Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững các làng nghề truyền thống tại huyện Hoài Đức,Hà Tây - Pdf 50

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

`PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ở nước ta hiện nay có trên 2.000 làng nghề truyền thống hơn 100 năm
tuổi, hàng năm đóng góp cho xuất khẩu 600 triệu USD. Hầu hết đó là những
làng nghề thủ công truyền thống sản xuất mây, tre đan, dệt vải, thêu ren, sản
xuất đồ nội thất, sơn mài... Các làng nghề tại Việt Nam hiện nay đã góp phần
giúp kinh tế tại các làng quê ngày một phát triển hơn, giúp giải quyết việc làm
và tăng thu nhập cho nông dân trong lúc nông nhàn . Tuy nhiên, làng nghề
VN lại đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như khả năng tổ chức quản lý,
thiết bị và nguồn lực tài chính, kiến thức thị trường, kỹ năng marketing, cơ sở
hạ tầng và kỹ thuật công nghệ. Bên cạnh đó, chất lượng sản phẩm tại các làng
nghề còn chưa đồng đều, mẫu mã sản phẩm không phù hợp với phong cách
hiện đại… làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nhất là thị
trường quốc tế. Hơn thế với gần 80% dân số hoạt động trong nông nghiệp và
sống ở nông thôn với mức thu nhập đầu người rất thấp cùng với việc tỷ lệ
sinh đẻ cao, đất canh tác ngày càng có xu hướng co hẹp lại tạo ra một sức ép
rất lớn cho môi trường cũng như hệ sinh thái.Ô nhiễm nguồn nước, không
khí, hóa chất công nghiệp…đang là vấn đề nghiêm trọng cần phải được giải
quyết ngay. Do vậy nghiên cứu việc phát triển bền vững các làng nghề truyền
thống gắn liền với bảo vệ môi trường ô nhiễm môi trường làng nghề hiện rất
cần được quan tâm và nghiên cứu.
Hà Tây ( cũ ) là vùng đất có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng trong cả
nước và đã giao lưu với quốc tế và huyện Hoài Đức cũng không nằm ngoại lệ
trong đó các làng nghề truyền thống đóng một vai trò rất lớn trong việc nâng
cao đời sống người dân và phát triển kinh tế địa phương.Tuy nhiên vấn đề
phát triển các làng nghề ở huyện Hoài Đức nói riêng cũng giống như những
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

1


Nghiên cứu sự cần thiết của việc phát triển các làng nghề truyền

thống gắn liền với bảo vệ môi trường tại huyện Hoài Đức


Đề xuất một số giải pháp nhằm gắn kết giữa phát triển kinh tế và

bảo vệ môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của các làng nghề
truyền thống của huyện Hoài Đức
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

2

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: một số làng nghề truyền thống đặc trưng của huyên
Hoài Đức: Cát Quế, Dương Liễu, Sơn Đồng, Minh Khai…
Phạm vi nghiên cứu: huyện Hoài Đức –Hà Nội ( Hà Tây cũ)
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a. Phương pháp điều tra, phỏng vấn
b. Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu
c. Phương pháp lập bảng tính điểm tìm mức độ quan trọng của các giải
pháp
5. KẾT CẤU CHUYÊN ĐỀ
Chương I

Trong những năm gần đây, nhờ chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh
tế và phương hướng đa dạng hóa các ngành nghề của chính phủ, bộ mặt nông
thôn Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt. Các loại hình sản xuất đã bước
đầu đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, đặc biệt là sự hồi
sinh của loại hình các làng nghề sản xuất truyền thống. Chính sự hồi sinh đó
của các làng nghề đã tham gia vào xây dựng kinh tế - xã hội ở nông thôn, góp
phần nâng cao thu nhập giảm đói nghèo nâng cao dân trí… cũng như đem lại
nguồn thu nhập lớn cho địa phương cũng như đất nước.
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều
có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra
một số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của hộ gia
đình mang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn
có. Nhưng qua một quá trình dài phát triển do có sự khác nhau về tay nghề và
kinh nghiệm tích luỹ được ở từng địa phương nhất định đã có sự chuyên môn
hoá và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị trường trao đổi như những loại
hàng hoá. Đó là quá trình chuyên môn hoá lâu đời và các sản phẩm của địa
phương đó không những bền đẹp mà có giá thành rẻ nên được xã hội chấp
nhận. Chẳng hạn quê lụa Hà Tây có làng lụa Vạn Phúc nổi tiếng cả trong và
ngoài nước, hoặc nghề rèn ở Đa Sỹ…và Hà Tây nơi có nhiều làng nghề nổi
tiếng nên được thiên hạ đặt tên là “đất của trăm nghề”. Không riêng Hà Tây
mà hầu hết các địa phương trên cả nước ở làng quê nào ngoài sản xuất nông
nghiệp đều có làm thêm một vài nghề phụ. Song vấn đề quan tâm ở đây là
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

