Đánh giá tác động của loại hình truyền thông đến nhận thức và hành vi của phụ huynh trong tiêm chủng trẻ em tại TP HCM - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ SƠN HÀ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LOẠI HÌNH
TRUYỀN THÔNG ĐẾN NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI
CỦA PHỤ HUYNH TRONG TIÊM CHỦNG TRẺ EM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM, 04/2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ SƠN HÀ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LOẠI HÌNH
TRUYỀN THÔNG ĐẾN NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI
CỦA PHỤ HUYNH TRONG TIÊM CHỦNG TRẺ EM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số:

60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................2

1.3

Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu........................................................................2

1.4

Phương pháp nghiên cứu......................................................................................3

1.5

Cấu trúc luận văn..................................................................................................4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT....................................................................5
2.1

Lược thảo lý thuyết...............................................................................................5

2.1.1 Lý thuyết hành vi..................................................................................................5
2.1.2 Lý thuyết truyền thông..........................................................................................5
2.2

Tổng quan thực trạng ………………………………………………………….10

2.2.1 Truyền thông …………………………………………………………………..10
2.2.2 Thực trạng tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam ………………………………..12
2.2.3 Thực trạng tiêm chủng dịch vụ tại Việt Nam …………………………………17
2.3



3.2

Mô hình phân tích ..............................................................................................29

3.3

Mô tả biến số......................................................................................................30

3.4

Phương pháp nghiên cứu....................................................................................33

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ...............................................................................................35
4.1

Thống kê mô tả bộ dữ liệu..................................................................................35

4.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội .....................................................................................35
4.1.2 Đặc tính về số con và số tháng của trẻ .................................................................37
4.1.3 Nguồn truyền thông..............................................................................................39
4.1.4 Nhận thức về tiêm chủng vaccine cho trẻ em.......................................................39
4.1.5 Nhận thức của phụ huynh về tiêm chủng trẻ em và việc lựa chọn vaccine.........40
4.1.6 Loại hình và chất lượng truyền thông ..................................................................41
4.2

Kết quả phân tích hồi quy...................................................................................43

4.2.1 Đánh giá tác động các đặc điểm kinh tế xã hội của cá nhân lên nhận thức về tiêm
chủng trẻ em của phụ huynh .........................................................................................43

PHỤ LỤC 2: Xử lý số liệu bằng stata


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu

Tên tiếng việt

CTTCMR

Chương trình tiêm chủng mở rộng

CTTCMRQG

Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia

TCMR

Tiêm chủng mở rộng

TCTE

Tiêm chủng trẻ em

TCDV

Tiêm chủng dịch vụ

CSYT


VGB

Viêm gan B

DPT

Bạch hầu, uốn ván, ho gà

MMR

Vắc-xin sởi- quai bị- rubella

Hib

Vắc-xin ngừa bệnh viêm phổi do vi khuẩn Haemophilus
influenzae loại b

TPB

Theory of Planned Behavior

TRA

Theory of Reasoned Action


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả duy trì thành quả loại trừ UVSS
Bảng 2.2. Tỷ lệ trẻ 2-10 tuổi mang HBsAg theo tình trạng tiêm chủng năm 2010
Bảng 4.1. Phân bố nhận thức về tiêm chủng

Đồ thị 4.8 . Nguồn truyền thông
Đồ thị 4.9. Nhận thức Lựa chọn vaccine
Đồ thị 4.10. Truyền thông từ CSYT và CTTCMR
Đồ thị 4.11. Truyền thông không chính thức


