LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, em đã hoàn thành Luận văn
thạc sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng
cường quản lý tài chính tại Cục Tần số vô tuyến điện".
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến GS.TS Nguyễn Quang Quynh,
TS. Nguyễn Thị Phương Hoa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt
quá trình hoàn thiện Luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong Khoa Kế toán và Viện
Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đồng nghiệp đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu
vừa qua để em có thể hoàn thành tốt Luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Học viên
Hồ Đức Lượng
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG CÁC TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP................................5
1.1.
LÍ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIẾM SOÁT NỘI BỘ...............................5
thống kiểm soát nội bộ..................................................................................37
2.2.
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CỤC
TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN HIỆN NAY..........................................................47
2.2.1. Môi trường kiểm soát....................................................................................47
2.2.3. Các thủ tục kiểm soát....................................................................................70
2.2.4. Kiểm soát trên các hoạt động tài chính cơ bản..............................................72
2.3.
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI QUẢN
LÝ TÀI CHÍNH CỦA CỤC TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN.................................79
2.3.1 Kết quả đạt được của hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản
lý tài chính tại Cục Tần số vô tuyến điện......................................................79
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ với việc
tăng cường quản lý tài chính tại Cục Tần số vô tuyến điện...........................81
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN
LÝ TÀI CHÍNH TẠI TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN...................................85
3.1.
SỰ CẦN THIẾT VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ VỀ TÀI CHÍNH TẠI CỤC TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN-BỘ
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG..............................................................85
3.2.
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
NSNN:
Ngân sách nhà nước
KBNN:
Kho Bạc Nhà nước
KSNB:
Kiểm soát nội bộ
HTKSNB:
Hệ thống kiểm soát nội bộ
KTNN:
Kiểm toán Nhà nước
BTC
Bộ Tài chính
BTTTT:
Bộ Thông tin và Truyền thông
IAS:
Danh mục báo cáo tài chính.................................................................69
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Hệ thống cơ cấu tổ chức của Cục Tần số vô tuyến điện.......................51
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy kế toán tại Cục...........................................................52
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán nhật ký chung..............67
Sơ đồ 3.1: Trình tự ghi sổ kế toán tại đơn vị........................................................104
i
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của Đề tài: Cải cách hành chính là yêu cầu bức thiết hiện
nay được Đảng và Chính phủ rất quan tâm. Một trong những nội dung cải
cách nhằm giảm chi ngân sách cho khối sự nghiệp để từng bước cải cách tiền
lương cho cán bộ công chức khối hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả
hoạt động của các tổ chức sự nghiệp, tách bạch rõ ràng giữa các cơ quan quản
lý nhà nước với đơn vị SNCL, đẩy khối sự nghiệp theo hướng thực hiện cung
cấp các dịch vụ công, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công, giao quyền tự
chủ tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy và cơ chế tài chính cho các đơn vị
sự nghiệp. Trong quá trình đổi mới hiện nay, công tác quản lý là một trong
những nội dung được nhiều đơn vị sự nghiệp quan tâm, đặc biệt là việc xây
dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu tại đơn vị. HTKSNB không xa
lạ gắn với với mô hình tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhưng với
các quan quản lý nhà nước áp dụng cơ chế tài chính như đơn vị sự nghiệp lại
là vấn đề khác. Một HTKSNB vững mạnh sẽ giúp cho các đơn vị giảm bớt
những rủi ro, gian lận hay thất thoát tài sản cũng như đảm bảo được độ tin cậy
của các thông tin về tài chính, kinh tế từ đó giúp cho các nhà quản lý có thể
đưa ra được những quyết định chính xác, kịp thời. Từ thực tế đó việc nghiên
nhau: đo lường thành quả hoạt động, so sánh thành quả thực tế với một chuẩn
mực nào đó và có hành động để chỉnh sửa các sai lệch hoặc các chuẩn mực
không phù hợp. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu bảo đảm rằng mọi hoạt động
được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo định nghĩa của Liên đoàn
Kế toán Quốc tế (International Federation of Accountants – IFAC) 1:
“HTKSNB là một hệ thống các chính sách và thủ tục kiểm soát nhằm:
+ Bảo vệ tài sản của đơn vị, tránh mất mát, thất thoát, hư hỏng.
+ Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin kế toán, tránh những sai sót gian
1
Tài liệu tham khảo (16)
iii
lận trong việc ghi chép, tổng hợp trên các tài liệu kế toán.
+ Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý, bảo đảm sự tuân thủ đúng
mức các quy định và chế độ pháp lý liên quan đế hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, tránh những vi phạm dẫn đến những quan hệ không
lành mạnh trong hoạt động tài chính.
+ Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý. Tránh những
lãng phí về các nguồn lực tài chính và phát huy tối đa năng lực của đội ngũ
Các bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ
Môi trường kiểm soát: bao gồm toàn bộ các yếu tố có tính chất môi
trường tác động đến việc thiết kế chính sách, thủ tục kiểm soát tác động đến
sự hoạt động cũng như tính hữu hiệu của các chính sách đó trong đơn vị. Các
nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
Đặc thù về quản lý: Hiệu quả của HTKSNB luôn phụ thuộc vào các quan
điểm và cách thức điều hành và năng lực của người quản lý
lập trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá các hoạt động phục vụ
yêu cầu quản trị nội bộ đơn vị.
1.2. Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập với KSNB
Nội dung chủ yếu của quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập:
Quản lý các nguồn thu ngân sách: Quản lý các nguồn thu đòi hỏi các
đơn vị phải thu đúng, thu đủ theo quy định, không lạm thu, bỏ sót các nguồn thu.
Quản lý các khoản chi: Công tác quản lý chi tại các đơn vị sự nghiệp
yêu cầu phải nắm rõ quy định của nhà nước, phát hiện kịp thời những khoản
chi vượt định mức, không đúng nội dung, nâng cao hiệu quả các khoản chi.
Quản lý tài sản: Quản lý tài sản để phòng tránh những mất mát, sử dụng
sai mục đích… Quản lý tài sản cũng đòi hỏi phải có sự phối hợp, phân công
nhiệm vụ giữa các bộ phận để luôn có sự so sánh đối chiếu…
Quản lý và sử dụng các quỹ: Việc quản lý các quỹ này phải đảm bảo sao
cho các quỹ được trích lập đúng theo chế độ quy định, sử dụng đúng mục đích
v
và có hiệu quả.
Đặc điểm hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý tài chính tại đơn vị sự
nghiệp công lập
Môi trường kiểm soát: Đã được Lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp quan tâm
xây dựng và hoàn thiện từ việc xây dựng cơ cấu tổ chức đến các chính sách
nhân sự như tuyển dụng, khen thưởng, đề bạt, xây dựng các văn bản về quản
lý tài chính…
Hệ thống kế toán: Áp dụng hệ thống kế toán ban hành theo quyết định
số 19/2006//QĐ–BTC ngày 30/03/2006, Thông tư số 185/2010/TT-BTC ngày
15/11/2010 của Bộ Tài chính sửa đổi bổ sung quyết định số 19/2006/QĐ-BTC
ngày 30/3/2006.
Thủ tục kiểm soát: Thủ tục kiểm soát tại các đơn vị đã được chú trọng
vụ cho công tác quản lý chung. HTKSNB đã bước đầu phát huy vai trò của nó
trong công tác quản lý nói chung cũng như trong quản lý tài chính nói riêng
Chức năng, nhiệm vụ với kiểm soát nội bộ: Cục được giao quản lý ngành có
tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh, nguồn thu lớn, được trang bị hệ thống
thiết bị, máy móc chuyên dụng với số lượng lớn, tần suất sử dụng nhiều để đáp
ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của quản lý, được chủ động tạo lập các nguồn thu,
chi nên cần một HTKSNB đủ mạnh để kiểm tra, kiểm soát.
2.2. Hệ thống kiểm soát nội bộ với công tác quản lý tài chính tại Cục
Tần số vô tuyến điện hiện nay
Về môi trường kiểm soát
Đặc thù về quản lý: Cục có đội ngũ lãnh đạo có năng lực quản lý, có
kiến thức chuyên sâu cũng như tư cách đạo đức, công tác quản lý tài chính,
kiểm tra kiểm soát được Lãnh đạo được chú trọng nên ngày càng phát huy
tính hữu hiệu, tuân thủ chính sách pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động
Cơ cấu tổ chức: Cục đã xây dựng một cơ cấu tổ chức tương đối phù hợp,
phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng đơn vị, từng bộ phận giúp cho
công tác quản lý và thực hiện nhiệm vụ được dễ dàng, công tác chỉ đạo được
thống nhất, từ đó tăng cường hoạt động kiểm soát.
