Vai trò của công nhân trong phòng, chống tham nhũng ở việt nam hiện nay - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TẠ THU THỦY

VAI TRÒ CỦA CÔNG DÂN TRONG PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp – Luật Hành chính
Mã số: 9 38 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi.
Các số liệu, trích dẫn trong Luận án này bảo đảm độ chính xác và trung thực.
Những kết luận khoa học trong Luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả, chưa
được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác.
Tác giả Luận án

Tạ Thu Thủy



KẾT LUẬN................................................................................................................................ 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .............................................. 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 152


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ban GSĐTCĐ:

Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng

Ban TTND:

Ban Thanh tra nhân dân

PAPI:

Chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam

PCTN:

Phòng, chống tham nhũng

QLHCNN:

Quản lý hành chính nhà nước

MTTQ:

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

trong đó có những nguyên nhân như chính sách pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng
bộ; cơ chế kiểm soát quyền lực, kiểm soát tham nhũng còn bất cập, kém hiệu quả;
việc xử lý tham nhũng nhiều nơi, nhiều lúc còn chưa nghiêm; việc huy động sự
tham gia của lực lượng xã hội như báo chí, các đoàn thể, tổ chức xã hội và người
dân vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng chưa được quan tâm đúng mức...
Nhằm đẩy mạnh công tác PCTN, bên cạnh việc phát huy những mặt đã đạt
được, khắc phục những tồn tại, hạn chế, cần có những nghiên cứu nhằm đưa ra
những giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả các chủ trương, biện pháp mà Đảng và
Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện. Trong đó, nâng cao vai trò của công dân cần
được nhìn nhận như một biện pháp đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả và
ngược lại, trong mối quan hệ giữa Nhà nước – công dân, Nhà nước phải có trách
nhiệm bảo đảm các điều kiện để công dân thực hiện vai trò của mình trong PCTN.
Điều này được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Trên phương diện lý thuyết, vai trò của công dân trong PCTN là biểu hiện của
cơ chế dân chủ, khẳng định chủ quyền nhân dân với mục tiêu kiểm soát quyền lực.
Dân chủ là điều kiện tiền đề chính trị - xã hội để bảo đảm cho công dân thực hiện
vai trò của mình trong quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội nói chung và trong
nỗ lực phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng nói riêng một cách trực tiếp hoặc
thông qua cơ chế đại diện. Bên cạnh đó, nguyên lý chủ quyền nhân dân cũng là cơ
sở để nhận diện bản chất và nội dung mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong
Nhà nước pháp quyền XHCN; qua đó, chỉ ra được vai trò của công dân trong PCTN.
Công dân bằng quyền lực của mình thiết lập ra Nhà nước và ủy quyền cho Nhà
nước thực hiện quyền lực nhân dân nên xét về bản chất, quyền lực nhà nước phải

1


chịu sự kiểm soát của công dân. Và, công dân có quyền kiểm soát việc thực hiện
quyền lực nhà nước; giám sát cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn được
giao để vụ lợi. Cách đặt vấn đề đó đã chỉ ra nhu cầu tìm kiếm cơ sở lý thuyết để tạo


