BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN ĐÀO PHƢƠNG LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY
TẠI MỘT SỐ NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN ĐÀO PHƢƠNG LINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÔNG TY
TẠI MỘT SỐ NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á.
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ VIỆT QUẢNG
TP. Hồ Chí Minh – 2016
Tầm quan trọng .............................................................................................................. 6
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 9
1.3.
Kết cấu luận văn ........................................................................................................... 11
2.
NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ..................................................................... 12
3.
PHƢƠNG PHÁP VÀ MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .................................................. 33
3.1.
Phƣơng pháp nghiên cứu: ............................................................................................. 33
3.2.
Mô tả dữ liệu: ................................................................................................................. 38
3.2.1.
Chọn mẫu: ............................................................................................................... 38
(Cash Conversion Cycle)
AR
Thời gian thu hồi các khoản phải thu
(Accounts Receivable)
AP
Thời gian thanh toán các khoản phải trả
(Accounts Payable)
INV
Thời gian lưu kho
(Inventories turnover)
SIZE
Quy mô công ty
(Size of the firm)
CG
Quy mô Hội đồng quản trị
(Corporate governance)
GDP
(The gross domestic product growth)
hội nhập hiện nay, nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp là điều kiện tiên
quyết đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Trong các cuộc khủng
hoảng về tài chính những năm về trước, nguồn vốn của công ty không đủ mạnh do
đó các doanh nghiệp rất cần vốn để tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình, tuy nhiên các công ty lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các
nguồn vốn từ bên ngoài dẫn đến việc nhiều công ty đã phải đi đến phá sản. Vì vậy,
việc quản trị vốn, đặc biệt là quản trị vốn luân chuyển hiệu quả là một nội dung
quan trọng trong quản trị tài chính của doanh nghiệp để có thể duy trì và phát triển
hoạt động của mình.
Mục tiêu của bài nghiên cứu là xem xét mối quan hệ thống kê giữa khả năng
sinh lời của công ty và quản trị vốn luân chuyển qua 400 công ty phi tài chính niêm
yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ chí Minh (HOSE), Sở giao dịch
chứng khoán Singapore (SGX), Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan (SET) và Sở
giao dịch chứng khoán Malaysia (BURSA) trong giai đoạn 2009 đến 2015.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa việc quản trị vốn
luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty. Hay nói cách khác là công ty cần xem
xét giảm chu kỳ luân chuyển tiền về mức tối ưu sẽ giúp công ty gia tăng lợi nhuận
của mình.
Từ khóa: Quản trị vốn luân chuyển, khả năng sinh lời của công ty, chu kỳ
luân chuyển tiền, kỳ luân chuyển hàng tồn kho tồn kho, kỳ thu tiền khách hàng, kỳ
thanh toán tiền cho người bán, quy mô công ty.
6
1.
GIỚI THIỆU
1.1.
7
Công ty cần vốn luân chuyển để duy trì tính thanh khoản, khả năng thanh
toán nợ và khả năng sinh lợi của công ty. Do đó, việc quản trị vốn luân chuyển
hiệu quả đóng vai trò khá quan trọng trong quản lý công ty. Khi một doanh
nghiệp đưa ra quyết định đối với tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của mình thì
được gọi là quản trị vốn luân chuyển. Hay nói cách khác là: Quản trị vốn luân
chuyển có thể được định nghĩa như một sự duy trì mức độ tài sản ngắn hạn và nợ
ngắn hạn phù hợp nhằm duy trì tốt hoạt động công ty, tận dụng tối đa nguồn vốn
và tối thiểu hóa chi phí, tạo ra đủ tiền để thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn cũng
như đầu tư thêm vào sản xuất kinh doanh. Nếu một công ty dự định đầu tư nhiều
vào vốn luân chuyển, tức là lợi nhuận có thể đầu tư vào tài sản cố định hoặc tài
sản dài hạn sẽ bị cắt giảm. Mặt khác, nếu một công ty đầu tư quá nhiều vào tài
sản cố định mà bỏ quên nhu cầu vốn ngắn hạn thì có thể sẽ phải đối mặt với tình
trạng kiệt quệ tài chính vì không đủ tiền để đáp ứng các nghĩa vụ trong ngắn hạn.