Bộ máy kế toán của Cục hiện nay được tổ chức theo mô hình nửa tập
trung nửa phân tán, các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc theo hình thức
báo sổ. Phòng Tài chính-Kế toán là nơi thực hiện hạch toán các nghiệp vụ
kinh tế - tài chính phát sinh tại Văn phòng Cục cũng như nhận báo cáo tài
vii
chính của các đơn vị trực thuộc để tổng hợp báo cáo chung.
Chính sách nhân sự: Lãnh đạo Cục đã có những quan tâm đặc biệt đối
với chính sách nhân sự, nhất là vấn đề tuyển dụng và đào tạo cán bộ. Cục đã
tuyển dụng được đội ngũ cán bộ có chất lượng cao và bố trí tại những vị trí
hiện hành của nhà nước. Cục đã tuân thủ đầy đủ các chế độ về chứng từ kế
toán, hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống báo cáo tài
chính. Tuy nhiên công tác kế toán hiện nay ở Cục vẫn thực hiện thủ công.
Về các thủ tục kiểm soát
Nguyên tắc phân công phân nhiệm: Cục đã có văn bản phân công nhiệm
vụ trong ban lãnh đạo.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: Cục đã tuân thủ các nguyên tắc như: Thủ
quỹ không kiêm kế toán, cách ly trách nhiệm giữa người phê chuẩn nghiệp vụ
với người thực hiện nghiệp vụ. Tuy nhiên hiện nay, tại các Trung tâm trực
thuộc do số lượng cán bộ làm công tác tài chính còn mỏng nên việc phân
công chức năng nhiệm vụ lại có sự vi phạm nguyên tắc này.
Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn: Cục trưởng có sự phân công uỷ
quyền cho các Phó Cục trưởng thay mặt mình giải quyết các công việc được phân
công phụ trách.
Kiểm soát trên các hoạt động tài chính chủ yếu
Kiểm soát công tác lập dự toán ngân sách: Dự toán ngân sách toàn Cục
được xây dựng trên cơ sở tổng hợp dự toán của khối Văn phòng Cục và dự
toán của các đơn vị cấp dưới xây dựng và gửi về phòng Kế hoạch- Đầu tư.
Kiểm soát trong quá trình thực hiện dự toán ngân sách:
Kiểm soát các nguồn thu ngân sách thông qua các thủ tục như giấy báo
lệ phí, định mức thu...
Kiểm soát chi thường xuyên: Cục đã xây dựng một số văn bản về quản
lý tài chính nhằm chuẩn hoá cũng như việc tạo cơ sở cho công tác kiểm soát.
Tuy nhiên các quy trình kiểm soát tài chính còn thiếu và chưa hoàn chỉnh.
Kiểm soát chi thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ: Việc tổ chức
ix
công tác dịch vụ ngày càng được đẩy mạnh, tuy nhiên quy chế chi tiêu cho
x
phạm nguyên tắc phân công phân nhiệm, đơn vị trực thuộc thực hiện cả chức
năng thu phí lệ phí lẫn dịch vụ sẽ dẫn đến việc khó xây dựng cơ chế tài chính
đặc thù cho từng đơn vị - công cụ quan trọng để kiểm soát về tài chính. Việc
bố trí cán bộ làm công tác tài chính còn chưa hợp lý. Cục chưa xây dựng được
quy chế tuyển dụng và quản lý nhân sự, chế độ phân phối thu nhập chưa hợp
lý. Công tác kế hoạch - dự toán ngân sách năm chưa được coi trọng đúng
mức, mang nặng tính hình thức và thiếu căn cứ khoa học, kế hoạch thường xa
rời với thực tế thực hiện.
Về hệ thống thông tin kế toán: Chưa chú trọng đến hệ thống báo cáo kế
toán quản trị, chưa có sự phân tích các thông tin tài chính một các hệ thống,
do vậy thông tin kế toán cung cấp chưa thực sự hữu hiệu đối với công tác
quản lý,chưa phục vụ cho các nhà lãnh đạo trong việc ra các quyết định quản
lý. Việc lưu trữ chứng từ không đúng với chế độ, công tác kế toán còn thủ
công, làm trên excel, chưa áp dụng phần mềm kế toán.