định pháp luật đó, có thể thấy cơ sở pháp lý để thực hiện vai trò của công dân trong
PCTN cần phải được nghiên cứu, nhìn nhận từ góc độ khoa học có mối quan hệ
biện chứng với thực tiễn để cung cấp những luận cứ cho việc đề xuất hoàn thiện
pháp luật trên cơ sở tinh thần của Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế khuyến
nghị mà Việt Nam đã tham gia với tư cách quốc gia thành viên.
Trên phương diện thực tiễn, mặc dù Đảng, Nhà nước và nhân dân đã có nhiều
nỗ lực PCTN nhưng cho đến nay, công tác PCTN vẫn chưa đạt được yêu cầu, mục
tiêu đề ra và vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém như thể chế, chính sách về quản lý
kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực còn bất cập tạo cơ hội cho tham nhũng xảy ra;
các biện pháp phòng ngừa tham nhũng hiệu quả chưa cao; công tác kiểm tra, giám
sát, phát hiện tham nhũng hiệu quả còn thấp; việc xử lý tham nhũng trong nhiều
trường hợp còn chưa nghiêm, chưa kịp thời... [28]. Thực trạng này có nhiều nguyên
nhân, trong đó nhìn từ góc độ xã hội có nguyên nhân từ năng lực nhận thức, từ ý
thức thực hiện pháp luật PCTN của công dân; từ thể chế pháp lý về quyền và nghĩa
vụ của công dân tham gia PCTN; từ cơ chế thực hiện đại diện cho tiếng nói người
dân của các tổ chức xã hội; và đặt trong mối quan hệ Nhà nước – công dân, thực
trạng đó còn xuất phát từ nguyên nhân thực tiễn thực hiện các biện pháp bảo đảm
của Nhà nước về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, bảo đảm quyền tiếp
cận thông tin, bảo vệ và khen thưởng người tố cáo... chưa thực sự hiệu quả để phát
huy được vai trò của công dân trong nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị nhằm
PCTN. Tình hình này đặt ra nhu cầu tổng kết thực tiễn trên cơ sở nghiên cứu những
vấn đề lý luận và rà soát pháp luật để hình thành cơ sở khoa học đề xuất các giải
pháp nâng cao vai trò của công dân trong PCTN.
Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài luận án: "Vai trò của công
dân trong PCTN ở Việt Nam hiện nay" là rất cần thiết. Luận án sẽ góp phần làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận về vai trò của công dân trong PCTN, các quy định
pháp luật và thực tiễn về vai trò của công dân trong PCTN ở nước ta hiện nay. Trên
cơ sở đó, Luận án sẽ đề xuất những giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện thể chế, về tổ
chức thực hiện nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của công dân trong PCTN ở Việt

- Về nội dung: Vai trò của công dân trong PCTN là một phạm trù có nội hàm
rộng, khó có thể giải quyết thấu đáo trong quy mô của luận án tiến sỹ luật học. Vì
vậy, Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng vai
trò của công dân trong PCTN ở khu vực công từ góc độ xã hội; giới hạn ở việc xem
xét, đánh giá vai trò công dân với tư cách cá nhân và trong mối quan hệ với tập thể,
thông qua các tổ chức đại diện; tuy nhiên, để phù hợp với chủ trương của Đảng

4


cũng như điều kiện thể chế chính trị ở Việt Nam, Luận án hạn chế đề cập đến chủ
thể xã hội công dân.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu vai trò của công dân trong PCTN ở Việt
Nam và tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này. Trên
cơ sở đó đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
- Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu về khuôn khổ thể chế,
chính sách và thực tiễn liên quan đến vai trò của công dân trong PCTN từ khi Luật
PCTN năm 2005 có hiệu lực (và qua hai lần sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2012).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án nghiên cứu vai trò của công dân trong PCTN được thực hiện trên cơ
sở một số lý thuyết phổ biến về chủ quyền nhân dân; về kiểm soát quyền lực nhà
nước; về bản chất của dân chủ; về quyền con người, quyền công dân; học thuyết về
nhà nước pháp quyền XHCN và yêu cầu của kiểm soát quyền lực nhà nước trong
Nhà nước pháp quyền XHCN,
Luận án cũng nghiên cứu dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm, định hướng chính trị được đề cập trong các Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI,
XII của Đảng về tiếp tục phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân trong cuộc
đấu tranh phòng chống tham nhũng, về xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh
bạch, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân…

hiện nay (Chương 3); phân tích, luận giải các quan điểm và giải pháp nâng cao vai
trò của công dân trong PCTN (Chương 4).
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Ở góc độ tổng thể, đây là phương pháp
được sử dụng nhằm liên kết nội dung giữa các chương tạo thành một sản phẩm
nghiên cứu có bố cục hợp lý, chặt chẽ, logics hướng tới mục tiêu cần giải quyết của
Luận án là nghiên cứu những vấn đề lý luận về vai trò của công dân trong PCTN,
đánh giá thực trạng vai trò của công dân trong PCTN, từ đó đề xuất các giải pháp
nâng cao vai trò của công dân trong PCTN tại Việt Nam. Ở góc độ nội dung, việc
thực hiện nghiên cứu, đánh giá về vai trò của công dân trong PCTN cần thiết phải
sử dụng phương pháp này nhằm luận giải vai trò của công dân trong mối liên hệ với
các yếu tố khác như chính trị, pháp lý, tổ chức bộ máy, con người, môi trường văn
hóa – xã hội và cơ sở vật chất (Chương 2); đánh giá được tồn tại, hạn chế và nguyên
nhân (Chương 3) và đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể nhưng cũng có sự chọn
lọc, cơ bản, phù hợp với yêu cầu thực tiễn (Chương 4).