1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Trước tình trạng có rất nhiều nguồn truyền thông trái chiều, tiêu cực trong lĩnh
vực tiêm chủng trẻ em trong vài năm trở lại đây. Không biết thực hư ra sao nhưng
hành vi của các phụ huynh có con nhỏ phải tiêm chủng luôn lo sợ về sự an toàn của
vaccine, đặc biệt vaccine trong CTTCMR. Ở những thành phố lớn, đặc biệt là thành
phố Hồ Chí Minh, một số phụ huynh chấp nhận bỏ tiền và thời gian chờ đợi để cho trẻ
chích ngừa vaccine dịch vụ thay vì vaccine có sẵn trong chương trình TCMR với hy
vọng giảm rủi ro tai biến sau tiêm.
Đặc biệt là cuối năm 2015 và đầu năm 2016 khi liên tiếp những tai biến và tử
vong xẩy ra trên toàn quốc đã gây hoang mang cho người dân. Với hơn 40 trường hợp
trẻ bị tử vong do vaccine Quinvaxem trong thời gian qua, bộ y tế kết luận có 1 trường
hợp là do vaccine còn lại là do tiền sử bệnh lý của trẻ và nhiều nguyên nhân do khâu
chăm sóc, khai báo, điều kiện y tế chưa đảm bảo.
Sư bất an của các bà mẹ và ông bố có con nhỏ trong độ tuổi tiêm chủng trước
những tai biến nguy hiểm khi tiêm chủng gần đây gây nên tâm lý trì hoãn việc tiêm
chủng đúng lịch cho trẻ trở nên rất phổ biến tại Việt Nam. Nếu tiêm chủng không đúng
lịch, nguy cơ xẩy ra bệnh rất cao, bằng chứng là dịch sởi bùng phát vào năm 2014 và
nguy cơ bệnh ho gà, bạch hầu trở thành dịch nếu không được tiêm chủng đúng lịch và
đầy đủ là điều khó tránh khỏi .
Điều này có phải do truyền thông không đúng cách hay sự sai lệch trong truyền
thông mà dẫn đến tình trạng này? Sự đa dạng về loại hình (đặt biệt là truyền thông từ

huynh trong tiêm chủng trẻ em;
(2) Đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế xã hội của cá nhân lên hành vi lựa chọn
vaccine tiêm chủng trẻ em của phụ huynh;
(3) Đánh giá mối liên quan của nhận thức về tiêm chủng của phụ huynh trong tiêm
chủng trẻ em tới việc lựa chọn vaccine;
(4) Đánh giá tác động của các loại hình truyền thông lên nhận thức của phụ huynh
trong tiêm chủng trẻ em;
(5) Đánh giá tác động của các loại hình truyền thông đến việc lựa chọn vaccine;
(6) Đánh giá tác động các nội dung truyền thông đến việc lựa chọn vaccine.
1.3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Những gia đình có con nhỏ dưới 2 tuổi được tiêm chủng
vaccine dịch vụ hoặc vaccine trong CTTCMR


3

(1) Chọn những phụ huynh đưa con đến Viện Pasteur chích ngừa. Mẫu được lấy ngẫu
nhiên theo các bước sau:
Bước 1: Chọn phụ huynh có con từ 2 đến 24 tháng tuổi
Bước 2: Hỏi phụ huynh đồng ý tham gia phỏng vấn không, nếu đồng ý tiến hành
phỏng vấn.
Bước 3: Phỏng vấn hết phụ huynh này thì tiến hành phỏng vấn đến phụ huynh khác
đến khi nào đủ mẫu thì dừng lại.
(2) Chọn những phụ huynh có con nhỏ tại các trường mẫu giáo tại Tp.HCM. Mẫu
được lấy theo các bước sau:
Bước 1: Chọn phụ huynh có con từ 2 đến 24 tháng tuổi
Bước 2: Hỏi phụ huynh đồng ý tham gia phỏng vấn không, nếu đồng ý tiến hành
phỏng vấn.
Bước 3: Phỏng vấn hết phụ huynh này thì tiến hành phỏng vấn đến phụ huynh khác
đến khi nào đủ mẫu thì dừng lại.

tiếp theo và kiến nghị.
PHỤ LỤC 1: Bản câu hỏi điều tra
PHỤ LỤC 2: Xử lý số liệu bằng stata


5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1 Lược thảo lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết hành vi
Thuyết Hành vi dự định (TPB) (Aizen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành
động hợp lý (TRA) (Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể dự báo
hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng hành
vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi, và được định
nghĩa như là mức độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó.
Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố. Thứ nhất, các thái độ được khái
niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Nhân tố thứ hai là ảnh
hưởng xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng
thuyết Hành vi dự định TPB được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố
kiểm soát hành vi cảm nhận. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ
dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các
nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi.
Đặc điểm người mua
(văn hoá, xã hội, cá tính,
tâm lý)
Các tác nhân marketing
(Sản phẩm, giá ...)

Quá trình quyết định:
1. Nhận thức;

Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận
thông tin.
Kênh truyền thông: là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp
từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Người nhận: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình
truyền thông.
Phản hồi: là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn
phát.
Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch thông tin trong quá trình truyền thông.


