VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THÙY MINH
QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở THỊ XÃ NGHĨA LỘ,
TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã
số: 8340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TÉ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.NGUYỄN XUÂN DŨNG
Hà Nội -2018
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước ở thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái" là của riêng tôi.
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác.Các vấn đề trong
luận văn là xuất phát từ tình hình thực tế công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ
bản từ ngân sách Nhà nước tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2018
Tác giả
GTSX
Giá trị sản xuất
KBNN
KT-XH
Kho bạc Nhà nước
Kinh tế - Xã hội
NSNN
NSTW
Ngân sách nhà nước
Ngân sách Trung ương
QLDA
TSCĐ
Quản lý dự án
Tài sản cố định
TW
UBND
Trung ương
Ủy ban nhân dân
XDCB
4
được những kết quả nhất định, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau từ điểm xuất
phát thấp, hệ thống các văn bản pháp quy chưa đồng bộ, việc triển khai ở cơ sở còn
lúng túng, lực lượng cán bộ có chuyên môn quản lý đầu tư chưa nhiều, dẫn đến tình
trạng còn nhiều sai phạm trong quản lý, hiệu quả đầu tư chưa cao...
Các kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân địa phương được
nghiên cứu là thị xã Nghĩa Lộ, mà còn là tài liệu tham khảo bổ ích cho nhiều địa
phương khác trong cả nước.
Trong
bối
v
ố
n
d
ự
n
g
n
á
c
L
,
t
n
x
n
n
t
ộ
ả
h
ở
a
Q
h
n
được chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành
quản lý kinh tế là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về quản lý vốn đầu tư từ
nguồn ngân sách nhà nước, quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ
bản, cho đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn
ngân sách nhà nước, trong đó có một số công trình nghiên cứu chủ yếu như:
Đề cập đến vấn đề quản lý vốn đầu tư từ NSNN tại một địa bàn cụ thể, luận án
tiến sĩ của Cấn Quang Tuấn (2009) “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách Nhà nước do thành phố Hà Nội quản
lý” tập trung nghiên cứu một số vấn đề chung về đầu tư XDCB và vốn đầu tư XDCB
thuộc NSNN. Thông qua đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất các giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB tập trung từ NSNN do thành phố
Hà Nội quản lý.
5
Luận án tiến sĩ của Lê Thế Sáu (2012) “Hiệu quả dự án đầu từ bằng vốn
ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ” đã tổng quan các vấn đề dự án đầu
tư và xây dựng một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của dự án. Với việc sử dụng
phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng, tác giả đã đề xuất nhóm
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án có tính thuyết phục cao. Song vấn đề nghiên cứu chỉ
liên quan đến địa bàn cụ thể (đối tượng nghiên cứu: Hà Nội hay Bắc Giang) nên khó
áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập.
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Toàn Thắng (2012) “Quản lý vốn đầu tư xây dựng
sách nhà nước, phân cấp quản lý ngân sách tại địa bàn tỉnh Hà Tĩnh và đề xuất một số
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương này.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Minh Dương (2011) ""Một số giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
tại tỉnh Hưng Yên” đã trình bày lý luận về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách nhà nước, phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, từ đó đề ra một số giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa
bàn tỉnh.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Trịnh Thị Thúy Hồng (2012) "Quản lý chi ngân
sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Định” đã trình
bày lý luận cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản,
phân tích thực trạng chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn
tỉnh Bình Định giai đoạn 2006-2010, đề xuất 7 nhóm giải pháp tăng cường quản lý chi
ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình Định trong
những năm tiếp theo.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Minh Tiến (2012) “Hoàn thiện quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc’" đã trình
bày những lý luận về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước và quản lý
7
vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước, phân tích thực trạng quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
2008-2012, từ đó đê ra các giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước trên địa bàn.
Bên cạnh đó còn có nhiều tài liệu hội thảo khoa học, báo cáo chuyên đề về vấn
đề này như: Tài liệu hội thảo “Tái cơ cấu đầu tư công trong bối cảnh đổi mới mô hình
tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam” tại thành phố Huếngày 2829/12/2010 do Ủy ban Kinh tế Quốc hội phối hợp với Viện Khoa học xã hội tổ chức;
dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước.
-
Phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, làm rõ thành tựu đạt được, hạn chế và
nguyên nhân chủ yếu.
