo điều kiện, hỗ trợ các sáng kiến nhằm củng cố hệ thống giáo dục đại
học bằng cách tập trung vào kết quả đầu ra.
Hoạt động đảm bảo chất lượng là sự phối hợp có trách nhiệm giữa cơ
sở giáo dục đại học với cơ quan bên ngoài, nhưng trách nhiệm chính vẫn
thuộc về cơ sở giáo dục đại học. Chất lượng chỉ có thể được duy trì và nâng
cao nhờ các hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý chất lượng trong nhà
trường; là kết quả của sự tự đánh giá và điều chỉnh hoạt động của cơ sở giáo
dục đại học.
1.2.3.3. Thanh tra chất lượng

Thanh tra chất lượng là việc của một nhóm người do các cơ quan hữu
quan cử tới xem xét một cách kỹ lưỡng quá trình đảm bảo chất lượng và kiểm
tra chất lượng tại một cơ sở đào tạo đại học có được thực hiện một cách hợp
lý và đúng kế hoạch hay không.
Thanh tra chất lượng thường không quan tâm tới sứ mạng, mục tiêu
của cơ sở đào tạo đại học hoặc những mục tiêu này đạt được như thế nào mà
duy nhất chỉ quan tâm đến quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược tại một
thời điểm nhất định.
1.2.3.4. Kiểm định chất lượng

Kiểm định chất lượng đào tạo đại học là thuật ngữ được sử dụng nhiều
nhất ở Hoa Kỳ. Kiểm định có thể được áp dụng cho một cơ sở giáo dục đại
học (có thể chỉ là một chương trình đào tạo đại học) dựa trên bộ tiêu chí xác
định. Kết quả của kiểm định chất lượng nhằm đảm bảo với cộng đồng cũng
như với các tổ chức hữu quan rằng một cơ sở đào tạo đại học có những mục

10

thức với lãnh đạo, vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù

11


hợp. Cơ chế đúng hợp lý thì xã hội phát triển và ngược lại cơ chế sai thì xã
hội chậm phát triển, rối ren.
Theo góc độ hành động: Quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều
hành.
Theo C.Mac, quản lý, quản lý xã hội là chức năng được sinh ra từ tính
chất xã hội hóa lao động. Người viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần
một sự chỉ đạo đề điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng
phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động
của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng’’.
Từ cơ sở lý luận trên, ta thấy Quản lý là sự tác động có chủ đích của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn
các quá trình xã hội và hành vi cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung
và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của
nhà nước, là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân. Quản lý nhà
nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (Lập pháp,
hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền hành nhà nước thông qua các văn
bản quy phạm pháp luật.
* Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo
Chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm của cộng đồng xã hội, của nhà
nước và của các cơ sở đào tạo. Chính vì vậy, trong định hướng quản lý của
mình, nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bảo đảm chất lượng giáo dục. Vai
trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học ở mỗi quốc gia có thể

thông qua quy hoạch mạng lưới trường đại học. Sự điều chỉnh trong các nội
quy hoạch về số lượng các cơ sở giáo dục đào tạo trên phạm vi quốc gia và
từng vùng lãnh thổ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chung của giáo

13


dục đại học. Những định hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển cho mỗi
thời kỳ cũng đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với nguồn nhân lực, từ đó,
có tác động đến hoạt động đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học.
Mặt khác, bằng cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhà nước kịp thời
xử lý các vấn đề chưa hợp lý trong hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học,
chấn chỉnh các vi phạm của các cơ sở giáo dục đại học trong tổ chức đào tạo
để đảm bảo chất lượng đào tạo.
Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu,
chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi
cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực
hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của cơ sở giáo dục (Luật giáo dục, 2010)
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc nhà nước thực hiện
quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào
tạo trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước.
Quản lý nhà nước về giáo dục vào đào tạo là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào
tạo do cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của nhà nước từ trung
ương đến cơ sở tiến hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của
nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì kỷ cương,
thỏa mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo
dục và đào tạo của nhà nước.
Những yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo:

quản lý nhà nước đối với các trường ĐH (Nghị định số 32/2007/NĐ-CP ngày
19/3/2008 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Giáo dục và Đào tạo).
- Các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản
lý nhà nước đối với các trường ĐH theo quy định của Chính phủ.
- Các Bộ có cơ sở giáo dục trực thuộc có trách nhiệm:

15


Chỉ đạo, kiểm tra các trường ĐH trực thuộc Bộ trong việc bảo đảm các
điều kiện về thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo, thực
hiện quy chế tuyển sinh đào tạo, liên kết đào tạo; quản lý cấp phát văn bằng,
chứng chỉ; thu, chi học phí, công khai chất lượng giáo dục, công khai các điều
kiện đảm bảo chất lượng giáo dục; Công khai tài chính; xây dựng quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục theo quy định của pháp luật.
Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hằng
năm về tổ chức hoạt động và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục của
các cơ sở giáo dục trực thuộc Bộ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về lĩnh vực
giáo dục, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

16


Hình 1.1. Sơ đồ quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường
đại học

- Ủy ban nhân dân các cấp:

Quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục: Thời gian đào tạo, điều
kiện học lực, văn bằng tốt nghiệp...
Quy định mạng lưới các trường, danh mục các ngành nghề đào tạo,
mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo.
Ban hành các quy chế tuyển sinh, quản lý học sinh sinh viên, nghiên
cứu sinh.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status