6


- Phương pháp so sánh, tham khảo: So sánh một số quy định pháp luật về vai
trò của công dân trong PCTN của Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên
cơ sở có sự đánh giá tương đồng về sự phát triển kinh tế - xã hội. Tham khảo kinh
nghiệm của một số quốc gia, tổ chức quốc tế trong việc xây dựng khung pháp lý và tổ
chức thực hiện các nội dung nghiên cứu đặt ra trong Luận án (Chương 2, Chương 4).
- Phương pháp quan sát, thống kê: Quan sát, thống kê việc thực hiện vai trò
của công dân trong PCTN được biểu hiện qua việc công dân trực tiếp hoặc thông
qua các tổ chức đại diện tham gia xây dựng, hoàn thiện thể chế chính sách về
PCTN; thực hiện giám sát, phát hiện, phản ánh, tố cáo tham nhũng; lên án đấu tranh
xử lý vụ việc tham nhũng… bằng quan sát thực tiễn, qua phương tiện truyền thông,
xem xét báo cáo và kết quả nghiên cứu khảo sát đã được công bố (Chương 3).
- Phương pháp lịch sử: Đánh giá nội dung, phương thức thực hiện vai trò của

định pháp luật và việc thực hiện pháp luật về vai trò của công dân trong PCTN cũng
như các điều kiện bảo đảm thực hiện vai trò đó.
- Thứ năm, Luận án đã đưa ra quan điểm và đề xuất những giải pháp hoàn
thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện nhằm phát huy vai trò của công dân
trong PCTN thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Về lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc
những vấn đề lý luận về vai trò của công dân trong PCTN.
Luận án cũng xây dựng căn cứ lý luận cho quá trình hoàn thiện chính sách, pháp
luật về vai trò của công dân trong PCTN trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN, thực hiện Hiến pháp năm 2013 và thực hiện các cam kết quốc tế về
PCTN của nước ta hiện nay.
6.2. Về thực tiễn
Luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để các cơ quan có thẩm quyền và
các nhà hoạch định chính sách, quản lý nghiên cứu, tham khảo trong việc ban hành, sửa
đổi các quy định pháp luật liên quan nhằm nâng cao vai trò của công dân trong PCTN.
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các hoạt động giảng dạy, học tập,
nghiên cứu khoa học về PCTN tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của Luận án cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
các tổ chức như MTTQ, Ban TTND, Ban GSĐTCĐ trên phạm vi toàn quốc trong quá
trình nâng cao vai trò của công dân trong PCTN.

8


7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án
gồm có 4 chương, bao gồm:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

cách tiếp cận khác nhau, khá nhiều tác giả đã đề cập đến cơ chế giám sát xã hội
trong nhiều công trình tiêu biểu như Mann M. (1986), Nguồn gốc quyền lực xã hội
(The sources of social power), Dahl, Robert A. (1989), Dân chủ và những hạn chế
của nó (Democracy and Critics), Anti-corrruption tool kit: Global programme
against corruption/Bộ công cụ chống tham nhũng: Chương trình chống tham nhũng
toàn cầu [150]. Mặc dù còn có những góc nhìn khác nhau nhưng cơ chế giám sát xã
hội đối với các cơ quan thực thi công quyền là hệ thống các biện pháp và nhân tố