-
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách nhà nước tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái trong bối cảnh mới.
4. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từngân sách nhà nước tại thị xã
Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi về không gian
Nghiên cứu trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
4.2.2. Phạm vi về thời gian
Giai đoạn từ năm 2014-2016, giải pháp đến năm 2020.
4.2.3. Phạm vi về nội dung
Hoạt động quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước trên địa
bàn thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập thôngtin
-
Thông tin thứ cấp
Đ
ố
i
T
ô
n
g C
ỡ
T
ỷ
T
tĐơn ưvị hưởng
ợ lợi
n
g t
h 35 e
( m
ẫ32 u
t
r43,24
ọ
1
2
3
Đơn vị xây lắp
Ban quản lý dự án
25
0
Như vậy, tác giả tiến hành điều tra 80 mẫu của ba nhóm đối tượng tại địa
bàn thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
Phiếu điều tra được xây dựng sẵn gồm hai phần chính là: phần một giới
thiệu cơ bản về đối tượng điều tra, phần hai là nội dung điều tra. Các câu hỏi
điều tra cụ thể được chọn lọc từ phần vấn đề cần tìm hiểu, giải quyết. Các chỉ
10
tiêu định tính sẽ được người trả lời đánh giá và xếp hạng từ 1 đến 5 tương ứng
với “rất không hài lòng”, “không hài lòng”, “bình thường”, “khá hài lòng”, “rất
hài lòng”.
Để xác định ý kiến phản hồi của người tham gia trả lời phiếu điều tra, tác
giả sử dụng các câu hỏi với thước đo 5 bậc được trình bày ở trên. Để giúp phân
tích
L
và
i
k
diễn
đạt
số
ứ
5
M
ứ
đ
á
n
Rất hài lòng
c
h
K
h
o
ả
n
g
n
4,20 - 5,00
Ý
g
h
Tốt
4
a
Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu
Sau khi thu thập các số liệu, tư liệu, tiến hành phân loại, sắp xếp theo thứ tự ưu
tiên về độ quan trọng của thông tin để đưa vào sử dụng trong quá trình nghiên cứu
đề tài.
Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình Excel trên máy tính.
Dựa trên các số liệu thu thập để tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số
tuyệt đối, số tương đối, số trung bình và lập thành các bảng biểu, đồ thị.
5.3.
-
Phương pháp phân tích thông tin, số liệu
Phương pháp phân tích thống kê
1
1
Sử dụng các chỉ tiêu thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, tỷ trọng, số
bình quân số học, phương pháp so sánh, phương pháp mô tả. Các nội dung về
vốn đầu tư, số lao động, hình thức đầu tư, ngành nghề và lĩnh vực đầu tư để
phân tích biến động và xu hướng biến động sự thay đổi của mức đầu tư xây
dựng cơ bản bằng vốn ngân sách của thị xã Nghĩa Lộ.
-
Phương pháp so sánh
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ ngân sách nhà nước
Chương 2: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước ở thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư
xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
1
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.
Tổng quan về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước
1.1.1.
Các khái niệm
Vốn đầu tư: Là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất.
Vốn là yếu tố quan trọng nhất đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước
trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nền kinh tế nước ta hiện
Quản lý vốn đầu tư từ NSNN là tác động của chủ thể quản lý (Nhà nước) lên các
đối tượng quản lý (vốn đầu tư, hoạt động sử dụng vốn đầu tư) trong điều kiện biến
động của môi trường để nhằm đạt được các mục tiêu nhất định. [13, tr. 70]
1.1.2.
Đặc điểm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
Là một loại vốn đầu tư nên nó có các điểm giống với nguồn vốn đầu tư thông
thường, ngoài ra vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn có những đặc điểm khác như sau:
-
Khác với vốn kinh doanh của doanh nghiệp (là loại vốn được sử dụng với mục đích
sinh lợi và có quá trình hoạt động vì lợi nhuận) vốn đầu tư XDCB từ NSNN về cơ
bản không vì mục tiêu lợi nhuận mà được sử dụng vì mục đích chung của đông đảo
mọi người, lợi ích lâu dài cho một ngành, địa phương và cả nền kinh tế. Vốn đầu tư
XDCB tập trung chủ yếu để phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật hoặc định hướng
hoạt động đầu tư vào những ngành,lĩnh vực chiến lược.Đây là một đặc điểm quan
trọng, góp phần quyết việc sử dụng vốn đầu tư, để lựa chọn hình thức đầu tư sao
cho mang lại hiệu quả cao nhất.