4

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

II.VAI TRÒ CỦA CÁC LÀNG NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ- XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN
Trên thực tế Việt Nam có diện tích đất bình quân đầu người tương đối
thấp, hơn thế công việc của nhà nông lại mang tính thời vụ cao và chỉ làm
trong một thời gian nhất định. Do đó việc dư thừa lao động nhàn rỗi trong
thời gian dài của người dân tương đối lớn ( gần 30% quỹ sức lao động tương
đương với 9 triệu lao động ). Đồng thời thu nhập thuần nông rất thấp và chủ
yếu mới giải quyết được vấn đề lương thực.Chính vì vậy sự phát triển của các
làng nghề mang tính tất yếu để có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi của người
dân nhằm tăng thêm thu nhập và giải quyết công ăn việc làm cũng như thúc
đẩy các vùng lân cận phát triển.Mặt khác nó còn tạo ra các dòng lưu thông
lưu thông hàng hóa và văn hóa giữa các vùng, miền với nhau.
Ở nước ta với trên dưới 2000 làng nghề khác nhau đã taọ việc làm cho
khoảng gần 2 triệu lao động.Tính riêng Hà Tây (cũ nay được sát nhập vào Hà
Nội) hiện có gần 100 làng nghề đã sử dụng 80.000 nhân công, chiếm hơn 7%
lượng lao động nông thôn ( Số liệu Bộ LĐTB xã hội, 2006). Bắc Ninh có 60
làng nghề sử dụng 24.000 lao động chiếm 8.5% tổng lực lượng lao động,
chiếm 74% giá trị sản lượng công nghiệp ngoài quốc doanh ( Theo Báo Nhân
Dân , 2006)
Trong vòng 10 năm qua lọai hình sản xuất làng nghề có mức tăng trưởng
(giá trị sản lượng ) vào khoảng 8% năm (VietNamNet 8-9-2006 ). Các tỉnh
xung quanh Hà Nội tỷ lệ này nói chung là cao hơn,ví dụ Hà Tây tăng trưởng
23% năm 2005 và 29% 2006 (VietNamNet 3-11-2007).
Các làng nghề đang đóng vai trò tích cực trong việc phát triển ngành tiểu
thủ công, ngành nghề truyền thống và nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn. Hiện cả nước có 2017 làng nghề, thu hút hàng chục vạn cơ

nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng nhỏ từ 3-5% giá trị nhập khẩu.
Hoạt động của các làng nghề truyền thống đã góp phần huy đông tối đa và
đẩy nhanh vòng quay của vốn trong dân. Theo điều tra tổng số vốn nhàn rỗi
trong dân nông thôn hiện nay không dưới 6000 tỷ đồng, chủ yếu dưới hình
thức tiền mặt,vàng bạc… Lượng vốn này thường rất khó huy dộng bởi các
hình thức thu hút vốn quy mô lớn từ nhà nước do người dân phần lớn còn
mang tư tưởng e ngại và thiếu thông tin cũng như hiểu biết cần thiết.Các dự
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

7

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

án lớn của nhà nước hay các doanh nghiệp thường là rất lâu mới có khả năng
thu hồi vốn cho nhân dân do đó họ thường giữ tiền hoặc gửi ngân hàng.Chính
vì vậy các làng nghề với đặc điểm là hoạt động đơn giản và không loại trừ
( tùy từng người mà vốn huy động khác nhau ) mà mọi người từ người có vốn
lớn đến người có vốn nhỏ đều có thể tham gia.Người dân tham gia vào hoạt
động tạo ra sản phẩm tại các làng nghề không nhất thiết phải cần có nhà
xưởng to lớn mà họ có thể tận dụng được ngay nhà ở của mình để tham gia
sản xuất.Chính vì điều kiện đơn giản đấy của sản phẩm làng nghề nên việc
phát triển làng nghể tại các địa phương của Việt Nam là rất cần thiết.Chính có
sự phát triển của làng nghề cũng góp phần vào việc hạn chế và giảm thiểu các
tác động tiêu cực của việc có rất nhiều lao động nhàn rỗi hiện nay.
Đặc biệt với việc tỷ lệ chênh lệch dân giữa thành thị và nông thôn rất lớn
hiện nay thì việc các làng nghề được chú trọng sẽ góp phần giảm bớt được
lượng lao động lớn tại các địa phương di cư đến các đô thị vốn đã quá đông

