Thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG

THỊ HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Mỹ học
Mã số: 92 29 007

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2018


Công trình được hoàn thành tại: Khoa Triết học,
Học viện KHXH - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Văn Huyên

Phản biện 1: PGS.TS. Trần Sỹ Phán
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS.TS. Phan Trọng Thưởng
Hội đồng lý luận văn học nghệ thuật Trung Ương
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Thị Thọ
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
KHXH - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam vào hồi

đủ các phẩm chất, nhân cách ở trình độ cao. Đức - Trí - Thể - Mỹ chính là
tiêu chí xây dựng và phát triển con người của hầu hết các nền giáo dục tiến
bộ trên toàn thế giới, ở mọi thời đại. Tuy nhiên, xã hội ta hiện nay đang
xảy ra nhiều chuyển đổi phức tạp, nhất là sự thay đổi các quan hệ giá trị,
sự quan tâm đến việc giáo dục, xây dựng và phát triển con người theo tiêu
chí Chân - Thiện - Mỹ chưa được đầy đủ, và nhiều khi còn thiên lệch các
hệ giá trị, các thang giá trị, các chuẩn mực đánh giá xã hội, làm đảo lộn
thang giá trị trong việc đánh giá con người và từ đó lệch lạc, phiến diện
trong giáo dục và xây dựng con người toàn diện.
Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành ý thức thẩm mỹ của con
người, là cơ sở cho mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẩm
mỹ. Thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh có vai trò to lớn trong xây dựng nền văn
hóa mới, con người mới ở nước ta mà mục tiêu trọng tâm là tạo cơ sở đúng
đắn cho mọi hoạt động sống cũng như mọi hoạt động thưởng thức, đánh giá
và sáng tạo thẩm mỹ của chủ thể. Thị hiếu thẩm mỹ không chỉ biểu hiện quá
trình tự phát triển của cá nhân mà còn thể hiện trình độ giáo dục thẩm mỹ


2

trong nhà trường và ngoài xã hội. Luật giáo dục năm 2005 đã nhấn mạnh:
“Quan tâm đầy đủ đến giáo dục phẩm chất, đạo đức, ý thức công dân, giáo
dục sức khỏe và thẩm mỹ cho học sinh, sinh viên là yêu cầu chiến lược phát
triển giáo dục trong giai đoạn mới ở nước ta” [1]. Có thể nói, cùng với giáo
dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, giáo dục thị hiếu thẩm mỹ có liên quan sâu sắc
đến sự phát triển nhu cầu lành mạnh, lý tưởng tiên tiến của con người Việt
Nam giai đoạn mới.
Thế hệ trẻ nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng là lực lượng quan
trọng, có vai trò quyết định đến vận mệnh, tương lai của đất nước. Hồ Chí
Minh đã đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước.

phủ,

-

cổng

thông

tin

điện

tử,

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=14756.
[ 2 ] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn
phòng Trung ương Đảng, Hà Nội


3

sống thẩm mỹ nói chung, trong thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên nói riêng,
đặc biệt là thực hiện tinh thần theo quan điểm của Đảng ta, nghiên cứu
sinh chọn đề tài: “Thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở
Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
* Mục đích: Trên cơ sở lý luận về thị hiếu thẩm mỹ, luận án làm rõ nội
dung, đặc điểm thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt
Nam; khảo sát, đánh giá thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên đại học
hiện nay, từ đó đề ra phương hướng và các giải pháp nâng cao thị hiếu thẩm


- Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ,
thực hiện mục đích luận án là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
những nguyên lý mỹ học Mác - Lênin, các quan điểm Hồ Chí Minh và của
Đảng Cộng sản về đường lối văn hóa văn nghệ, về xây dựng và phát triển
con người toàn diện, hài hòa. Luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu
liên quan đến đề tài của những người đi trước trong và ngoài nước.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận của nghiên cứu luận án
là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận án sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích số liệu thứ cấp, phỏng
vấn sâu, phân tích số liệu sơ cấp, so sánh và đối chiếu, khái quát hóa; điều
tra xã hội học v.v....
5. Những đóng góp mới của luận án
- Từ góc độ mỹ học, luận án đã góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề
lý luận cơ bản về thị hiếu thẩm mỹ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin ,
tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Trên cơ sở lý luận thị hiếu thẩm mỹ luận án đã phân tích và khái quát
được nội dung và đặc điểm thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại
học ở Việt Nam.
- Bằng số liệu gián tiếp và trực tiếp (do nghiên cứu sinh tự khảo sát),
luận án đã phân tích được thực trạng (ưu điểm và hạn chế) trong thị hiếu
thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất được phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao thị
hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam.
- Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần nghiên cứu thị hiếu thẩm mỹ của
sinh viên nước ta trong xây dựng và phát triển con người toàn diện của
Đảng, Nhà nước ta.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo mỹ học nói chung, thị hiếu thẩm mỹ
nói riêng ở các trường Đại học, Học viện và những ai quan tâm đến lĩnh