7

2.1.2.3. Phương tiện truyền thông
Phương tiện truyền thông là việc vận dụng các khả năng của cơ thể, sử dụng những
phương tiện có sẵn trong tự nhiên, những công cụ nhân tạo để diễn tả và chuyển tải
những thông tin, thông điệp từ bản thân đến người khác hay từ nơi này sang nơi khác.
Các phương tiện truyền thông đại chúng sử dụng hiệu quả
(1) TV truyền hình, Radio, Báo, tạp chí, sách, băng đĩa, phim ảnh, tờ bướm, tờ rơi,
bảng quảng cáo vv..
(2) Internet đứng đầu trong các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt truyền
thông mạng xã hội như Facebook, Twitter, Yahoo...Đây là phương tiện truyền
thông rất phổ biến hiện nay, ai cũng có thể sử dụng để thu nhận và truyền đạt tin
tức. Người sử dụng có thể dùng bất cứ lúc nào, gửi đi bất cứ tin tức gì. Tuy
nhiên, các tin tức nhiều khi không được kiểm chứng tính cách xác thực, gây
hoang mang, ngộ nhận cũng như làm phiền lòng người nhận. Theo thống kê có
khoảng 45,6% số người lứa tuổi từ 18-54 cho biết họ chọn Internet là phương
tiện truyền thông hay nhất.
Đối với vấn đề tiêm chủng mở rộng thì có một loại kênh truyền thông không thể
thiếu đó là truyền thông từ các cơ sở y tế (nhân viên y tế) và chương trình TCMR (sổ

xã hội và thúc đẩy sự hiểu biết về di sản văn hóa của một xã hội. Các chương trình
truyền hình dành cho trẻ em được thiết kế để thể hiện tốt nhất về hành vi và chuẩn
mực đạo đức tốt.
- Giải trí: Chức năng giải trí của truyền thông giúp thư giãn và thoát khỏi căng thẳng
trong cuộc sống hàng ngày. Chức năng giải trí của các phương tiện thông tin đại chúng
có cả tác động tích cực lẫn tiêu cực. Chất lượng nội dung thấp thường bị chỉ trích
nhưng những lợi ích khác như giúp mọi người trải nghiệm những sự kiện mới, kích
thích cảm xúc và giúp mọi người vượt qua thời gian rảnh rỗi cho thấy tầm quan trọng
của chức năng này.
2.1.2.5. Lợi ích và bất lợi của truyền thông
Lợi ích của công tác truyền thông:
(1) Truyền thông dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn đề sức
khỏe một cách mau chóng.
(2) Truyền thông có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu.
(3) Truyền thông có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để
người nghe-coi thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt.


9

(4) Truyền thông có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách
thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phượng tiện liên lạc.
(5) Truyền thông có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp gỡ
giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao
đổi nhận thức bảo vệ sức khỏe.
(6) Tính cách giáo dục, chia sẻ nhận thức, cổ võ những hành vi có lợi cho công ích
(7) Giúp cải thiện sự gắn bó các quan hệ công cộng, giúp các tổ chức liên quan tới
bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc.
(8) Góp phần tranh đấu, cổ võ, truyền thông tiếp tay với các nhà lãnh đạo đưa ra các
chính sách y tế, dung hòa các tranh luận và tìm ra các hỗ trợ ý kiến có tính cách

hợp của các bên liên quan. Phát triển các kế hoạch truyền thông về an toàn vaccine ở
cấp quốc gia để thúc đẩy nhận thức về rủi ro vaccine và lợi ích, hiểu nhận thức về rủi
ro, và chuẩn bị để quản lý bất kỳ tác dụng phụ và những lo ngại về an toàn vaccine kịp
thời như:
(1) Giải thích đúng những lợi ích và rủi ro của một loại vaccine được đề nghị;
(2) Giải quyết mối quan tâm công cộng và tin đồn sắp tới hoặc dai dẳng về an toàn
vaccine;
(3) Chuẩn bị để giải quyết những bất lợi về an toàn vaccine khi chúng xảy ra.
Bên cạnh đó, mạng xã hội Twitter, Facebook có một tỷ lệ lớn người dùng đăng
tin tìm hiểu về tiêm chủng. Một ý kiến chống tiêm chủng tại Facebook ở NewZealand
có được 14.500 likes chỉ trong tháng tư năm 2011. Trong giai đoạn xuất hiện cúm
H1N1, trên mạng xã hội Twitter có đến 22,5% tài khoản có thông tin về bệnh lý và vắc
xin ngừa H1N1.
Betsch (2011), khảo sát ở Mỹ (năm 2009) cho thấy khi tra cứu từ “vaccine”,
“vaccination” và “immuization or immunisation” thì trong 30 địa chỉ Internet đầu tiên
mà Google.com tìm kiếm được có đến 5 địa chỉ là trang web chống tiêm chủng. Tương
tự, tại Canada có đến 8 địa chỉ trang web chống tiêm chủng trong 30 địa chỉ Internet
đầu tiên mà Google.com tìm kiếm được. Các trang web chống tiêm chủng thường có
nhiều thông tin tường thuật cụ thể hơn các trang web chính thống. Các thông tin trên
các trang web chống tiêm chủng đã tạo ra sự đe doạ, tâm lý sợ hãi tiêm chủng đối với
người đọc. Một khảo sát tại Đức trong năm 2008 cho kết quả là có đến 223 người được
khảo sát trên trang web chống tiêm chủng tin rằng rủi ro do không tiêm chủng thấp
hơn nhiều so với có tiêm chủng. Nghiên cứu “Xu hướng e-Health tại Châu Âu” thực