nghĩa môi trường khác nhau.Theo quan điểm thuần về sinh thái,các nhà sinh
thái học cực đoan gần như chối bỏ cả chính sách phát triển “có thay đổi bổ
xung” dựa trên cơ sở sử dụng bền vững nguồn tài sản tự nhiên.Đối với họ chỉ
có một chiến lược phát triển tối thiểu là có thể tán thành đươc về mặt đạo đức.
Ngược lại theo quan điểm thuần về công nghệ,các nhà phân tích lại cho rằng
các khái niệm về bền vững không mấy mới mẻ đối với chính sách và lý thuyết
kinh tế đã được quy định.
Tiền đề lịch sử
Những ý tưởng hàm ý phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã hội loài
người nhưng phải đến thập niên đầu của thế kỷ XX, những hàm ý này mới
phát triển, chuyển hoá thành hành động và cao hơn là phong trào xã hội. Tiên
phong cho các trào lưu này phải kể đến giới bảo vệ môi trường ở Tây Âu và
Bắc Mỹ.
Uỷ ban bảo vệ môi trường Canada được thành lập năm 1915, nhằm khuyến
khích con người tôn trọng những chu kỳ tự nhiên, và cho rằng mỗi thế hệ có
quyền khai thác lợi ích từ nguồn vốn thiên nhiên, nhưng nguồn vốn này phải
được duy trì nguyên vẹn cho những thế hệ tương lai để họ hưởng thụ và sử
dụng theo một cách thức tương tự. Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

9

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

bảo vệ động vật hoang dã", tại Hội nghị Paris (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin
- nhà bảo vệ môi trường Thuỷ Sĩ đã đề cập đến việc cần phải bảo vệ thiên
nhiên.


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

FAO. Tuy nhiên. khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ
sau báo cáo Brundrland (1987). Kể từ sau báo cáo Brundtland, khái niệm bền
vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm,
định hướng, giải pháp tháo gở bế tắc trong các vấn đề trong phát triển. Đây
cũng được xem là giai đoạn mở đường cho "Hội thảo về phát triển và môi
trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá được tổ chức tại Rio de
Janeiro (1992), và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại
Johannesburg (2002).
Định nghĩa phổ biến nhất về bền vững là định nghĩa của Ủy Ban Thế Giới
về môi trường và phát triển ( WCED) (Ủy Ban Brundtland, 1987).Ủy ban này
định nghĩa “phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu hiện
tại mà không xâm phạm đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ
tương lai”.(WCEd,1987,tr.43)
1.2 Nội dung của phát triển bền vững
Trên cơ sở của định nghĩa này,cả hai vấn đề công bằng giữa các thế hệ và
sự công bằng trong cùng một thế hện phải được thỏa mãn trước khi bất cứ
một xã hội nào có thể đạt được mục tiêu bền vững.Phát triển kinh tế và xã hội
phải được thực hiện sao chốc thể tối thiểu hóa được các ảnh hưởng của hoạt
động kinh tế (đối với tài nguyên tự nhiên và khả năng hấp thụ hóa giải chất
thải) bất cứ khi nào mà chi phí do các thế hệ sau phải gánh chịu.Nếu các goạt
động thiết yếu hiện tại lại tạo ra các chi phí phải gánh chịu cho tương lai ( ví
dụ như khai thác khoáng sản không tái sinh ) thì người ta phải trả toàn bộ các
khoản bồi thường .
Ủy ban này cũng nhấn mạnh “những nhu cầu thiết yếu của người nghèo
trên thế giới phải được ưu tiên trên tất cả”.Nói cách khác, phát triển bền vững
phải cho phép gia tăng mức sống (theo nghĩa rộng ) của mọi người,với sự chú
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

Chuyển dịch cơ cấu lao động
Nâng cao phúc lợi xã hội

PHÁT
TRIỂN
BỀN
VỮNG

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI
NGUYÊN
- Sử dụng hợp lý tài nguyên đất
- Sử dụng hợp lý tài nguyên nước
- Tăng độ che phủ rừng
- Bảo tồn đa dạng sinh học
- Tiết kiệm tài nguyên không tái sinh:
than, dầu khí, đá, đất sét, các kim
loại...