Khả năng sinh lợi và khả năng thanh khoản là 2 mục tiêu chính để duy trì
hoạt động của một công ty, do đó nhiệm vụ chính của các nhà quản trị là xem xét
việc đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh khoản ở một mức độ tối ưu nhất nhằm
đem lại hiệu quả cho công ty. Việc thiếu vốn luân chuyển là một trong những
nguyên nhân phổ biến dẫn tới phá sản ở nhiều doanh nghiệp nhỏ ở nhiều nước
khác nhau. Quản trị hiệu quả vốn luân chuyển bao gồm 2 bước là chuẩn bị nguồn
vốn và quản trị nguồn vốn đó nhằm hướng đến mục tiêu là công ty có thể đáp
ứng các nghĩa vụ ngắn hạn cũng như tránh lãng phí nguồn lực vì đầu tư quá
nhiều vào tài sản ngắn hạn (Eljelly, 2004). Quản trị hiệu quả sẽ làm giảm nhu
cầu vay mượn bên ngoài cho công ty. Có nhiều các tiếp cận khác nhau đối với
quản trị vốn luân chuyển, 2 cách cơ bản tiếp cận chủ yếu đó là chính sách quản
trị vốn luân chuyển cấp tiến và chính sách quản trị vốn luân chuyển bảo thủ.
Chính sách quản trị cấp tiến với việc đầu tư nhiều vào tài sản cố định và đầu tư ít
vào tài sản ngắn hạn có thể tạo ra nhiều lợi nhuận cho công ty, tuy nhiên nó cũng
đặt công ty vào nguy cơ thiếu vốn để duy trì hoạt động thường ngày và khoản trả
9
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Nhiệm vụ chính của việc quản trị vốn luân chuyển là đảm bảo công ty có thể
chi trả các khoản chi phí hoạt động và vẫn còn khả năng chi trả các nghĩa vụ trong
ngắn hạn khi đến hạn. Việc xao lãng việc quản trị vốn luân chuyển có thể mang đến
rủi ro thanh khoản và giảm lợi nhuận của công ty, vì thế ảnh hưởng đến việc công ty
có thể tiếp tục hoạt động hay không.
Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển đã được xem xét ở nhiều
nghiên cứu trước đây. Các nghiên cứu trước đây đã sử dụng các chỉ tiêu về thời gian
lưu trữ hàng hóa tồn kho, thời gian thu hồi các khoản phải thu từ khách hàng cũng
như thời gian thanh toán các khoản phải trả cho người bán được thể hiện thông qua
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của công ty cũng như các biến kiểm soát khác để xem
xét sự ảnh hưởng của các thành phần trong vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi
của công ty.
Các công ty thường quản trị vốn luân chuyển theo 3 cách sau: thận trọng/bảo
thủ (conservative), cấp tiến (aggressive) và ôn hòa (moderate). Phương pháp bảo
thủ là cách các công ty hướng tới việc sử dụng các nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho
hoạt động của công ty và sử dụng nguồn vốn ngắn hạn trong các trường hợp khẩn
cấp. Ngược lại với phương pháp trên là phương pháp cấp tiến thì các công ty có ít
tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu thương mại hơn trong
tổng tài sản. Điều này dẫn đến làm giảm tính thanh khoản cho công ty (Van Horne
và Wachowicz, 2004). Theo phương pháp ôn hòa thì tách biệt giữa tài sản ngắn hạn
biến động và tài sản ngắn hạn cố định với nhận định rằng nguồn tài chính ngắn hạn
sẽ được dùng tài trợ cho tài sản ngắn hạn biến động và nguồn tài chính dài hạn sẽ
được dùng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn cố định.
nhuận của công ty. Bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số về quy mô công ty, quy mô
Hội đồng quản trị làm các biến kiểm soát.
11
1.3.
Kết cấu luận văn
Cấu trúc của bài nghiên cứu gồm các phần như sau:
Phần 2: Những nghiên cứu thực nghiệm: Trình bày những nghiên cứu trong và
ngoài nước trước đây về mối quan hện giữa khả năng sinh lợi và quản lý vốn
luân chuyển của công ty
Phần 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: Trình bày cách chọn mẫu, mô
hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu.
Phần 5: Kết luận.
12
2.
NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Vốn luân chuyển là nguồn vốn quan trọng và quyết định sự sinh tồn của
hầu hết các công ty. Các chuyên gia cho rằng mục tiêu của việc quản trị vốn luân
chuyển là vừa tối đa hóa lợi nhuận công ty vừa phải đảm bảo công ty có đủ khả
năng chi trả các khoảng nợ ngắn hạn và các chi phí hoạt động trong tương lai, …
phương pháp phân tích hồi quy và mối tương quan để phân tích các công ty ở Ả
Rập Saudi. Tác giả kết luận rằng khả năng sinh lợi của công ty có mối tương
quan âm và có ý nghĩa thống kê với khả năng thanh khoản của công ty. Mối quan
hệ này được thấy rõ trong các công ty có tỷ số thanh toán hiện hành cao và chu
kỳ luân chuyển tiền dài hơn. Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm thấy quy mô của
công ty có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty ở các mức công nghiệp
khác nhau.