11

hiện trong giai đoạn 2005-2007 tại các nước Đan Mạch, Đức, Hy Lạp, Latvia, Na Uy,
Ba Lan, Bồ Đào Nha cho thấy có đến 42-52% dân số tìm kiếm thông tin sức khoẻ trên
Internet, trong đó nguồn thông tin quan trọng nhất là các chuyên gia y tế, tiếp theo là


với lứa tuổi trung niên và trẻ hơn, những người đóng vai trò quan trọng trong các
quyết định về sức khỏe gia đình. Những nghiên cứu về truyền thông cũng cho thấy
một xu hướng là người ta ngày càng dành nhiều thời gian lướt web lấy tin hơn là xem
ti vi. Những đặc tính của Internet như tương tác thông tin đa chiều cao, kết nối xã hội
và tìm kiếm thông tin theo nhu cầu đã dần đưa ti vi và radio vào thế yếu trong cuộc đối
đầu này. Thông tin từ Internet và mạng xã hội được cho là rộng rãi, không bị áp đặt, dễ
tiếp cận, cập nhật và giao tiếp qua lại có thể ảnh hưởng đến cảm nhận về tính kịp thời
và sự tin cậy của thông điệp so với các phương tiện thông tin truyền thống.
Tại Việt nam, trong trang “webtretho.com” có đến 68.400 kết quả có liên quan
đến từ “tiêm chủng”, trong 30 kết quả đầu tiên có 3 kết quả có nội dung phàn nàn về
chất lượng dịch vụ, độ tin cậy của vaccine. Về từ “vắc xin” có 6.960 kết quả, trong 30
kết quả đầu tiên có 8 kết quả có nội dung phản ánh chất lượng kém, rủi ro/nguy hiểm
của vắc xin.
2.2.2 Thực trạng tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam
Theo Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm, TCMR là tiêm chủng bắt buộc, như
vậy tất cả trẻ em phải được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch, nếu không có thể bị mắc
bệnh truyền nhiễm đối với trẻ em đó và dẫn đến miễn dịch trong cộng đồng không cao.
Nếu như miễn dịch cộng đồng không cao thì có thể gây ra dịch bệnh truyền nhiễm.
Chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) bắt đầu được triển khai ở Việt Nam
từ năm 1981. Ngay từ khi đi vào hoạt động, TCMR đã phải đối mặt với không ít khó
khăn. Đó là điều kiện giao thông từ huyện đến xã nhất là đến những thôn bản vùng
sâu, vùng xa, ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ tiêm chủng của phụ nữ và trẻ em, nhận
thức của cộng đồng và bà mẹ về tiêm chủng, phòng bệnh còn hạn chế… Truyền thông
không chính thức thường bị quá tải bởi nhiều dịch vụ y tế. Nguồn kinh phí cho tiêm
chủng hoạt động còn thiếu… Mặc dù vậy, chương trình TCMR của Việt Nam đã từng
bước khắc phục khó khăn, đã triển khai có kết quả và được cộng đồng Quốc tế thừa
nhận là nước triển khai công tác tiêm chủng mở rộng tốt nhất, hiệu quả nhất.
Đến năm 1985, chương trình TCMR được đẩy mạnh và được triển khai ở 100%
xã phường trong cả nước với 6 loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm là