có nguồn gốc xã hội, nghĩa là THTM phụ thuộc vào điều kiện sống của
con người. Tsecnưsepxki coi nghệ thuật là cuộc sống, cho nên ông quan
niệm THTM ở mỗi người phụ thuộc vào đời sống vật chất và tinh thần của
con người.
Nhiều vấn đề thị hiếu thẩm mỹ đã được đề cập trong các giáo trình mỹ
học của Liên Xô. Có thể kể đến các giáo trình mỹ học đã được dịch ra
tiếng Việt như: Những phạm trù mỹ học cơ bản của IU.B.Bôrép, Trường
Đại học Tổng hợp xuất bản. Hà Nội 1974; Nguyên lý mỹ học Mác-Lênin
của V.Xcachersiccốp - I.U.A.Lukin; Nxb sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà
Nội 1984; Mỹ học Mác-Lênin Tập 1 của M.F.Ốpxiannhicốp, Nxb Văn hóa,
Hà Nội 1987, v.v... Những giáo trình trên không chuyên bàn về thị hiếu


6

thẩm mỹ song ở một số tiết, tiểu tiết đã đi sâu làm rõ những vấn đề của thị
hiếu thẩm mỹ. Tuy nhiên, với tính chất là giáo trình, vấn đề thị hiếu thẩm
mỹ chỉ được nghiên cứu trong hệ thống nguyên lý chung, chưa được tách
ra thành những phần cụ thể, độc lập và chỉ được dành một dung lượng rất
khiêm tốn. Chỉ riêng V.Razumnưi (1962), đã viết cuốn sách nhỏ Bàn về thị
hiếu nghệ thuật tốt, Nxb Văn hóa nghệ thuật, Bộ Văn hóa (do Hồ Quý
Truyện dịch). Trong cuốn Tâm lý văn nghệ (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
1991) Chu Quang Tiềm tuy không đề cập trực tiếp đến thị hiếu thẩm mỹ
nhưng ông đã làm rõ một số điều kiện cần thiết cho chủ thể thưởng thức và
đánh giá thẩm mỹ.
Ở Việt Nam, vấn đề thị hiếu thẩm mỹ đã được nghiên cứu khá nhiều
từ nửa sau của thế kỷ XX (nhất là những thập niên 70-80). Trước Cách
mạng tháng Tám, một số nhà nghiên cứu đã ít nhiều bàn tới thị hiếu nghệ
thuật thông qua cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ
thuật và nghệ thuật vị nhân sinh trong lĩnh vực văn chương nhằm xây dựng