Về các thủ tục kiểm soát tài chính: Việc thực hiện quy trình luân chuyển
kế toán vẫn chưa hợp lý, có nhiều khoản chi mà kế toán chưa có khả năng
kiểm soát được như các khoản chi cho thực hiện các hợp đồng dịch vụ. Nhiều
nội dung chi chưa có định mức gây lãng phí. Cục cũng chưa xây dựng quy
chế quản lý và sử dụng tài sản.
xi
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG
tư nhiều thời gian trong nghiên cứu, xây dựng kế hoạch.
Hoàn thiện hệ thống kế toán: Tổ chức công tác kế toán quản trị và phân
tích tài chính song song với công tác kế toán tài chính. Tổ chức xây dựng
phần mềm kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động của Cục. Thường xuyên
rà soát công việc, phối hợp kiểm tra chéo nhau giữa các khâu để phát hiện kịp
thời những sai sót trong công tác kế toán.
Hoàn thiện các thủ tục kiểm soát.
Cần ban hành các quy trình nghiệp vụ liên quan đến hoạt động tài chính
giữa các bộ phận trung tâm. Phân công nhiệm vụ, trách nhiệm của các phòng
ban, cá nhân trong đơn vị dựa trên nguyên tắc kiểm soát kép, đảm bảo mọi
công việc đều có người thực hiện và người kiểm tra lại. Mỗi cá nhân, mỗi
phòng ban đều phải tự kiểm soát và tự chịu trách nhiệm về công việc được
giao, đảm bảo hiệu quả công việc, tuân thủ pháp luật, quy chế và quy trình
nghiệp vụ.
Tăng cường thêm nhân sự hoặc sắp xếp lại nhiệm vụ tại bộ phận tài
chính, kế toán tại các Trung tâm trực thuộc trên cơ sở tuyệt đối tuân thủ các
nguyên tắc như: Thủ quỹ không kiêm kế toán, cách ly trách nhiệm giữa người
phê chuẩn nghiệp vụ với người thực hiện nghiệp vụ.
Tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc uỷ quyền tạo nên một hệ thống phân
chia trách nhiệm và quyền hạn mà không làm mất đi tính tập trung trong quản
lý của. Việc ủy quyền phải giúp hoạt động của Cục tại các khâu, lĩnh vực, bộ
phận được chủ động và linh hoạt hơn, giảm các thủ tục thời gian làm chậm ảnh
hưởng đến các doanh nghiệp có liên quan.
Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát chủ yếu về tài chính
Rà soát lại danh mục phí lệ phí, xây dựng lại các định mức thu nhằm
đảm bảo thu đúng, thu đủ.
xiii
các đơn vị trực thuộc từ đó tư vấn cho Bộ trưởng và Thủ trưởng các đơn vị
thuộc Bộ các giải pháp quản lý, sử dụng tiết kiệm ngân sách. Bộ cần sớm xây
dựng và hoàn thiện HTKSNB từ Bộ đến các đơn vị trực thuộc mình, trong đó
chú trọng đến việc tăng cường năng lực cho bộ phận Thanh tra Bộ, nhất là công
tác Thanh tra tài chính.
Về phía BTC và các cơ quan liên quan hàng năm cần rà soát các văn bản
tài chính, kế toán, trong quy định về cơ cấu tổ chức hiện tại của các Bộ. Tăng
cường vai trò của KBNN thông qua kiểm soát thu –chi.
Về phía KTNN thông qua công tác kiểm toán định kỳ về vốn và tài sản
của các đơn vị như Cục hiện nay không chỉ phát hiện sai sót gian lận, sự
lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước mà còn phát hiện các lỗ hổng về công
tác quản lý tài chính của mỗi ngành theo đặc thù riêng từ đó kiến nghị cơ
quan thẩm quyền xây dựng văn bản quản lý hay sửa đổi bổ sung các văn bản
chế độ sao cho phù hợp với từng đơn vị, từng ngành có sử dụng ngân sách
hoặc sử dụng các nguồn có tính chất ngân sách. KTNN nước cần kiến nghị
và tư vấn cách tổ chức công tác tài chính cho đơn vị hay khiếm khuyết của
các HTKSNB khi tiến hành kiểm toán chứ không dừng lại ở mức độ kiến
nghị chung chung và chủ yếu nhằm mục đích thu hồi lại cho ngân sách.
