Quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường đại học thành tây - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KHÁNH TRÀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH TÂY

Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ PHƯỚC MINH

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học
thuật. Tôi cam đoan bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này là do Tôi tự
thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội , ngày

tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Khánh Trà

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 74


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1. Sơ đồ quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường đại
học ....................................................................................................................... 17
Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của trường đại học Thành Tây ......................... 34
Bảng 2.1. Các ngành đào tạo của trường đại học Thành Tây ............................. 40
Bảng 2.2. Chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo của trường đại học Thành Tây ................ 43
Bảng 2.3. Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo tại trường ......................................... 51
Bảng 2.4. Cơ sở vật chất ký túc xá tại trường ..................................................... 53
Bảng 2.5. Tình hình máy móc, phương tiện đào tại trường ................................ 54
Bảng 2.7. Kết quả đào tạo sinh viên tại trường .................................................. 55
Bảng 3.1. Dự báo nhu cầu nhân lực của xã hội đến 2020 ................................... 62


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hoạt động giáo dục và đào tạo, Quản lý Nhà nước đảm bảo chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó đảm bảo cho
việc duy trì các chuẩn mực và hướng tới mục tiêu không ngừng nâng cao chất
lượng đào tạo, đồng thời, đó cũng là sự thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về phát triển nguồn nhân lực và đổi mới quản lý giáo dục hiện nay:
Phải thay đổi căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục của quốc gia theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục đại học đang ngày ngày càng phát
triển, trở thành một trong những từ khóa vô cùng nóng bỏng, nhận được sự
quan tâm đặc biệt từ xã hội. Những năm gần đây, số lượng các trường đại học
dân lập được thành lập rất nhiều, trong đó có trường đại học Thành Tây.


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC

1.1. Nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm

Theo David Begg, Stanley Fischer và Rudiger Dornbush thì NNL được
hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được
đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Các tác giả này
cho rằng kiến thức mà con người tích lũy được trong quá trình LĐ SX là mấu
chốt vì chính kiến thức đó giúp họ tạo ra của cải, tài sản cho cuộc sống hiện
tại và tương lai của chính họ.
Theo nghĩa rộng , NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho toàn XH, bao
gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường; là một yếu tố của sự phát
triển KTXH, là khả năng LĐ của XH theo nghĩa hẹp, bao gồm nhóm dân cư
trong độ tuổi lao động có khả năng LĐ; là tổng hợp những con người cụ thể
tham gia vào quá trình LĐ, là tổng thể yếu tố về vật chất và tinh thần được
huy động vào quá trình LĐ. (Trần Văn Tùng, 2015).
Theo nghĩa hẹp, NNL bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt
động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức. Nó được coi là nguồn tài
nguyên quý báu nhất của tổ chức. Trong quá trình hoạt động của mình mọi tổ
chức đều biết tận dụng một cách tối đa khai thác tiềm năng thể lực của con
người, trong đó việc khai thác tiềm năng về mặt trí lực của con người còn rất
mới mẻ và trong giai đoạn đầu (Trần Văn Tùng, 2005).
NNL là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng
LĐ, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm


2


một giới hạn và phạm vi chính xác khi sử dụng thuật ngữ khoa học này trong
từng lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. (Trần Văn Tùng, 2015).
Từ các quan niệm trên, NNL được hiểu theo hai nghĩa:
+ NNL là nguồn cung cấp sức LĐ cho SXXH, cung cấp nguồn lực cho
sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình
thường.
+ NNL là khả năng LĐ của XH, là nguồn lực cho sự phát triển KTXH,
bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi LĐ, có khả năng tham gia vào LĐ, là
tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp của họ được huy
động vào quá trình LĐ.
1.1.2. Sự cần thiết phải đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

Đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là điều cần thiết, điều này
xuất phát từ vai trò của nguồn nhân lực. Bởi xét đến cùng yếu tố giữ vai trò
chi phối, quyết định sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lượng sản
xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm sức lao động và tư liệu sản xuất trong đó
người lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu. Ph. Ăngghen đã từng nhấn
mạnh rằng muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư
liệu cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác cũng không đủ mà cần có những
người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó. Như vậy vai trò của
nguồn nhân lực xuất phát từ vai trò quan trọng của con người trong sự phát
triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.
- Con người là động lực của sự phát triển
Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị
trí địa lý…là những khách thể, chịu sự khai thác cải tạo của của con người.
Các nguồn lực này tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, muốn phát huy tác
dụng phải có sự kết hợp với nguồn lực con người ,thông qua hoạt động có ý

- Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội

4


Con người bằng những năng lực vốn có của mình đã tác động vào thiên
nhiên, chinh phục và cải tạo chúng để phục vụ cho nhu cầu của chính bản thân
họ xong không đơn thuần việc tác động đó chỉ nhằm mục đích tồn tại. Trong
hoạt động lao động của mình, con người luôn sáng tạo, tích luỹ nhằm hoàn
thiện, phát triển bản thân mình hơn. Do vậy cùng với sự phát triển của kinh tế
xã hội thì bản thân con người cũng phát triển theo chiều hướng tích cực.
Như vậy có thể nói nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quan
trọng quyết định tới sự phát triển của kinh tế xã hội. Đầu tư cho nguồn nhân
lực là đầu tư mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững nhất.
Chính vì vậy, để có thể có được một nguồn nhân lực có chất lượng,
ngay từ đầu vai trò của giáo dục hết sức quan trọng và cần thiết phải đảm bảo
chất lượng đào tạo sinh viên – nguồn nhân lực trong tương lai. Đó là sự thay
đổi rất lớn, căn bản, chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang việc đào tạo
những con người có phẩm chất, năng lực, tiếp cận với yêu cầu hiện hữu là
nguồn nhân lực có chất lượng không chỉ phục vụ trong đổi mới trong nước
mà còn cạnh tranh với nguồn nhân lực chất lượng cao các nước khác.
1.2. Chất lượng giáo dục đại học và quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng đào
tạo tại các trường đại học
1.2.1. Khái niệm đào tạo đại học

Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỳ năng thực hành, nghề nghiệp hay
kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm giữ
những tri thức, kỳ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc
nhất định.

*Chất lượng đào tạo
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con
người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của minh. Việc phấn đấu
nâng cao chất lượng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất
của bất kỳ cơ sở tham gia hoạt động nào.

6


Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO đưa ra trong ISO 8402:1984:
“chất lượng là một tập hợp các tính chất đặc trưng của một thực thể, tạo cho
nó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn”. Đây
là định nghĩa có ưu điểm nhất, nó được xem xét một cách toàn diện và rộng
rãi hơn; phản ánh được bản chất của sự vật và nội dung để so sánh sự vật này
với sự vật khác.
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào
tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, 2008).
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở
các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng
lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương tình đào
tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức ,2010).
Chất lượng đào tạo là chất lượng thực hiện các mục tiêu đào tạo (Lê
Đức Phúc, 2008). Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo được xem là
nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở đào tạo đại
học nói riêng.
Sản phẩm của quá trình đào tạo là con người và các dịch vụ đào tạo
(đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị
nhân văn và năng lực vận hành nghề nghiệp. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu
nhân lực của thị trường lao động, quan điểm về chất lượng đào tạo không chỉ
dừng ở kết quả của quá trình đào tạo với những điều kiện đảm bảo chất lượng

“con người lao động" có thể là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo, với yêu
cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất
lượng đào tạo đại học không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong
nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như: cơ sở vật chất, đội
ngũ giảng viên... mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của
người tốt nghiệp đối với cơ quan, các tổ chức sản xuất - dịch vụ, khả năng
phát triển nghề nghiệp của bản thân họ trong tương lai...

8


1.2.3. Các mô hình đảm bảo chất lượng đào tạo đại học
1.2.3.1. Mô hình kiểm soát chất lượng

Kiểm soát chất lượng là hình thức quản lý đã được sử dụng lâu đời
nhất, được thực hiện ở khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất/đào tạo nhằm
phát hiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần của sản phẩm không đạt các chuẩn
mực chất lượng (ví dụ không đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật). Đây là quá trình
xảy ra sau khi sản phẩm đã được tạo ra, nên nếu phải loại bỏ sản phẩm sẽ dẫn
đến lãng phí nguyên vật liệu, thời gian và công sức. Trong khi kiểm soát chất
lượng được xem như một khái niệm cũ của đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực
sản xuất hay công nghiệp thì khái niệm này tương đối mới và ít được chấp
nhận trong môi trường đại học. Điều này xuất phát từ lý do, trong đào tạo đại
học, khó có thể định nghĩa thế nào là chất lượng và đào tạo đại học bao giờ
cũng là một quá trình hai chiều. Hơn nữa, việc xác định rõ ràng chất lượng
đào tạo đại học cũng gặp nhiều khó khăn vì chất lượng của quá trình giáo dục
trong đại học được thể hiện qua sự đóng góp của các sinh viên sau tốt nghiệp.
1.2.3.2. Đảm bảo chất lượng

Trong lĩnh vực sản xuất, bảo đảm chất lượng (Quality assurance) là quá

lý và đúng kế hoạch hay không.
Thanh tra chất lượng thường không quan tâm tới sứ mạng, mục tiêu
của cơ sở đào tạo đại học hoặc những mục tiêu này đạt được như thế nào mà
duy nhất chỉ quan tâm đến quá trình thực hiện kế hoạch chiến lược tại một
thời điểm nhất định.
1.2.3.4. Kiểm định chất lượng