Ở Việt Nam, nghiên cứu lý luận về thị hiếu thẩm mỹ gắn với vai trò của
giáo dục thị hiếu thẩm mỹ ở tuổi trẻ được quan tâm nhiều hơn, nhất là khi
vấn đề xây dựng mẫu con người lí tưởng cho xã hội mới xã hội chủ nghĩa
được đặt ra.
Tác giả Đỗ Huy với một số bài viết tiêu biểu về Mấy vấn đề giáo dục
thẩm mỹ ở lứa tuổi thanh niên, Tạp chí Triết học số 2,1981; Giáo dục thẩm
mỹ và sự nghiệp xây dựng con người mới, Tạp chí Triết học số 4, 1982;
Nguyễn Văn Huyên với bài viết Một số vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho
thanh niên, Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, số 4.
Công trình mới nhất nghiên cứu về thị hiếu của thanh niên là cuốn thị
hiếu thẩm mỹ của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa Văn nghệ,
năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Hậu chủ biên. Trong đó có một số bài viết
tiêu biểu như Định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho giới trẻ hiện nay của Hồ
Bá Thâm, Xây dựng thị hiếu thẩm mỹ cho thanh niên của Lê Thị Ngọc
Dung, Giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
đáp ứng nhu cầu vươn tới cái đẹp của tác giả Lê Thị Thanh Tâm.
1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp về thị
hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam.
Ở Việt Nam từ trước đến nay, các công trình nghiên cứu thực trạng và
giải pháp về thị hiếu thẩm mỹ của đối tượng sinh viên không nhiều. Cũng
như ở nước ngoài, vấn đề thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên chỉ được đề cập
chủ yếu trong các công trình viết về giáo dục thẩm mỹ hoặc được đề cập
trong đối tượng thanh niên nói chung. Có thể kể đến các cuốn như: Tuổi
trẻ thẩm mỹ của tác giả Hoàng Thiệu Khang (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh
1987), Giáo dục thẩm mỹ - món nợ đối với thế hệ trẻ của Đỗ Xuân Hà
(Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997); Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển nhân
cách con người Việt Nam trong thế kỉ mới của nhiều tác giả do tác giả
Nguyễn Văn Huyên chủ biên (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2001); Xã



trường đại học ở Việt Nam.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng THTM của sinh viên ở các trường đại
học Việt Nam hiện nay, từ đó xác định những vấn đặt ra mà luận án cần
nghiên cứu
- Trên cơ sở thực trạng và yêu cầu mới, luận án đề xuất phương hướng
và giải pháp cơ bản và khả thi nhằm nâng cao THTM của sinh viên các
trường đại học nước ta trong thời gian tới.


9

Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ VÀ THỊ
HIẾU THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Ở VIỆT NAM
2.1. Thị hiếu thẩm mỹ
2.1.1.Thị hiếu
Từ trước đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về thị hiếu nói chung.
Trong ngôn ngữ Latinh, người phương Tây gọi thị hiếu là Gustus, nghĩa là
cảm giác, khẩu vị. Trong ngôn ngữ cổ Trung Quốc gọi thị hiếu là sự thích
thú. Một cách chung nhất, có thể hiểu thị hiếu là sở thích. Thị hiếu tồn tại
trong nhiều mặt cuộc sống, từ việc ăn uống, giải trí, lao động cho đến
những vấn đề lớn hơn như chính trị, đạo đức, tôn giáo, khoa học và hoạt
động thẩm mỹ. Sở thích là lĩnh vực rất đa dạng, phong phú và phức tạp.
Người ta có thể thích món ăn này, không thích món ăn kia; thích kiểu nhà
này, không thích kiểu nhà khác; thích trang phục này mà không thích trang
phục kia v.v... Như vậy, sở thích gần giống như thói quen, nếp sống của
con người. Vì thế, thị hiếu là một kiểu ưa thích nào đó. Kiểu ưa thích này
thường bộc lộ ngay lập tức. Nó biểu thị toàn bộ khả năng đánh giá cảm
xúc của chủ thể.

2.1.3. Bản chất và đặc trưng của thị hiếu thẩm mỹ
*Bản chất của thị hiếu thẩm mỹ:
Tác giả xem xét bản chất của thị hiếu thẩm mỹ thể hiện ở tính thời
đại, tính giai cấp và tính dân tộc.
Tính thời đại của thị hiếu thẩm mỹ thể hiện qua sự biến đổi của hệ
giá trị thẩm mỹ trong từng thời đại nhất định. Mỗi thời đại có những điều
kiện, hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau. Điều này tác động mạnh
đến hình thành thị hiếu nói chung và thị hiếu thẩm mỹ nói riêng, làm cho
những sở thích và tiêu chuẩn đánh giá thẩm mỹ của con người trong thời đại
đó cũng biến đổi theo.
Tính giai cấp thị hiếu thẩm mỹ không phải có tính chất nhất thành bất
biến mà nó có thay đổi theo từng giai cấp. Không thể có một thị hiếu thẩm
mỹ cho mọi giai cấp. Mỗi giai cấp khác nhau có hệ thống chuẩn mực khác
nhau. Giai cấp nào thì thị hiếu ấy.
Tính dân tộc đậm nét. Mỗi dân tộc trên thế giới đều hình thành một thị
hiếu thẩm mỹ riêng. Thị hiếu này có được là nhờ những ảnh hưởng của quá
trình sống lâu dài hình thành và phát triển của dân tộc ấy. Có những hiện
tượng thẩm mỹ, dân tộc này thì đánh giá là đẹp, dân tộc khác lại cho nó là
không đẹp.
* Đặc trưng của thị hiếu thẩm mỹ.
Một là, thị hiếu thẩm mỹ là hình thức đánh giá trực tiếp, là sự phản ứng
mau lẹ, sự phản ứng đó gần như là bản năng, nhưng thực chất là phản ứng xã hội