10


bảo đảm các điều kiện cần thiết để các chủ thể giám sát thực hiện quyền giám sát
đối với hoạt động của các cơ quan công quyền. Cơ cấu của cơ chế đó về cơ bản
được đề cập đến trong các công trình gồm các quy phạm xã hội, hoạt động hợp
pháp của các chủ thể giám sát, tính công khai, dư luận xã hội, các bảo đảm chung,
bảo đảm pháp lý, tổ chức, văn hóa... Tuy nhiên, việc hình thành và xây dựng cơ chế
giám sát đó phụ thuộc vào điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa – xã hội của mỗi
quốc gia.
Trong hệ thống các chủ thể xã hội kiểm soát quyền lực, công dân đóng vai trò
quan trọng. Nhận định này đã được nhiều công trình nghiên cứu với các góc nhìn đa
chiều như:
Nghiên cứu của Huguette Labelle, “Vai trò của xã hội công dân trong đấu
tranh chống tham nhũng” (The role of civil society in the fight against corruption),
Santo Domingo, Cộng hòa Dominican ngày 15 tháng 2 năm 2012 [133]. Công trình
đã phân tích vai trò của kiểm soát xã hội nhằm hạn chế tham nhũng và phân tích
giải pháp chống tham nhũng phải là sự tổng hòa của nhiều biện pháp khác nhau như
tăng cường sự minh bạch quốc tế thông qua bảng xếp hạng chỉ số tham nhũng; đẩy
mạnh tính minh bạch, sự liêm khiết và trách nhiệm giải trình trong nhà nước;
khuyến khích hoạt động kinh doanh lành mạnh, trong sạch; tập trung giáo dục sớm
về chống tham nhũng và đặc biệt là đề cao vai trò của xã hội công dân trong quá

Society in Preventing and curbing corruption: Promoting greater transparency and
accountability) [143]: Việc hình thành xã hội công dân để ngăn chặn và hạn chế
hành vi tham nhũng cũng như tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
đối với cộng đồng là một xu thế tất yếu. Do vậy, mạng lưới xã hội công dân cần
được mở rộng hơn nữa ở cả khu vực trong nước, quốc tế và trong mọi lĩnh vực để
tăng cường tính chịu trách nhiệm của chính phủ đối với việc đánh giá chính sách và
thực thi pháp luật cũng như việc quản lý nguồn thu nhập và các khoản chi tiêu
thông qua vận động ngân sách.
Bài tham luận của Vusi Mavuso và Stiaan van der Merwe, “Xã hội công dân
và sự đấu tranh chống tham nhũng, thực trạng ở Nam Phi” (Civil Society and the
fight against corruption, A South African perspective) tại Hội nghị chống tham
nhũng quốc tế lần thứ 9 tại Durban, Nam Phi [152]: Vai trò của xã hội công dân
trong việc đấu tranh chống tham nhũng chưa được thực hiện hiện thường xuyên và
áp dụng triệt để. Do đó, cần phải có cái nhìn bao quát hơn về tham nhũng và cần

12


xây dựng chiến lược toàn diện để chống tham nhũng. Ở Nam Phi, tham nhũng được
coi là một vấn đề xã hội, được chia thành năm cấp độ (cá nhân, khu vực, quốc gia,
quốc tế và không gian ảo) và được thực hiện bởi ba loại chủ thể (chủ thể công, tư và
xã hội công dân). Công tác phòng chống tham nhũng hiện nay được chủ yếu chỉ
được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tổ chức xã hội công dân được
nhìn nhận như chủ thể giám sát hoặc đối tác của nhà nước.
Tiến sĩ Patrick Ukase - trường Đại học Anyigba, Kogi State Nigeria và Bem
Audu, Học viện Quốc phòng Nigerian, “Vai trò của xã hội công dân trong việc đấu
tranh chống tham nhũng ở Cộng hòa Negeria: Các vấn đề, thực trạng và cách giải
quyết” (The role of civil society in the fight against corruption in Nigeria’s fourth
republic: Problems, prospects and the way forward) [141]: Bài viết phân tích vai trò
và sự đóng góp của xã hội công dân đối với chế độ dân chủ, quá trình quản lý, xây