-
Vốn đầu tư lấy nguồn từ NSNN do đó nó luôn gắn bó chặt chẽ với
NSNN, được các cấp thẩm quyền quyết định đầu tư vào lĩnh vực XDCB cho nền kinh
tế, cụ thể vốn đầu tư được cấp phát dưới hình thức các chương trình dự án trong tất cả
các khâu cho đến khi hoàn thành và bàn giao công trình để đưa vào sửdụng.
-
Đầu tư XDCB từ NSNN chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà nước, nhằm
thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thờikỳ.
Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Được nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua việc phê duyệt quyết định đấu thầu,
kết quả đấu thầu, giám sát quá trình thực hiện đầu tư, phê duyệt quyết toán đầu tư.
1.1.3.3.
Giai đoạn kết thúc đầu tư:
Nhà nước quản lý thông qua việc nghiệm thu bàn giao công trình (công trình hoàn
chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hành đúng yêu cầu kỹ thuật và nghiệm thu đạt yêu
cầu chất lượng). Nhà nước quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trên cơ
sở tính toán tổng mức thu, mức chi ngân sách xác định chi vào mục đích đầu tư xây
dựng cơ bản. Khối lượng vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước gồm: vốn trong nước,
vốn nước ngoài, được phân bổ cho các bộ, ngành và các địa phương theo mục tiêu cụ
thể. Nguồn vốn này thuộc nguồn vốn nhà nước được nhà nước trực tiếp chi phối theo
kế hoạch vì vậy có khả năng theo dõi, nắm bắt được từ khâu giao kế hoạch cho đến khi
thực hiện qua các bộ, ngành, địa phương, qua hệ thống ngành dọc thống kê, qua hệ
thống cấp phát tài chính.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách nhà nước
1.1.4.1.
Công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản
Căn cứ Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ, Nghị
định số 49/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 209/2004/NĐ-CP,
Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 12/2005/TT-BXD ngày 15/7/2007 về quản lý
Vốn NSNN chỉ sử dụng để đầu tư các dự án kết cấu hạ tầng, quốc phòng, an ninh ít
có khả năng thu hồi vốn và được quản lý phân cấp về chi phí ngân sách cho đầu tư
phát triển, hỗ trợ cho các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần
có sự tham gia của nhà nước theo quy định của pháp luật. Chi cho công tác điều tra
khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng lãnh thổ, quy
hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép, cho
vay của Chính phủ để đầu tư
phát triển, vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại cho DNNN đầu tư.
- Để tăng cường công tác quản lý vốn NSNN cho đầu tư xây dựng, Chính phủ đã
ban hành một số Nghị định như: Nghị định số12/2009/NĐ- CP ngày 12/02/2009vềquản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 về
sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP; Số 112/2009/NĐ-CP ngày
14/12/2009 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình. Trong đó, Chính phủ quy
định thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn nhà nước. Quy định này
ngoài việc phân cấp quản lý ngân sách còn có một yếu tố quan trọng đó là đối với từng
nhóm dự án, việc sử dụng vốn ngân sách phải tuân thủ quy chế đầu tư và vốn đầu tư.
Việc quy định chặt chẽ danh mục các dự án đầu tư XDCB được sử dụng vốn NSNN và
thẩm quyền quyết định các dự án sử dụng vốn NSNN là khâu quan trọng nhất, có ý
nghĩa lớn trong công tác quản lý vốn NSNN trong đầu tư xây dựng.
1.1.4.3.
Cấp phát vốn và thanh toán vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ
bản
Nhằm không ngừng hoàn thiện chính sách tài chính, Luật NSNN năm 2002 và
Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/3/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật NSNN, Nghị định số 112/2009/NĐ- CP ngày 14/12/2009 của
Công tác quyết toán vốn hàng năm: Công tác này được tiến hành giữa 2 ngành tài
chính và kho bạc, một bên là cơ quan quản lý cấp phát vốn (Bộ Tài chính, Sở Tài
chính, Phòng Tài chính - Kế hoạch) và một bên là cơ quan thanh toán vốn (kho bạc nhà
nước) theo quy định của Luật NSNN và hướng dẫn của Bộ Tài chính. Đây là một khâu
quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý vốn đầu tư XDCB.