Cân đối hài hoà

Hình vẽ: 1.1 Các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội
và bảo vệ môi trường trong PTBV.

SV: Nguyễn Đình Quang Khải

12

Lớp: KTMT 47



một kế hoạch dài hạn cho tương lai.Chính vì vai trò quan trọng như vậy của
làng nghề các làng nghề hiện nay mà việc nghiên cứu phát triển bền vững là
vô cùng cần thiết.Hơn thế với xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ của các
làng nghề nhưng không quan tâm tới môi trường sẽ dẫn đến sự mất cân bằng
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

14

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

giữa các yếu tố về kinh tế môi trường cũng như xã hội.Do đó rất cần có một
chiến lược phát triển bền vững các làng nghề vì trong tương lai các làng nghề
sẽ trở thành một thành phần kinh tế không thể thiếu. Với tình trạng các làng
nghề phát triển một cách rời rạc không có kế hoạch như tại hầu hết các làng
nghề hiện nay không những khiến cho các làng nghề mất đi hiệu quả mà còn
góp phần làm chất lượng môi trường tại địa phương ngày một xấu hơn.Không
chỉ vậy với các địa phương có sai lầm trong cách tổ chức phát triển sẽ không
chỉ ảnh hưởng đến chính bản thân làng nghề đấy mà nó cũng sẽ gián tiếp tác
động đến các làng nghề khác.
2.2 Nội dung phát triển bền vững các làng nghề truyền thống
Phát triển bền vững các làng nghề truyền thống là đảm bảo cho các làng
nghề có định hướng phát triển rõ ràng và đúng đắn hơn.Trong quá trình phát
triển của mình các làng nghề không chỉ đem lại lợi ích cá nhân của địa
phương đấy mà nó còn góp phần phát triển kinh tế của vùng. Phát triển bền
vững làng nghề ở đây là có thể đưa ra được các biện pháp phát triển kinh tế
làng nghề ngày càng sâu rộng. Đồng thời với việc tổ chức phát triển các làng
nghề là những công tác cải thiện điều kiện môi trường trong khu vực, gắn kết

là nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của các địa phương về ngành nghề nông
thôn, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, thu hút và tạo ra mối
liên kết chặt chẽ hơn giữa nhiều “nhà” như: nhà nước, nhà kinh doanh, nhà
khoa học, nhà văn hoá, nhà thiết kế mỹ thuật, nhà du lịch cùng tham gia phát
triển ngành nghề, tạo ra những nghề mới, bảo tồn giá trị truyền thống, tạo ra
các bản sắc mới của làng xã trong các sản phẩm. từ đó thúc đẩy ngành nghề
nông thôn phát triển bền vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn theo hướng nâng cao tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp,
dịch vụ và nâng cao thu nhập của người dân nông thôn. Tổng Cục Du lịch
đang hình thành “Nghiên cứu khả thi phát triển du lịch gắn với sản xuất tiểu
thủ công nghiệp dọc hành lang Đông-Tây”. Mục tiêu của dự án là kết hợp
giữa hoạt động phát triển du lịch với sản xuất hàng thủ công nghiệp thông qua
du lịch làng nghề trong khu vực dọc theo tuyến hành lang từ Myanmar, qua
Thái Lan, Lào đến Việt Nam.Phát triển ngành nghề nông thôn là cách làm
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

16

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

“rẻ” nhất để tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn. Điều
quan trọng là phải làm rõ làm cái gì làm như thế nào để hỗ trợ phát triển mạnh
mẽ hơn làng nghề Việt Nam, mang lại không chỉ giá trị kinh tế, mà còn giá trị
văn hóa, nhân văn, truyền thống dân tộc, thể hiện qua những sản phẩm làng
nghề, những khối óc bàn tay tinh túy của các nghệ nhân. Nghị định 66-TTg
Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn thể hiện rõ quan điểm, chủ
trương của chính phủ mong muốn hỗ trợ phát triển mạnh mẽ nông thôn Việt