1
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của Đề tài
Cải cách hành chính là yêu cầu bức thiết hiện nay được Đảng và Chính
phủ rất quan tâm. Một trong những nội dung cải cách nhằm giảm chi ngân
sách cho khối sự nghiệp để từng bước cải cách tiền lương cho cán bộ công
chức khối hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức
sự nghiệp, tách bạch rõ ràng giữa các cơ quan quản lý nhà nước với đơn vị
BTC. Như vậy trong điều kiện vừa thực hiện các chức năng quản lý nhà
nước, vừa hoạt động như một doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ về đo kiểm ,
Cục Tần số vô tuyến điện cần phải xây dựng một HTKSNB đủ mạnh để có
thể hướng các hoạt động của đơn vị theo đúng quy định của pháp luật, ngăn
ngừa các sai phạm, chống thất thoát các nguồn vốn, tài sản, từ đó nâng cao
hiệu quả các hoạt động của đơn vị, không chỉ thực hiện tốt các nhiệm vụ
chính trị được giao mà còn tăng cường các nguồn thu, tiết kiệm chi, đảm bảo
thực hiện đúng các định mức chi, tích luỹ các nguồn vốn cho phát triển hoạt
động sự nghiệp.
Đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường
quản lý tài chính tại Cục Tần số vô tuyến điện” sẽ góp phần đưa ra các giải
pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Cục Tần số vô tuyến điện trong
bối cảnh Nhà nước đang chủ trương xã hội hoá các dịch vụ công.
II. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về HTKSNB tại Cục Tần số vô tuyến điện trong quản lý tài
chính, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện HTKSNB nhằm tăng cường
công tác quản lý tài chính tại Cục Tần số vô tuyến điện.
3
III. Nội dung nghiên cứu
Là HTKSNB trong mối quan hệ với quản lý tài chính tại Cục Tần số vô
tuyến điện.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, Luận văn: đặt các sự
vật, hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến, phương pháp hệ thống để nghiên
cứu những lý luận về quản lý, kiểm soát.
Từ đó Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Quan sát cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, cách thức tổ chức HTKSNB,
nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại Cục Tần số vô tuyến điện.
5
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG CÁC TỔ CHỨC SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIẾM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1. Kiểm soát trong hoạt động quản lý
Kiểm soát là việc theo dõi và điều tiết các hoạt động để đảm bảo rằng
các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch. Kiểm soát bao gồm 3 bước
khác nhau: đo lường thành quả hoạt động, so sánh thành quả thực tế với một
chuẩn mực nào đó và có hành động để chỉnh sửa các sai lệch hoặc các chuẩn
mực không phù hợp. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu bảo đảm rằng mọi hoạt
động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu của
tổ chức.
Kiểm soát là một chức năng của quản lý, gắn liền với quản lý, ở đâu có
quản lý thì ở đó có kiểm soát Kiểm soát cũng có ý nghĩa quan trọng trong
quyết định về chất lượng sản phẩm và dịch vụ qua việc cung cấp thông tin
phản hồi cho nhà quản lý về chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, giúp đáp
ứng khách hàng tốt hơn thông qua đánh giá hiệu quả của nhân viên có nhiệm
vụ liên hệ với khách hàng cũng như tăng mức độ cải tiến của đơn vị, tổ chức.
Phân loại kiểm soát theo mức độ ảnh hưởng có kiểm soát trực tiếp và
kiểm soát tổng quát. Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với
nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau. Kiểm soát trực tiếp bao gồm ba
loại hình cơ bản là kiểm soát hành vi, kiểm soát xử lý và kiểm soát bảo vệ.
Kiểm soát hành vi là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ do những nhân viên
độc lập và người thực hiện hoạt động tiến hành, được sử dụng để ngăn ngừa và
phát hiện sai phạm; kiểm soát xử lý là việc nắm bắt giải quyết các giao dịch
sát trực tiếp, quản lý theo mục tiêu và đặt ra các thủ tục hoạt động chuẩn tắc.
Hệ thống kiểm soát tại một tổ chức bao gồm nhiều yếu tố cấu thành. Đầu
tiên phải kể đến là đối tượng kiểm soát, đối tượng kiểm soát là các đối tượng
trong đơn vị cần được giám sát, có thể là những là tài sản, hoạt động hay
thông tin…, trong đó tài sản cần được kiểm soát để đảm bảo không bị mất,
không bị lạm dụng hay sử dụng sai mục đích; hoạt động cần được kiểm soát