Kiểm định chất lượng đào tạo đại học là thuật ngữ được sử dụng nhiều
nhất ở Hoa Kỳ. Kiểm định có thể được áp dụng cho một cơ sở giáo dục đại
học (có thể chỉ là một chương trình đào tạo đại học) dựa trên bộ tiêu chí xác
định. Kết quả của kiểm định chất lượng nhằm đảm bảo với cộng đồng cũng
như với các tổ chức hữu quan rằng một cơ sở đào tạo đại học có những mục

10


tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp; có được những điều kiện để
đạt được những mục tiêu đó và có khả năng phát triển bền vững (Nguyễn Đức
Chính, 2016).
Kiểm định chất lượng nhằm hai mục đích: i) đảm bảo với những đối
tượng tham gia vào công tác giáo dục rằng một chương trình đào tạo hay một
cơ sở giáo dục đại học đã đạt hay vượt những chuẩn mực nhất định về chất
lượng; ii) hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học liên tục cải thiện chất lượng.
1.2.3.5. Đánh giá chất lượng

Chất lượng đào tạo đại học như đã phân tích là một khái niệm động, đa
chiều, gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người và người. Vì
vậy, không thể dùng một phép đo đơn giản để có thể đo lường chất lượng đào
tạo đại học.
Trong đào tạo đại học, người ta thường dùng một hệ thống thước đo

Từ cơ sở lý luận trên, ta thấy Quản lý là sự tác động có chủ đích của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn
các quá trình xã hội và hành vi cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung
và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của
nhà nước, là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân. Quản lý nhà
nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (Lập pháp,
hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền hành nhà nước thông qua các văn
bản quy phạm pháp luật.
* Quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo
Chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm của cộng đồng xã hội, của nhà
nước và của các cơ sở đào tạo. Chính vì vậy, trong định hướng quản lý của
mình, nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bảo đảm chất lượng giáo dục. Vai
trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học ở mỗi quốc gia có thể
được thể hiện ở những phương diện, những mặt hoạt động khác nhau nhưng
điểm mấu chốt trong vai trò của nhà nước đối với chất lượng giáo dục thể

12


hiện ở vai trò chủ thể quản lý nhà nước đối với chất lượng giáo dục đại học.
Trong sự tương tác với xã hội, hệ thống giáo dục đại học, thị trường, và các
chủ thể khác, nhà nước là chủ thể tạo cơ chế, chính sách bảo đảm sự phát triển
hài hòa của giáo dục đại học, cân đối giữa số lượng và chất lượng. Nhà nước
nắm bắt tín hiệu của thị trường đặc biệt là thị trường lao động để thiết lập tầm
nhìn, mục tiêu cho giáo dục đại học, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển
nguồn nhân lực đại học để tránh sự lệch pha giữa giáo dục đại học và thị
trường lao động. Nhà nước tạo lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng giáo
dục đại học gắn với tín hiệu thị trường, thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học
nâng cao chất lượng đào tạo.

cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực
hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của cơ sở giáo dục (Luật giáo dục, 2010)
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc nhà nước thực hiện
quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào
tạo trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước.
Quản lý nhà nước về giáo dục vào đào tạo là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào
tạo do cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của nhà nước từ trung
ương đến cơ sở tiến hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của
nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì kỷ cương,
thỏa mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo
dục và đào tạo của nhà nước.
Những yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo:
+ Chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là các cơ quan có
thẩm quyền (Điều 100 Luật giáo dục).
+ Khách thể của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là hệ thống giáo
dục quốc dân và quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo trong toàn xã hội.

14


Mục tiêu của quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là đảm bảo trật
tự kỷ cương trong các hoạt động giáo dục và đào tạo, để thực hiện được mục
tiêu nâng cao dân trí, phát triển nhân cách của công dân; ở mỗi cấp học, bậc
học mục tiêu đó được cụ thể hóa trong Luật giáo dục, Chiến lược phát triển
giáo dục, điều lệ các nhà trường.
+ Công cụ chủ yếu trong quản lý nhà nước về giáo dục là hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật, do đó công tác thể chế tạo ra hành lang pháp lý
cho các hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo.

dục theo quy định của pháp luật.
Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hằng
năm về tổ chức hoạt động và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục của
các cơ sở giáo dục trực thuộc Bộ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về lĩnh vực
giáo dục, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

16


Hình 1.1. Sơ đồ quản lý Nhà nước đảm bảo chất lượng đào tạo tại các trường
đại học

- Ủy ban nhân dân các cấp:
Quản lý hành chính theo lãnh thổ các trường ĐH trực thuộc các Bộ
đóng trên địa bàn;
Quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, chia, tách, sáp nhập, giải
thể, chuyển đổi loại hình trường thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của tỉnh;

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status