Đến năm 2006, tác giả Lazaridis và Tryfonidis đã thực hiện nghiên cứu
dựa trên 131 công ty niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán Athens (ASE) từ
năm 2001 đến năm 2004 để xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển
và khả năng sinh lời của công ty. Các tác giả đã quan sát thấy rằng các công ty
có lợi nhuận hoạt động gộp thấp gắn liền với việc gia tăng số ngày thanh toán
các khoản phải trả. Nói cách khác là các công ty có lợi nhuận thấp sẽ kéo dài
thời gian thanh toán các khoản phải trả hơn. Các nhà quản lý cũng có thể cải
thiện kết quả hoạt động của công ty thông qua việc giảm thời gian cấp tín dụng
thương mại cho khách hàng. Sau khi nghiên cứu, họ đã đưa ra kết luận rằng khi
các nhà quản trị có thể quản trị chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) hiệu quả và giữ
các thành phần khác nhau trong chu kỳ luân chuyển tiền ở các mức tối ưu thì họ
có thể gia tăng lợi nhuận cho công ty.
Padachi (2006) cho rằng việc quản trị vốn luân chuyển được thiết lập và
triển khai tốt được mong đợi sẽ đóng góp tích cực để tạo nên giá trị công ty. Với
nhận định trên, tác giả đã xem xét các xu hướng của việc quản trị vốn luân
chuyển và tác động của nó đối với hiệu quả hoạt động của công ty. Tác giả thực
hiện nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 58 công ty sản xuất nhỏ tại Mauritius trong
14
giai đoạn 1998 – 2003. Kết quả của bài nghiên cứu cho rằng việc đầu tư nhiều
vào hàng tồn kho và khoản phải thu sẽ làm giảm khả năng sinh lợi của công ty.
tích hệ số tương quan Pearson và phân tích hồi quy theo Pooled OLS, các tác giả
tìm thấy mối tương quan âm giữa quản trị vốn luân chuyển với khả năng sinh lợi
của công ty. Điều này có nghĩa là chu kỳ luân chuyển tiền tăng sẽ làm giảm lợi
nhuận của công ty và các nhà quản lý có thể gia tăng giá trị cổ đông thông qua
việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền đến một mức thấp nhất có thể. Ngoài ra, các
tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa quy mô công ty và khả năng
sinh lợi của công ty. Tại Pakistan năm 2008, Chakraborty cũng đã nghiên cứu và
tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả
năng sinh lợi của các công ty dược phẩm tại Pakistan.
Ganesan (2007) cũng quan tâm đến vấn đề quản trị vốn luân chuyển và
khả năng sinh lợi của công ty do đó họ đã thực hiện bài nghiên cứu “An analysis
of working capital management efficiency in telecommunication equipment
industry”. Tác giả xem xét mối quan hệ này tại các công ty thiết bị truyền thông
tại Ấn Độ. Vốn luân chuyển của công ty vẫn được tác giả tiếp tục sử dụng các
biến số như số ngày thu hồi nợ, số ngày lưu kho, số ngày thanh toán cho người
bán của công ty và số ngày của vốn luân chuyển. Tác giả sử dụng hai tỷ số là tỷ
số lợi nhuận hoạt động cộng với khấu hao trên tổng số tài sản và trên tổng doanh
thu làm biến phụ thuộc thể hiện khả năng sinh lợi của công ty. Sau khi thực hiện
nghiên cứu dựa trên mẫu gồm 443 báo cáo tài chính của 349 công ty thiết bị
truyền thông, tác giả tìm thấy được tác động ngược chiều của số ngày của vốn
luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty tuy nhiên hệ số này lại không có ý
nghĩa thống kê.
Falope và Ajilore (2009) đã cung cấp bằng chứng về tác động của việc
quản trị hiệu quả vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của công ty sau khi sử
dụng báo cáo tài chính của 50 công ty phi tài chính niêm yết tại Sở giao dịch
chứng khoán Nigeria từ năm 1995 đến năm 2005. Biến phụ thuộc thể hiện khả
năng sinh lợi của công ty được đo lường thông qua lợi nhuận trên tổng tài sản
16
17
lợi trong dài hạn của công ty. Các tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều
giữa tỷ số thanh toán nhanh và lợi nhuận của công ty, kết quả này một lần nữa
chứng minh cho việc đánh đổi giữa khả năng sinh lợi và khà năng thanh khoản
của công ty.