11

gần các đặc điểm cá tính của chủ thể thẩm mỹ trước các hiện tượng thẩm mỹ.
Hai là, thị hiếu thẩm mỹ là sự đánh giá mang tính khoái cảm. Trong
cuộc sống, cũng như trong tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ đánh giá
hiện tượng xã hội một cách đầy hào hứng. Thụ cảm và đánh giá các hiện



12

thúc đẩy bởi nhu cầu, do nhu cầu quy định. Nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ
và nghệ thuật là một nhu cầu tâm lý, khác với nhu cầu khác, nó được nảy
sinh do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Yếu
tố bên ngoài là khách thể thẩm mỹ, còn đối tượng bên trong là thế giới tình
cảm, sở thích của con người.
Thứ ba, thị hiếu thẩm mỹ được biểu hiện đậm nét qua hoạt động đánh
giá của chủ thể. Trong cấu trúc của chủ thể đánh giá thì không chỉ có lý trí,
tình cảm, vốn kinh nghiệm, trình độ am hiểu nghệ thuât mà còn có quan
điểm thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ. Trong đó, thị hiếu thẩm mỹ giữ vai trò
quan trọng.
Thứ tư, thị hiếu thẩm mỹ góp phần tạo nên cá tính sáng tạo. Tính độc
đáo của nghệ sỹ được tạo nên từ nhiều yếu tố như thế giới quan, lý tưởng, tình
cảm, thị hiếu thẩm mỹ đến tri thức của mỗi nghệ sỹ cụ thể, trong đó thị hiếu
thẩm mỹ giữ vai trò quan trọng. Vai trò này của thị hiếu thẩm mỹ bộc lộ rõ
nhất và mạnh mẽ nhất trong nghệ thuật.
2.2. Đặc điểm thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở
Việt Nam
2.2.1. Đặc điểm của sinh viên các trường đại học ở Việt Nam.
Sinh viên đối tượng năng động và nhiều hoài bão. Họ đang ở lứa tuổi
sung sức, ham hiểu biết, khám phá, tự thể nghiệm mình. Tích cực và ý
thức trách nhiệm cao cá nhân đối với việc học. Thích nghi với việc học tập
không ngừng để tìm cách hoàn thành các nhiệm vụ khác nhau. Áp dụng tư
duy phản biện và chủ động xây dựng mục tiêu học tập. Sinh viên có điều
kiện thường xuyên tiếp cận với người nước ngoài nên tư duy nhanh nhạy,
thích nghi… thích ứng nhanh với quá trình hội nhập.
Đặc điểm thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học ở Việt

đầu tiên, trong đó cha mẹ là người thầy giáo thân thuộc đầu tiên của con
trẻ. Văn hóa trong gia đình đều có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình
thành và tác động đến thị hiếu thẩm mỹ của các thành viên trong gia đình.
Thứ hai, tâm lý lứa tuổi sinh viên tác động rõ nét đến thị hiếu thẩm mỹ.
Hầu hết sinh viên trong độ tuổi thanh niên. Đây là lứa tuổi có lý trí, tình
cảm phong phú, đang trong quá trình hình thành thế giới quan và đi tìm lý
tưởng, vì vậy, các quan niệm về cái đẹp cũng đang trong quá trình định
hình và chứa đựng nhiều biến đổi, nhiều thể nghiệm.
Thứ ba, tác động từ nhu cầu, lợi ích của sinh viên trong hoạt động học
tập, nghiên cứu và hoạt động xã hội. Sinh viên đặc biệt đề cao nhu cầu, lợi
ích về tinh thần; nhu cầu ham hiểu biết, tiếp thu, khám phá những điều mới
lạ. Nhu cầu về tình bạn, tình yêu, âm nhạc, thời trang, điện ảnh... thường
chiếm ưu thế cao và cấp bách hơn những tầng lớp khác trong xã hội.
Thứ tư, tác động từ quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Hội nhập
kinh tế quốc tế và toàn cầu đã làm thay đổi nhận thức và đánh giá trong
quần chúng nhân dân. Trước đây, trong nền kinh tế bao cấp con người ít có