Quyết toán vốn đầu tư XDCB đối với dự án hoàn thành: Quyết toán vốn đầu tư
XDCB là công việc cuối cùng trong công tác quản lý vốn đầu tư XDCB nói chung và
vốn NSNN cho đầu tư XDCB nói riêng. Quyết toán vốn đầu tư đối với công trình
XDCB hoàn thành là một việc làm cần thiết và mang tính nguyên tắc trong quản lý đầu
tư xây dựng (thực hiện Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ
về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình và Thông tư 05/2007/TT-BXD ngày
25/7/2007 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công
trình và Luật thực hành tiết kiêm chống lãng phí ngày 29/11/2005, Luật phòng chống
tham nhũng ngày 29/11/2005). Việc quản lý quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy
đủ, chính xác tổng mức đầu tư đã thực hiện, phân định rõ nguồn vốn đầu tư, vốn đầu tư
chuyển thành TSCĐ, tài sản lưu động hoặc chi phí không thành tài sản của dự án. Công
tác quyết toán vốn đầu tư khẳng định được số lượng, năng lực sản xuất, giá trị TSCĐ
mới tăng do đầu tư mang lại để có kế hoạch huy động sử dụng kịp thời và phát huy
hiệu quả đầu tư của dự án. Qua đó đánh giá trách nhiệm của chủ đầu tư, đánh giá kết
quả đầu tư, rút kinh nghiệm nhằm tăng cường công tác quản lý trong đầu tư xây dựng,
cụ thể:
-
Các công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước sau khi hoàn thành đều phải thực
hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình.
-
Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá
trình đầu tư để đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí
cán bộ, công nhân lao động trong XDCB cần được đào tạo kỹ lưỡng thì mới hoàn thành
tốt những nhiệm vụ được giao. Không chỉ có chuyên môn, kỹ thuật tốt mà đội ngũ này
cũng phải có tâm, có đức trong công tác được giao thì hoạt động đầu tư XDCB mới đạt
kết quả tốt. Bởi nếu không có đạo đức nghề nghiệp sẽ dễ dẫn đến ăn bớt vật liệu, gây
thất thoát lãng phí và giảm chất lượng công trình.
1.2.
Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước và rút
ra bài học có thể áp dụng vào thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
1.2.1.
Kinh nghiệm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước của tỉnh Phú Thọ
Năm 2013, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ đạt hơn
3.277 tỷ đồng. Việc tổng hợp, phân bổ các nguồn vốn từ NSNN, trái phiếu Chính phủ
năm 2013 được triển khai thực hiện kịp thời, đồng bộ, đảm bảo đúng các quyết định,
chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương.
Việc bố trí vốn đầu tư được chú trọng, giảm tối đa các dự án khởi công mới, tăng
số dự án hoàn thành, ưu tiên bố trí vốn trả nợ xây dựng cơ bản... đã góp phần nâng cao
hiệu quả đầu tư.
Việc phân cấp đầu tư theo Quyết định số 04/2013/QĐ-UBND của Chủ tịch
UBND tỉnh đã tạo điều kiện cho các chủ đầu tư chủ động lập, thẩm định, triển khai
thực hiện dự án, huy động nguồn lực cho dự án. UBND tỉnh đã kịp thời ban hành các
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các sở, ngành, UBND các huyện, các chủ đầu tư trên địa
bàn thực hiện các cơ chế, chính sách mới về đầu tư xây dựng, xử lý kịp thời các vướng
mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện. Các dự án khu đô thị, dự án về nhà ở, dự án sử
- Hải Phòng, Việt Trì - Hà Giang - Trung Quốc, hành lang đường 18. Với những cơ hội
chủ yếu trên, những năm qua Vĩnh phúc đã phát huy được nội lực, thu hút được đầu tư,
sau 8 năm phát triển từ một tỉnh nông nghiệp đã nhanh chóng trở thành tỉnh công
nghiệp (cơ cấu kinh tế CN-DV-NN năm 2005 là 52,4% - 27,1% - 20,5%). NSNN từ
chỗ khó khăn tiến tới có nguồn thu lớn và chủ động. Từ kinh nghiệm quản lý vốn đầu
tư xây dựng cơ bản từ NSNN của Vĩnh Phúc có một số điểm đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, thực hiện tốt cả việc quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN đồng
thời với chính sách thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Tỉnh Vĩnh Phúc coi quản lý sử
dụng vốn đầu tư từ ngân sách là một nguồn vốn “mồi”, xúc tác tạo tiền đề để phát triển
kinh tế - xã hội. Việc quản lý nguồn vốn này theo một quy trình rất chặt chẽ vừa phân
cấp để tạo điều kiện cho cơ sở nhưng gắn với trách nhiệm cơ sở và sự hướng dẫn của
cấp trên. Mặt khác, vừa tập trung để làm một số công trình hạ tầng.Đặc biệt là ưu tiên
hạ tầng giao thông vận tải coi đây là khâu đột phá.Tất cả các vốn có nguồn gốc NSNN
đều phải được HĐND tỉnh xem xét chuẩn y trước khi phân bổ, quyết định.