Trong khi đó tại Mỹ, Gill và đồng sự (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ
giữa việc quản lý vốn luân chuyển với khả năng sinh lợi tại 84 công ty ở Mỹ từ
năm 2005 đên 2007. Các tác giả đo lường khả năng sinh lời thông qua lợi nhuận
hoạt động để xem xét có mối quan hệ với việc quản lý vốn luân chuyển hay
không. Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất để nghiên cứu họ tìm thấy
mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh
lợi của công ty. Họ đã kết luận rằng những nhà quản lý có thể làm tăng lợi nhuận
của công ty thông qua việc rút ngắn thời gian thu hồi khoản phải thu. Điều này
đảm bảo công ty có đủ tiền để tài trợ cho các hoạt động của mình.
Mathuva (2010) cũng đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa thời gian
công ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng với khả năng sinh lợi của công ty.
Tác giả giải thích rằng công ty có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn thì có thời
gian thu nợ ngắn nhất. Bài nghiên cứu cũng đưa ra kết luận thời gian luân
chuyển của hàng tồn kho có mối quan hệ đồng biến với khả năng sinh lợi của
công ty. Mối tương quan dương này được giải thích rằng khi mức tồn kho được
duy trì ở mức cao phù hợp sẽ giảm chi phí của việc quá trình sản xuất bị gián
đoạn khi thiếu nguyên vật liệu đầu vào và tránh rủi ro của việc thua lỗ khi công
ty khan hiếm hàng. Và bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối tương quan dương giữa
thời gian thanh toán công nợ với khả năng sinh lợi của công ty. Bài nghiên cứu
thực hiện hồi quy theo phương pháp bình phương bé nhất (OLS) và mô hình hồi
quy các ảnh hưởng cố định (FEM) dựa trên mẫu dữ liệu gồm 30 công ty được
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nairobi trong giai đoạn 1993 – 2008.
thanh toán của công ty. Qua các kết quả tìm được trong bài nghiên cứu, tác giả đi
đến kết luận rằng các nhà quản lý có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách nâng cao
19
hiệu quả quản trị vốn luân chuyển và luôn cân nhắc giữa vấn đề đánh đổi giữa
khả năng thanh khoản và khả năng sinh lợi của công ty.
Lợi nhuận ròng của bất cứ công ty nào trong một giai đoạn nào đó cũng
được xem như là kết quả cuối cùng của hoạt động đầu tư, tài trợ và sản xuất kinh
doanh. Những hoạt động này bởi các quyết định quản trị và các nhân tố môi
trường bên trong và bên ngoài. Zubairi (2010) nghiên cứu khả năng sinh lợi của
công ty xe hơi tại Pakistan bị ảnh hưởng bởi quản trị vốn luân chuyển và cấu trúc
vốn như thế nào. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy mối tương quan dương giữa
quản trị vốn luân chuyển và quy mô công ty.
Chariton, Elfani và Lois (2010) đã nghiên cứu thực nghiệm tác động của
quản trị vốn luân chuyển đến hiệu quả hoạt động của công ty tại thị trường đang
phát triển. Mẫu dữ liệu bao gồm các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng
khoán Cyprus trong giai đoạn 1998 – 2007. Sau khi tiến hành phân tích hồi quy,
các tác giả đã kết luận rằng chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) và các thành phần
chính của CCC là khoản thời gian thu tiền khách hàng, thời gian lưu kho và thời
gian trả người bán có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty.
Mary, John và Laurine (2010) xem xét ảnh hưởng của hàng tồn kho đến
khả năng sinh lợi của công ty trước và sau quá trình gián đoạn cung ứng từ sự
kiện khủng bố 11/09/2001 và bão Katrina, với mục đích xác định các bằng chứng
cho rằng hàng tồn kho được sử dụng như là phương tiện để phát triển chuỗi cung
ứng bền vững. Bài nghiên cứu quan sát tách biệt giai đoạn ba năm quanh các giai
đoạn gián đoạn cung ứng trên. Sử dụng Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh, mô hình hồi quy đã tách biệt tác động của hàng tồn kho
đến khả năng sinh lợi của công ty và bài nghiên cứu cũng kiểm tra xem có hay
large - cap (Vốn hóa thị trường trên 5 tỷ USD), 65 công ty mid – cap (Vốn hóa
thị trường từ 1 tỷ đến 5 tỷ USD) và 85 công ty small – cap (Vốn hóa thị trường
dưới 1 tỷ USD). Tác giả tiếp tục sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền và các thành
phần trong nó để thể hiện cho việc quản trị vốn luân chuyển của công ty. Sau khi
21
nghiên cứu tác giả đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa hiệu quả quản trị
vốn luân chuyển với giá trị của các công ty có giá trị vốn hóa thị trường cao
(large-cap) và các công ty có giá trị vốn hóa thị trường trung bình (mid-cap).