nhiều làng nghề trong cùng khu vực địa lý, nhưng mức độ phát triển giữa các
làng nghề rất khác nhau. Một số làng nghề phát triển rất nhanh nhờ vào sự ổn
định đầu ra của sản phẩm như lụa Vạn Phúc, mây tre đan Phú Vinh, nhưng
cũng có những làng nghề như: cốm làng Vòng đang đứng trước nguy cơ bị
mai một. Chiến lược phát triển du lịch làng nghề đang mang tới cho làng
tranh Đông Hồ những cơ hội khôi phục lại nghề truyền thống, song cũng có
những làng nghề đã từng mai một nhưng tự hồi sinh như gốm Phù Lãng với
thương hiệu Gốm Nhung. Gốm sứ Bát Tràng vẫn duy trì được nhờ hoạt động
thương mại và du lịch … Đây cũng là đặc điểm chung của các làng nghề Việt
Nam hiện nay. Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện nay chỉ
có 32% làng nghề hoạt động tốt, 42% làng nghề hoạt động cầm chừng và
26% số làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một.
Một trong những điểm yếu lớn nhất hiện nay của các làng nghề là công
tác thông tin và kỹ năng thị trường, ở các làng nghề có nhiều nghệ nhân có
đôi “bàn tay vàng”, làm ra những sản phẩm chất lượng rất tốt, nhưng ít người
được biết đến, mức độ chủ động tham gia thị trường rất hạn chế. Việt Nam đã
trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), điều này sẽ
mở ra cơ hội lớn để sản phẩm làng nghề vươn ra thế giới. Để nắm bắt được cơ
hội này, trang bị kỹ năng thị trường là điều kiện số 1 để có được thành công,
tuy nhiên phải thấy được thách thức “Ở các nước trên thế giới, nước nào cũng
có chủ trương phát triển hàng thủ công mỹ nghệ, mà họ làm việc này từ nhiều
năm nay. Muốn thắng trong cuộc cạnh tranh này, VIệt Nam làm và phải làm
mạnh mẽ để hỗ trợ làng nghề phát triển. Những cố gắng của Chính phủ, các
làng nghề, và nghệ nhân sẽ phải nhiều hơn rất nhiều để đưa sản phẩm của
mình vươn ra thế giới một cách thắng lợi, tránh rơi vào tình trạng “thua ngay
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

18

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ
MÔI TRƯỜNG CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG HUYỆN
HOÀI ĐỨC

I.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC LÀNG NGHỀ HUYỆN HOÀI ĐỨC
1.Điều kiện tự nhiên của huyện
1.1 Vị trí địa lý
- Vị trí: nằm phía Tây thủ đô Hà Nôi, cách trung tâm Hà Nội khoảng 16km
(Phía đông giáp huyện Từ Liêm, phía Tây giáp huyện Quốc Oai, giáp huyện
Đan Phượng và Phúc Thọ ở phía bắc, giáp huyện Chương Mỹ, Thanh Oai và
thành phố Hà Đông ở phía nam.Địa bàn huyện có các Quốc lộ, tỉnh lộ chạy
qua như đường Láng- Hòa Lạc, Quốc lộ 32 và các đường tỉnh lộ 70,422,423.
- Diện tích: Tổng diện tích tự nhiên là 8.246,77 ha chia ra :
- Vùng đồng 5.824,96 ha
- Vùng bãi là 2.421,81 ha
Trong đó :
- Đất nông nghiệp: 4.217,09 ha
- Đất phi nông nghiệp: 3972,38 ha
- Đất chưa sử dụng: 57.30 ha
Toàn huyện có 19 xã, 01 thị trấn trong đó vùng đồng gồm 09 xã và 01 thị trấn,
vùng bãi sông Đáy gồm 10 xã.

SV: Nguyễn Đình Quang Khải

20

Lớp: KTMT 47


21

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1 Tình hình dân số
Tổng số toàn huyện có 42.884 hộ, dân số 180.979 người; mật độ dân số
2.200 người/km2; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2008 là 1,35%, tỷ lệ hộ
nghèo là 4,2%. Số người trong độ tuổi lao động là 92.629 người, số lao động
làm việc trong các ngành kinh tế là 87.998 người, số lao động trong khu vực
nhà nước 3300 người.
2.2 Tình hình kinh tế xã hội
Hiện trên địa bàn có 455 doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động; có 08
quỹ tín dụng nhân dân; 66 HTX ( trong đó số HTX phi nông nghiệp là 26), số
hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký là 3114 hộ.Ngoài ra còn có 17.381 hộ có
nghề phụ sản xuất trong các làng nghề, chiếm 40.5 % số hộ toàn huyện.
Toàn huyện hiện có 51/53 làng nghề, trong đó có 11 làng nghề được
UBND tỉnh Hà Tây ( trước đây ) công nhận.
Tổng giá trị sản xuất năm 2008 là 2.330 tỷ đồng, trong đó công nghiệp –
xây dựng chiếm 55,4 % ,thương mại dịch vụ chiếm 32 %; nong nghiệp chiếm
12,6 % cơ cấu giá trị sản xuất. Thu nhập bình quân đầu người năm 2008 theo
giá hiện hành là 13,7 triệu đồng/người. Các ngành nghề chủ yếu là chế biến
nông sản chiếm 37,1 %; dệt may chiếm 28,3 %; công nghiệp khác chiếm 34,6
%. Giá trị sản xuât công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tính theo thành phần
kinh tế : khối doanh nghiệp Nhà nước chiếm 3.3 %; khối doanh nghiệp tư
nhân chiếm 40,1 %; hộ gia đình chiếm 56,6 %. Do quá trình đô thị hóa, công