ràng trong việc tiếp cận thông tin, trách nhiệm giải trình và nâng cao vai trò của xã
hội, công dân thông qua phương thức tự do của truyền thông. Trong khi đó, tình
trạng tham nhũng tại Nga vẫn duy trì ở mức cao trong nhiều năm. Từ đó, có thể
nhận thấy rằng chỉ có thể kiểm soát tình trạng tham nhũng khi có sự tham gia của cả
chính phủ và chủ thể phi chính phủ. Nghiên cứu này nhằm chỉ ra sự tác động của
các chủ thể phi chính phủ trong PCTN ở Ba Lan và từ đó đưa ra những khuyến nghị
cho Nga. Sự tác động này vẫn còn một vài thiếu sót như các tổ chức phi chính phủ
phải nỗ lực để được lắng nghe trong các phiên họp của Quốc hội, đưa ra các đề xuất
xây dựng luật mới và gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin công từ phía các cơ
quan nhà nước. Tuy nhiên, những kinh nghiệm của chủ thể phi nhà nước ở Ba Lan
trong công cuộc PCTN vẫn hữu ích đối với các hoạt động xã hội công dân ở Nga;
nhất là chức năng giám sát của công dân và các tổ chức xã hội có thể tạo ra áp lực
làm thay đổi hoặc hoàn thiện hệ thống pháp luật và cũng có thể ảnh hưởng tới
những chính sách chung của Nga; sử dụng phương thức truyền thông như một công
cụ hữu hiệu để phòng chống tham nhũng và công nhận vai trò của người tố cáo
hành vi tham nhũng, đồng thời xây dựng cơ chế pháp lý để bảo vệ họ.
- Bài viết của Niklas Kossow, “Vai trò của xã hội công dân trong phòng
chống tham nhũng: Câu chuyện của Ukraine” (The role of civil society in Anticorruption: The story of Ukraine) [140]: Bài viết chỉ ra vai trò của xã hội công dân
trong PCTN bên cạnh vai trò của truyền thông xã hội. Bài viết này cũng nhấn mạnh
vai trò của công dân trong biểu đạt ý kiến về chính sách, pháp luật; vai trò giám sát,

14


phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực trên cơ sở sử dụng công cụ truyền thông xã
hội hỗ trợ.
1.1.3. Những công trình nghiên cứu về các điều kiện bảo đảm thực hiện
vai trò của công dân trong PCTN
Trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, ở xã hội hiện đại đang hiện diện
các hệ thống kiểm soát quyền lực khác nhau. Mỗi hệ thống được cấu thành từ nhiều

- Nghiên cứu về “Quyền con người và phòng chống tham nhũng” (Human
Rights

and

anti

corruption),

nguồn

http://www.ohchr.org/EN/Issues/Development/GoodGovernance/Pages/AntiCorrupt
ion.aspx [132]. Nghiên cứu đã chỉ rõ tham nhũng gây ra những ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền con người trên các phương diện dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hóa và phát triển. Điều kiện bảo đảm cho việc phát huy vai trò của người dân là
tôn trọng và thi hành các nguyên tắc nhân quyền cốt lõi như trách nhiệm giải trình,
tính minh bạch, không phân biệt đối xử và đảm bảo thi hành. Để làm được như vậy,
cần thiết phải tăng cường sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc thực thi Công ước
Liên hợp quốc về chống tham nhũng và Công ước Liên hợp quốc về quyền con người.
- Báo cáo của Alina Mungiu - Pippidi, “Kinh nghiệm của xã hội công dân như
một chủ thể chống tham nhũng ở Đông Trung Âu” (The experience of civil society
as anticorruption actor in East Central Europe), Romanian Academic Society and
Hertie School of Governance [122]: Bài viết đã phân tích các điều kiện về: (1) sự
liên kết của xã hội công dân và sự quản lý tốt; (2) kiểm tra, đánh giá sự liên kết này;
(3) đề xuất một mô hình có thể giải quyết vấn đề khó khăn trong việc thiết lập một
“thuyết phổ biến đạo đức” như một quy chuẩn trong việc quản lý ở các nước cộng
sản hậu chủ nghĩa; (4) đưa ra các số liệu của dự án “quản trị tốt” để thấy được sự
ảnh hưởng của các nhân tố (quy định pháp luật, sự tự do định đoạt các viện trợ
công, tham nhũng, sự đối xử bất bình đẳng của Chính phủ) đối với xã hội công dân.
- Tác phẩm Controlling corruption in Asia and the Parcific/Asia Development

quyền lực nhà nước, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội [21]; PGS.TS Nguyễn
Minh Đoan (2016), Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan
nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội [32];
GS.TS Đào Trí Úc (2010), Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ
máy Đảng và Nhà nước – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội [109]; GS.TSKH Đào Trí Úc – PGS.TS Võ Khánh Vinh (2003), Giám
sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, NXB.
Công an nhân đân, Hà Nội [110]... Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả
đã tập trung phân tích luận giải quan niệm về kiểm soát việc thực hiện quyền lực
nhà nước; cơ sở khoa học của cơ chế kiểm soát; các yếu tố cấu thành cơ chế kiểm