Cùng thời điểm này thì bài nghiên cứu của Sharma và Kumar cũng đã xem
xét tác động của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi tại các công ty ở Ấn Độ
với mẫu nghiên cứu gồm 263 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch
chứng khoán Bombay – BSE từ năm 2000 đến năm 2008. Bài nghiên cứu sử
dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) và tác giả này cũng đã
đưa ra kết luận rằng số ngày luân chuyển hàng tồn kho và số ngày thanh toán các
khoản phải trả có mối tương quan âm còn số ngày thu hồi nợ của công ty lại có
mối tương quan dương với khả năng sinh lợi của công ty. Và các tác giả cũng
đưa đến kết quả cuối cùng việc tăng chu kỳ chuyển đổi tiền mặt sẽ làm tăng lợi
nhuận cho công ty hay nói cách khác là quản trị vốn luân chuyển có tác động đến
kết quả hoạt động của công ty.
Hasan, Halid, Arzu và Salih (2011) nghiên cứu mẫu dữ liệu bao gồm các
công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Istanbul giai đoạn 2005 – 2009 để
làm sang tỏ mối quan hệ thực nghiệm giữa quản trị vốn luân chuyển (thông qua
biến chu kỳ luân chuyển tiền – CCC) và hiệu quả hoạt động của công ty. Kết quả
bài nghiên cứu cho thấy mối việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền có thể giúp công
ty gia tăng lợi nhuận của mình.
Ngàng công nghiệp dệt may đóng một vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế-xã hội của Bangladesh. Tuy nhiên lợi nhuận từ ngành công nghiệp
trọng thông qua tỷ số của tài sản ngắn hạn với tổng tài sản, tỷ số là 0,49 và kết
quả của phương pháp hồi quy cho thấy rằng mối quan hệ cùng chiều giữa khả
năng sinh lời và với tỷ số tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản và giá trị đó mang
dấu dương. Ngược lại, những công ty theo đuổi chính sách tấn công sử dụng các
khoảng đầu tư dài hạn lại có mối quan hệ nghịch biến với khả năng sinh lợi. Mặc
dù mẫu nghiên cứu nhỏ nhưng có các kết luận tương tự trong nghiên cứu của
Afza và Nazir. Các tác giả xem xét mối quan hệ giữa các chính sách quản lý vốn
23
luân chuyển theo phương pháp tấn công (aggressive) và thận trọng
(conservative) đối với 17 nhóm công nghiệp và mẫu lớn gồm 263 công ty niêm
yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi (KSE) sử dụng dữ liệu chéo từ năm
1998 đến 2005. Sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) và
phương pháp LSD, kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt rất lớn
giữa việc đầu tư vốn luân chuyển và chính sách tài trợ giữa các ngành khác nhau.
Hơn nữa, rank order correlation xác nhận rằng có những khác biệt không lớn
đáng chú ý suốt khoảng thời gian nghiên cứu. Cuối cùng phương pháp bình
phương bé nhất (OLS) cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi
mức độ đầu tư vốn luân chuyển và các chính sách tài trợ. Cả hai bài nghiên cứu
đều muốn nói rằng các công ty sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến khả năng thanh
khoản của họ. Điều đó có nghĩa công ty phải có đủ tiền mặt bởi vì việc quản trị
tiền mặt của công ty yếu kém có thể khiến công ty rơi vào tình trạng khó khăn tài
chính khi đó công ty không thể chi trả các khoản chi phí ngắn hạn và thậm chí
công ty có thể đối mặt với vấn đề kỹ thuật trong ngắn hạn. Trong dài hạn việc
quản lý tiền mặt yếu kém có thể khiến công ty đi đến phá sản.
Vahid và các đồng sự (2012) nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn luân
chuyển đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Tehran (TSE). Mối tương quan âm giữa số ngày thu tiền khách hàng, số