14

điều kiện thể hiện mình hoặc có thì trong sự hòa đồng, gắn bó với tập thể,
cộng đồng xã hội. Hiện nay, xuất hiện một yêu cầu mới: vươn lên chiếm
lĩnh từng đỉnh cao trong mọi lĩnh vực hoạt động của từng cá nhân.
Thứ năm, sự tác động từ khoa học - công nghệ hiện đại, sự phát triển
của công nghệ thông tin và mạng xã hội. Sự phát triển của công nghệ giúp
sinh viên Việt Nam tiếp xúc nhanh với giá trị hiện đại, biết kế thừa, lược
bỏ những yếu tố truyền thống không còn phù hợp với thời đại. Mặt khác,
sự phát triển của kỹ thuật số, của phương tiện điện tử truyền thông,
internet và mạng xã hội đã làm cho nghệ thuật không chỉ còn là hình thái ý
thức xã hội mà là một ngành công nghiệp sản xuất, vận động theo quy luật

truyền thống sang nhu cầu nghe nhìn công nghệ số. Phương thức tiếp cận các
tác phẩm nghệ thuật gắn liền với công nghệ, đặc biệt là thành tựu từ cách
mạng công nghiệp 4.0.
2.1.2. Trong hoạt động đánh giá thẩm mỹ.
Sinh viên đã có đánh giá thẩm mỹ ngày càng nhanh nhạy và thẳng
thắn. Đặc biệt đối với các hiện tượng thẩm mỹ mà họ quan tâm, yêu thích,
thể hiện rõ quan điểm thế giới quan, nhân sinh quan của cá nhân.
Sinh viên Việt Nam có những đánh giá thẩm mỹ hiện đại và tiến bộ về
các hiện tượng thẩm mỹ. Ít chịu ảnh hưởng của những tiêu cực và thành


16

kiến của quá khứ. Một bộ phận trong số sinh viên đã dựa vào tiêu chí tính
truyền thống, tính dân tộc, tiêu chuẩn đạo đức để phê phán những tác phẩm
thô tục, thỏa mãn nhu cầu bản năng thú tính của con người. Đi đôi với việc
lên án là sự ủng hộ của họ với những tác phẩm ca ngợi tình yêu quê hương,
đất nước.
2.1.3. Trong hoạt động sáng tạo thẩm mỹ.
Sinh viên hiện nay là những người có trí tưởng tượng và tư duy liên
tưởng phong phú. Sinh viên khám phá thế giới theo cách riêng của mình,
tùy thuộc vào điểm nhìn của họ thể hiện dấu ấn cá nhân sâu sắc. Dựa vào
hiểu biết của mình về cuộc sống và sự giúp sức từ năng lực tưởng tượng,
sinh viên sáng tạo nên những hình tượng chân thực nhưng vô cùng sinh
động.
Sinh viên cập nhật nhanh và ứng dụng những xu hướng sáng tạo mới
trên thế giới. Hiện nay, trong sáng tạo của giới trẻ nói chung và sinh viên
nói riêng đang có bước phát triển vô cùng đa dạng với nhiều tác phẩm
nghệ thuật ở tất cả các lĩnh vực hoạt động từ văn học, hội họa đến âm nhạc,
điện ảnh, v.v… hướng tới nhiều đề tài cũng như chất liệu khác nhau.