17


soát quyền lực; chủ thể thực hiện kiểm soát và vai trò, nội dung, đối tượng của kiểm
soát trong và kiểm soát ngoài.
Mục đích của kiểm soát quyền lực là PCTN. Những vấn đề lý luận về tham
nhũng và PCTN như khái niệm, đặc điểm, bản chất, nguồn gốc của tham nhũng;
khái niệm, đặc điểm, nội dung PCTN đã được đề cập đến trong một số công trình
như: Ngân hàng thế giới (2002), Kiềm chế tham nhũng hướng tới một mô hình xây
dựng sự trong sạch quốc gia, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội [77]; Nguyễn Văn
Thanh, Trần Đức Lượng, Phạm Duy Nghĩa (2004), Một số vấn đề cơ bản về phòng
ngừa và chống tham nhũng, Nxb. Tư pháp, Hà Nội [95]; Phan Xuân Sơn, Phạm Thế
Lực (2008), Nhận diện tham nhũng và các giải pháp PCTN ở Việt Nam hiện nay,
Nxb. CTQG, Hà Nội [83]; Nguyễn Đăng Dung-Phạm Hồng Thái-Chu Hồng ThanhVũ Công Giao (2013), Giáo trình Lý luận và pháp luật về PCTN, Nxb. Đại học
Quốc gia Hà Nội [25]; Nguyễn Văn Huyên (2009), Tham nhũng và giải pháp phòng,
chống từ góc nhìn văn hoá, Tạp chí Cộng Sản, Tháng 7, Số 801 [40]; Đinh Văn
Minh (Chủ biên) (2011), Một số nguy cơ tham nhũng dễ phát sinh trong quản lý và
sử dụng đất đai ở Việt Nam, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội [70]; Phạm Thị
Huệ (2016), Phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay,

Chính trị - Hành chính, Hà Nội [48]; TS. Thang Văn Phúc, PGS.TS Nguyễn Minh
Phương (2012), Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam, NXB. Chính trị
quốc gia-Sự thật, Hà Nội [53]; Nguyễn Thị Kim Hoa (2013), Tính tích cực chính trị
của công dân Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, NXB CTQG, Hà Nội
[38]; Nguyễn Quốc Văn – Vũ Công Giao (2017), Bảo vệ người tố cáo trong pháp
luật Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội [111]... Trong các công trình nghiên cứu này,
các tác giả đã phân tích vai trò của xã hội với nhiều chủ thể khác nhau như Mặt trận
tổ quốc, doanh nghiệp, báo chí, ban thanh tra nhân dân và công dân trong phòng
chống tham nhũng... Tuy nhiên, các công trình này hoặc nghiên cứu mở rộng đối
tượng chủ thể nên vai trò, trách nhiệm của mỗi chủ thể cũng chỉ được đề cập ở mức
độ khái quát, chưa sâu; hoặc nghiên cứu riêng về chủ thể công dân nhưng chủ yếu
tiếp cận quyền tham gia của công dân theo cơ chế về ủy quyền, bãi miễn đại diện,
cơ chế khiếu nại, tố cáo, cơ chế giám sát, góp ý phản biện chính sách, pháp luật...
mà chưa đi sâu phân tích, luận giải các quyền, nghĩa vụ trực tiếp của công dân cũng
như thông qua các tổ chức đại diện theo phân lớp trục nội dung, phương thức trong
phòng và chống tham nhũng. Ngoài ra, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu
vai trò của công dân trong trạng thái luận giải, đánh giá song song, logics theo từng

19


trục nội dung, phương thức thực hiện vai trò của công dân và bảo đảm của Nhà
nước để công dân thực hiện vai trò theo nội dung, phương thức đó.
1.2.3. Những công trình nghiên cứu về các điều kiện bảo đảm thực hiện
vai trò của công dân trong PCTN
Để phát huy vai trò của công dân trong PCTN, nhiều tác giả đã nghiên cứu
kinh nghiệm quốc tế trong phát huy vai trò của công dân trong PCTN như: Nguyễn
Văn Quyền, Phạm Tất Thắng, Lê Văn Lân (2005), Kinh nghiệm PCTN của một số
nước trên thế giới, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội [58]; Vũ Kim Huế, Hoàng Huệ
Chi, Nguyễn Thị Dung (dịch) (2007), Đấu tranh chống tham nhũng tại các nền kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status