(2)Tăng tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi trên phạm vi toàn quốc:
Kể từ năm 1994, sau khi 100% số xã phường trên toàn quốc đã được bao phủ Chương
trình TCMR, tỷ lệ này liên tục tăng lên theo các năm và kể từ năm 1995 luôn được duy
trì ở mức trên 90% ở quy mô tuyến tỉnh. Kể từ năm 2004 tỷ lệ này luôn được duy trì
mức trên 90% ở quy mô tuyến huyện (trừ năm 2007 do thiếu vắc xin sởi) (biểu đồ 2.1)


14

Biểu đồ 2.1. Kết quả tiêm chủng đầy đủ toàn quốc giai đoạn 1985 – 2012
(nguồn : CTTCMR QG)
(3) Đạt và duy trì thành quả thanh toán bại liệt:
Chỉ trong vòng hơn 10 năm, CTTCMR đã thực hiện thành công việc thanh toán bệnh
bại liệt và duy trì việc thanh toán đến nay (biểu đồ 2.2)

Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin OPV và tỷ lệ mắc bệnh bại liệt, năm 1985 – 2012
(nguồn : CTTCMR QG)
(4) Đạt và duy trì thành quả uốn ván sơ sinh (UVSS)
Việt Nam là một trong 7 nước có tỷ lệ mắc UVSS cao nhất khu vực. UVSS là
bệnh của nước nghèo, nơi mà các bà mẹ ít có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế khi


15

mang thai hoặc dịch vụ y tế kém chất lượng. Tổ chức YTTG đề ra mục tiêu trên 80%
phụ nữ có thai phải được tiêm đủ 2 liều vắc xin uốn ván. Sau 4 năm nỗ lực phấn đấu,
tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm đủ 2 liều vắc xin uốn ván trước khi sinh ở Việt Nam đạt
82% vào năm 1995. Từ 1996-2004 tỷ lệ này được duy trì ở mức 82-91%.
Từ năm 2006 đến nay luôn duy trì tỷ lệ UVSS ở mức 0.04 ca mắc trên 100.000 dân
Bảng 2.1. Kết quả duy trì thành quả loại trừ UVSS (nguồn : CTTCMR QG)

90%. Nhờ vậy giảm liên tục số ca mắc và chết. Năm 2012, giảm số ca mắc bệnh bạch
hầu xuống còn 0.01 trên 100.000 dân; bệnh ho gà xuống còn 0.1 trên 100.000 dân;
(8) Mở rộng diện bao phủ các vaccine viêm não nhật bản B, tả và thương hàn
-

Vắc xin viêm não Nhật Bản: Được liên tục mở rộng diện bảo phủ qua các năm.

Tính đến năm 2011, số tỉnh triển khai tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản đã đạt tới 59/63
tỉnh, thành phố. Tỷ lệ trẻ tiêm đủ 3 mũi cơ bản đạt trên 90% theo tuyến tỉnh.
-

Vắc xin thương hàn: Được đưa vào chương trình TCMR năm 1997 với kế hoạch

triển khai trong những năm đầu tiên tiêm cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi tại 6 tỉnh phía Nam.
Trong những năm trở lại đây do kinh phí hạn hẹp nên vắc xin thương hàn chỉ được
tiêm tại những vùng nguy cơ cao và vẫn được duy trì ở tỷ lệ cao cho đối tượng có chỉ
định tiêm dự phòng.
-

Vắc xin phòng tả: Được đưa vào chương trình TCMR Việt Nam từ năm 1998, sau

14 năm triển khai đã có trên 7 triệu liều vắc xin tả dạng uống được sử dụng ở gần 12
tỉnh, thành phố
Hiện tại chương trình tiêm chủng mở rộng thực hiện tiêm miễn phí 12 loại
vaccine để phòng 12 bệnh phổ biến và nguy hiểm nhất ở trẻ em tại tất cả các xã
phường trong cả nước. Các loại vaccine phòng 12 bệnh là: lao, bạch hầu, ho gà, uốn
ván, bại liệt, viêm gan B, viêm phổi-viêm màng não do Hib, sởi- rubella, viêm não
Nhật Bản. Riêng vaccine tả và thương hàn được thực hiện ở vùng có nguy cơ cao.
2.2.3 Thực trạng tiêm chủng dịch vụ tại Việt Nam
Do tính chất lịch sử, hiện tại nước ta có sự phân tách khá rõ rệt hai “hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status