Khát vọng và kết quả sáng tạo thẩm mỹ của sinh viên còn khiêm tốn,
chưa xứng đáng với tiềm năng sáng tạo trong họ.
Chất lượng các sáng tạo thẩm mỹ chưa cao. Một bộ phận sinh viên
hiện nay có sự nhầm lẫn giữa sáng tạo với sao chép, vay mượn thiếu sự
cân nhắc yếu tố nước ngoài, làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc.
Hiện tượng những sáng tạo thẩm mỹ tự phát và có xu hướng chiều
theo thị hiếu tầm thường của khán giả trẻ.
3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế về thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các
trường đại học ở Việt Nam hiện nay.
3.2.2.1. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, do tâm lý lứa tuổi chi phối năng lực lựa chọn thẩm mỹ, nghệ
thuật. Đối với các loại hình nghệ thuật họ thích lựa chọn cái mới.
Thứ hai, do thiếu hụt các tri thức thẩm mỹ, tri thức nghệ thuật cơ bản.
Sự thiếu hụt này có nguồn gốc từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ
thông. Các môn như âm nhạc, hội họa chỉ được giảng dạy ở trung tâm đô
thị lớn nhưng cũng chỉ mang tính hình thức, chiếu lệ.
Thứ ba, do lối sống của một bộ phận sinh viên. Một bộ phận sinh viên
có tâm lý thờ ơ, thực dụng, sống nhanh, sống vội, thiếu tính hướng đích,
nhiều bạn còn chưa ý thức được vai trò của việc nâng cao thị hiếu thẩm mỹ
cả nghệ thuật lẫn trong cuộc sống, chưa có khát vọng sáng tạo cái đẹp.
Thứ tư, do thiếu sự quan tâm từ phía gia đình. Các gia đình hiện nay
mong muốn con em họ thành công trong quá trình lập thân, lập nghiệp
mang ý nghĩa thực dụng với đích đến là địa vị cao trong xã hội và sự giàu
có về vật chất hơn là sự phong phú tâm hồn và tinh tế trong lối sống.
3.2.2.2. Nguyên nhân khách quan


18

Thứ nhất, do hoàn cảnh kinh tế của sinh viên. Sinh viên phần lớn xuất

Tám là, do yếu kém trong quản lý văn hóa. Thực trạng xảy ra hiện
tượng tiêu cực trong đời sống văn hóa góp phần làm THTM của sinh viên
có những biểu hiện lệch lạc có nguyên nhân từ sự buông lỏng, thiếu trách


19

nhiệm của các cơ quan quản lý văn hóa.
Chín là, do tổ chức Đoàn – Hội của Thanh niên. Sinh viên chưa phát
huy được hết vai trò tiên phong trong việc nâng cao đời sống văn hóa tinh
thần cho sinh viên. Thực tế, ở một số trường đại học hoạt động các hoạt
động của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên còn bộc lộ nhiều hạn chế.
Mười là, do ngân sách đầu tư nâng cao đời sống văn hóa tinh thần
cho sinh viên còn hạn chế. Thiếu kinh phí hoạt động là một trong những
nguyên nhân khiến chất lượng hoạt động Đoàn thể giảm sút, gây khó
khăn trong việc xây dựng các chương trình, nội dung hoạt động.
3.2.3. Những vấn đề đặt ra
Vấn đề đặt ra hiện nay là, một mặt, phải nhận thức sự xu hướng biến
đổi về thị hiếu thẩm mỹ là quy luật khách quan, là tất yếu, và mặt khác,
phải chăm lo xây dựng và nuôi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các
trường đại học hiện nay phát triển đúng hướng, vừa phong phú, đa dạng
vừa phải tốt đẹp, trong sáng, lành mạnh. Điều này không chỉ quan trọng
đối với thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên mà còn có tác động đến sự phát
triển nhân cách của họ.
Trước những biến đổi, thực trạng phức tạp của thị hiếu thẩm mỹ của
sinh viên hiện nay và những năm sắp tới, việc chú trọng hơn nữa nhiệm vụ
nâng cao thị hiếu thẩm mỹ ngày càng trở nên bức thiết, góp phần đáp ứng
nhu cầu chính đáng, lành mạnh đang phát triển. Mặt khác, định hướng và
điều chỉnh kịp thời cho chính sự phát triển đó để gạt bỏ, phê phán, ngăn
chặn các nhu cầu và thị hiếu tầm thường, mất đi bản sắc văn hóa dân tộc.