mạnh cho các làng nghề. Huyện Hoài Đức có các làng nghề tiêu biểu với
những hoạt động chính như chế biến nông sản ở Minh Khai, Dương Liễu, Cát
Quế, nghề trạm khắc tượng phật ở Sơn Đồng…
Tại xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây ( nay là Hà Nội ) là xã
có nghề chế biến nông sản phát triển từ lâu đời với quy mô sản xuất nhỏ gắn
liền với những sản phẩm quen thuộc của làng nghề như tinh bột sắn, miến
dong...Đến nay, hệ thống làng nghề ở Minh Khai đã phát triển vượt bậc với
hàng loạt sản phẩm phong phú như mạch nha, bún phở khô, tách vỏ đỗ xanh,
các loại bánh kẹo, bim bim...
SV: Nguyễn Đình Quang Khải

23

Lớp: KTMT 47


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Hoài Đức là huyện có vị trí liền kề với Thủ đô Hà Nội, với nhiều lợi thế
và tiềm năng cho phát triển kinh tế như công nghiệp, thương mại, dịch vụ và
đặc biệt là phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong sản xuất và chế
biến nông sản. Hàng năm, để phục vụ cho nguyên liệu đầu vào cho công
nghiệp xay xát và chế biến gạo, bên cạnh lượng thóc khoảng 30.000-40.000
tấn sản xuất nội tỉnh , các doanh nghiệp chế biến gạo Hoài Đức thu mua thóc
từ các tỉnh phía Nam và một số tỉnh phía Bắc, khoảng 70.000-80.000 tấn/năm
nhằm phục vụ hoạt động sản xuất và chế biến. Trong tổng lượng thóc
100.000-120.000 tấn, Hoài Đức tiêu dùng khoảng 30% để đưa vào chế biến
các sản phẩm từ gạo như mỳ, bún,phở…, 50% đưa vào tiêu dùng đô thị và
20% xay xát gạo xuất khẩu theo đơn đặt hàng trực tiếp. Chính vì thế là điều
kiện để phát triển một làng nghề mới tại 2 xã Đức Giang và Trôi.

Ngoài các sản phẩm truyền thống của xã như miến dong, bún khô, đỗ xanh
bóc tách, mạch nha có mặt ở khá nhiều địa phương trong cả nước và xuất
khẩu sang một số nước như Lào, Cam-pu-chia, Nga, Trung Quốc; gần đây
xuất hiện các nghề mới như dệt len, dệt chun, thêu và may công nghiệp, làm
màng mỏng.
Chỉ nói riêng về các mặt hàng nông sản thực phẩm, hằng năm người dân
Dương Liễu đã sản xuất, chế biến một khối lượng bao gồm: 60 nghìn tấn bột
sắn, 17 nghìn tấn tinh bột dong, 15 nghìn tấn mạch nha, 4.500 tấn đỗ xanh
bóc tách, 4.500 tấn miến dong, 4.000 tấn bánh, kẹo các loại.... Theo cách tính
toán của cán bộ xã thì mấy năm trở lại đây, thu nhập từ sản phẩm nông nghiệp
giảm dần, và tỷ trọng CN, TTCN và dịch vụ không ngừng tăng lên.
Còn tại xã La Phù, năm 2007, đạt giá trị sản xuất là 598 tỷ đồng. Trong
đó, giá trị sản xuất công nghiệp, TTCN, thương mại dịch vụ làng nghề đạt
567 tỷ đồng chiếm gần 95% cơ cấu kinh tế. Làng nghề xã Minh Khai giá trị
sản xuất đạt hơn 175,5 tỷ đồng, trong đó, giá trị công nghiệp, TTCN làng
nghề và xây dựng đạt 126,5 tỷ đồng, chiếm 80,3% cơ cấu kinh tế....

SV: Nguyễn Đình Quang Khải

25

Lớp: KTMT 47



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status