Nhờ kế thừa những kinh nghiệm của quản lý thu hút đầu tư và kinh nghiệm quản
lý vốn đầu tư NSNN nên hai việc này bổ sung cho nhau những kinh nghiệm quý và tạo
nên những hiệu quả tương đồng trong công việc. Chẳng hạn, trong thu hút vốn đầu tư:
Tỉnh Vĩnh Phúc luôn xác định quy hoạch đi trước, đền bù làm trước, làm tốt để luôn có
một quỹ đất để dành; tính luôn tạo thuận lợi để thu hút và giữ chân các nhà đầu tư bằng
cách quan tâm đến lợi ích các doanh nghiệp và môi trường đầu tư. Nhiều nhà đầu tư
mở rộng kinh doanh được cho thuê thêm đất liền kề với diện tích lớn hơn ban đầu, tiếp
tục đấu giá quyền sử dụng đất, kêu gọi đầu tư theo hình thức BT, BOT, BO... ngoài ra
tỉnh Vĩnh Phúc rất coi trọng xây dựng cơ sở hạ tầng và cải cách hành chính, là một
trong những địa phương dẫn đầu về cải cách hành chính tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp. Với một tầm nhìn xa, hiện nay Vĩnh Phúc đẩy mạnh phát triển ngành nghề dịch
vụ cao cấp như dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông.
Thứ hai, mặc dù đạt được tốc độ phát triển rất cao, GDP tăng 17-18% năm nhưng
tỉnh luôn coi trọng phát triển bền vững, gắn phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh
Tập trung chỉ đạo và làm tốt công tác lập quy hoạch XD: Chú trọng quy hoạch
chung của tỉnh, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, lãnh thổ, trừ những trường hợp đặc
biệt, bất khả kháng, còn không bố trí vốn đối với những công trình XD không có trong
quy hoạch, thực hiện công khai hoá quy hoạch bảo đảm dân chủ, khi quy hoạch được
duyệt thì phải thực hiện và quản lý đúng và thống nhất.
Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hoá, kế hoạch XDCB: Phải xuất
phát từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân và phải được cấp ủy
chính quyền các cấp từ cơ sở xem xét và đề nghị, tiến tới xã hội hoá công tác đầu tư và
xây dựng, giảm tải các công trình đầu tư, ngân sách Nhà nước, xoá bỏ cơ chế “xin cho”.
Nâng cao chất lượng công tác lập thẩm định phê duyệt dự án: Trách nhiệm của
cơ quan đầu mối và trách nhiệm cá nhân của người có thẩm quyềnquyết định trong
từng lĩnh vực và quyết định đầu tư đối với hiệu quả của dự án.
Bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp lý: Bảo đảm Nhà nước phải cân đối và kiểm soát
được nguồn vốn đầu tư, không triển khai xây dựng các dự án thiếu thủ tục XDCB hoặc
không có khả năng cân đối vốn, không để tình trạng triển khai xây dựng rồi mới chạy
vốn.
Nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư: Chủ đầu tư phải có trách nhiệm trước pháp
luật về quản lý vốn Nhà nước đã giao cho, tránh tình trạng khi có sự cố thì đổ lỗi do
thiếu chuyên môn nghiệp vụ hoặc điều kiện khách quan gây nên.
Tăng cường đôn đốc, kiểm soát công tác quyết toán công trình: Đôn đốc làm hồ
sơ quyết toán công trình kịp thời khi bàn giao đưa vào sử dụng. Kiểm tra, giám sát