thị hiếu lệch lạc, thấp kém.
4.1.3. Xây dựng thị hiếu thẩm mỹ gắn liền với mục tiêu xây dựng và
phát triển con người toàn diện.
Mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn
hóa dân tộc; hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây
dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới Chân - Thiện - Mỹ.
Bên cạnh những giá trị chung có tính toàn cầu, tính thời đại đặt ra, việc bảo
tồn, phát huy những giá trị tinh thần truyền thống và bồi dưỡng phát triển hệ
giá trị mới là điều cần được khẳng định.
4.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho sinh viên
các trường đại học ở Việt Nam.
Căn cứ vào thực trạng thị hiếu thẩm mỹ của sinh viên các trường đại
học ở nước ta hiện nay cùng nguyên nhân của thực trạng đó, tác giả đề


21

xuất 3 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho sinh
viên như sau:
- Nhóm giải pháp nâng cao văn hóa thẩm mỹ cho sinh viên
- Nhóm giải pháp nâng cao hoạt động thưởng thức thẩm mỹ cho sinh viên
- Nhóm giải pháp nâng cao hoạt động đánh giá thẩm mỹ cho sinh viên
- Nhóm giải pháp nâng cao hoạt động sáng tạo thẩm mỹ cho sinh viên
4.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao văn hóa thẩm mỹ cho sinh viên các
trường đại học.
Tăng cường sự liên kết giữa gia đình - nhà trường - xã hội. Cần có
sự phối kết hợp chặt chẽ, sự thống nhất giữa gia đình - nhà trường - xã hội
về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục.
Đầu tư ngân sách thỏa đáng vào nâng cao văn hóa thẩm mỹ cho sinh
viên. Cần thay đổi cách tư duy và phương thức tổ chức, điều hành văn hóa,

truyền thống vào trong các hoạt động ngoại khóa…
4.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao thị hiếu thẩm mỹ trong hoạt động
thưởng thức thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học.
Nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý văn hóa trong hoạt động
thưởng thức thẩm mỹ. Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật
nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn
hóa; Phối hợp với các ngành chức năng, các lực lượng kiểm soát chặt chẽ
các sản phẩm văn hóa du nhập từ bên ngoài vào dưới mọi hình thức. Đồng
thời, kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong các lĩnh vực kinh
doanh, dịch vụ văn hóa. Đặc biệt, tạo điều kiện về nhân sự, đặc biệt là đầu
tư tài chính có cơ chế giám sát, quản lý trong việc sử dụng nguồn kinh phí
đúng mục đích cải thiện và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần trong các
trường Đại học.
Tăng cường tính định hướng thẩm mỹ của truyền thông đại chúng. Một
là, tìm hiểu nguồn tin, cung cấp những thông tin chính xác nhất để định
hướng dư luận theo hướng tích cực. Hai là, áp dụng phương pháp thiết kế
thông điệp giáo dục gắn bó chặt chẽ với kỹ thuật quản lý hình ảnh và phân
tích nhân vật trong truyền thông giáo dục. Từ đó, giúp công chúng nói
chung và sinh viên nói riêng có những suy nghĩ, tình cảm, hành động đúng.
Ba là, cần quan tâm cả hai mặt nội dung và hình thức thể hiện đối với các
sản phẩm, các chương trình của truyền thông đại chúng. Cuối cùng, bản
thân mỗi nhà báo, nhà truyền thông trước hết phải là một nhà giáo dục và
hơn thế là một nhà báo có đủ kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm xã hội và
tuân thủ, tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiêp.
4.2.3. Nhóm giải pháp nâng cao thị hiếu thẩm mỹ trong hoạt động đánh
giá thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học.
Nâng cao nhận thức, trình độ và trách nhiệm của chủ thể đánh giá
thẩm mỹ. Việc trang bị cho sinh viên các tri thức lý luận mỹ học cơ bản,
theo chúng tôi là biện pháp quan trọng hàng đầu vì những tri thức đóng vai


Sinh viên cần tích cực tích lũy vốn sống và trau dồi đạo đức. Cảm hứng
sáng tạo là nhân tố chủ đạo tự nhiên. Đây không phải là sự bùng phát nhất
thời mà là quá trình tích lũy chất liệu từ những quan sát cuộc sống.
Để khắc phục những mặt hạn chế trong sáng tạo thẩm mỹ như đã từng diễn
ra, sinh viên Việt Nam rất cần được quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức. Sinh
viên tài năng trong sáng tạo trước hết phải là sinh viên có đạo đức.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status