i
Lời Mở Đầu
1. Tính cấp thiết
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các qui định và các thủ tục kiểm soát được xây
dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để
kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài
chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của
đơn vị.”
Bệnh viện Bưu điện Hà nội là một đơn vị sự nghiệp cung ứng dịch vụ thuộc
công ty mẹ là Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt nam. Xét về nhiệm vụ và chức
năng, Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội là bệnh viện đa khoa, hoạt động về khám chữa
bệnh. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả sẽ mang lại lợi
ích cho Bệnh viện về mọi mặt, đặc biệt với quản lý tài chính, cũng như là góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân đạt mục tiêu về mặt xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu
Cơ chế quản lý Tài chính của Bệnh viện theo cơ chế quản lý của Nhà nước
đối với đơn vị sự nghiệp, cụ thể hơn là cơ chế quản lý đối với đơn vị sự nghiệp là cơ
sở khám, chữa bệnh và đồng thời phải tuân thủ cơ chế quản lý tài chính của Tập
đoàn. Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của Bệnh viện là một nội dung quan
trọng trong việc tăng cường quản lý tài chính của Bệnh viện.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: được giới hạn trong việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội
bộ với quản lý Tài chính ở Bệnh viện Bưu điện.
Phạm vi nghiên cứu: giới hạn việc tìm hiểu thực tế hệ thống kiểm soát nội bộ với
quản lý tài chính ở Bệnh viện.
ii
4. Phương pháp nghiên cứu
viên của công ty gây ra; Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể
gây tổn hại cho công ty; Giảm bớt rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình
kinh doanh của công ty; Ngăn chặn việc tiếp xúc những rủi ro không cần thiết do
quản lý rủi ro chưa đầy đủ.
1.1.2 Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
gồm 3 yếu tố cơ bản: Môi trường kiểm soát; Hệ thống thông tin và truyền thông
(chủ yếu là hệ thống kế toán); Các thủ tục kiểm soát;
Hạn chế của kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ không thể ngăn ngừa hay phát hiện mọi rủi ro, sai phạm do
cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Những nhân tố bên ngoài ảnh hướng tới tổ
chức là bên ngoài phạm vi của kiểm soát nội bộ; Kiểm soát nội bộ bao gồm hoạt
động của con ngươi, mà hoạt động của con người sẽ có thể có sai sót trong khi xem
xét hay đánh giá.
1.2 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.2.1 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp có thu với kiếm soát nội bộ
Đơn vị sự nghiệp có thu trong doanh nghiệp là những đơn vị do Doanh
nghiệp Nhà nước thành lập, do doanh nghiệp đó trực tiếp điều hành và giám sát.
Đơn vị sự nghiệp hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Trong quá trình hoạt động
đơn vị sự nghiệp có những nguồn thu, khoản chi và đơn vị phải thực hiện việc lập
kế hoạch tài chính, chuyên môn, bảo vệ tài sản nguồn vốn được Nhà nước giao. Với
đặc điểm trên, đơn vị sự nghiệp cần có công tác kiểm soát nội bộ để xoát xét, kiểm
tra các hoạt động sự nghiệp của mình.
Các yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ đơn vị sự nghiệp có thu:
Môi trường kiểm soát đơn vị sự nghiệp có thu: gồm có đặc thù về quản lý,
cơ cấu tổ chức; chính sách nhân sự, quan điểm của ban lãnh đạo về kiểm soát nội
bộ, công tác kế hoạch, chính sách nhân sự, môi trường bên ngoài, về tổ chức kiểm
soát, kiểm toán nội bộ...
ngân sách nhà nước các đơn vị sự nghiệp thực hiện theo quy định của Luật ngân
v
sách nhà nước, Luật kế toán, các văn bản hướng dẫn Luật và quy định tại Thông tư
771.
Kiểm soát nội bộ với quản lý tài sản và nguồn vốn: là hoạt động kiểm tra soát xét
lại những qui định, quá trình chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản, nguồn
của đơn vị sự nghiệp nhằm quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản, nguồn vốn;
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN HÀ NỘI
1.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN HÀ NỘI VỚI KIỂM
SOÁT NỘI BỘ
Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội là đơn vị sự nghiệp, thành viên của Tập đoàn
Bưu chính Viễn Thông Việt Nam. Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội là bệnh viện đa
khoa, hoạt động về khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu, hoạt động y tế dự
phòng cho cán bộ công nhân viên Bưu điện và tham gia y tế cộng đồng. Bệnh viện
Bưu Điện Hà Nội có trụ sở chính tại Hà nội, có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm
trực tiếp trước pháp luật và trước Tập đoàn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn và
nghĩa vụ được qui định trong Quy chế tổ chức và hoạt động, bộ máy quản lý, có con
dấu theo tên gọi, được mở tài khoản tại ngân hàng và Kho bạc Nhà nước, được tự
chủ hoạt động theo phân cấp của Tập đoàn, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền
lợi với Tập đoàn.
Tổ chức bộ máy của Bệnh viện Bưu Điện Hà nội
Bệnh viện do Giám đốc phụ trách, có Phó giám đốc giúp việc. Giám đốc
Bệnh viện do Hội đồng Quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật theo
đề nghị của Tổng giám đốc. Tổ chức bộ máy của Bệnh viện gồm có các phòng,
vii
mọi khâu của bệnh viện. Toàn thể cán bộ công nhân viên bệnh viện cùng nhau xây
dựng thiết kế và thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả.
1.2 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH
VIỆN BƯU ĐIỆN HIỆN NAY
1.2.1 Môi trường kiểm soát với quản lý tài chính
Về đặc thù quản lý: Bệnh viện là một đơn vị sự nghiệp nên phải tuân thủ cơ
chế quản lý của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp mà hiện nay là theo Luật Ngân
sách và theo Nghị định của Chính phủ số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm
2006 qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ
máy, biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập. Mặt khác Bệnh viện Bưu
Điện Hà Nội là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông
Việt Nam nên chịu cơ chế quản lý của Doanh nghiệp Nhà nước. Ngoài ra Bệnh viện
còn chịu sự quản lý về mặt chuyên môn của đơn vị quản lý nhà nước theo ngành
dọc cấp cao nhất là Bộ Y tế, tuân thủ chính sách chung của Nhà Nước đối với các
cơ sở khám chữa bệnh trong xây dựng định mức viện phí.
Về chính sách nhân sự: Bệnh viện đã xây dựng thành văn bản Quy chế nội
bộ bao gồm các chính sách về nhân sự như Nội qui lao động, Quy chế thường trực
cấp cứu, Quy chế khen thưởng kỷ luật, Quy chế bình bầu A-B-C, Quy chế tuyển
dụng lao động, Quy chế đào tạo, Quy chế ngoại viện, Quy chế dân chủ, Quy chế
phân phối thu nhập.Bao trùm chính sách nhân sự của Bệnh viện là sự dân chủ, công
khai, công bằng và minh bạch dựa trên cơ sở tuân thủ các qui định của pháp luật,
Nhà nước, của Bộ Y tế, của Tập đoàn.
Về công tác kế hoạch: Công tác kế hoạch của Bệnh viện rất được coi trọng
và bao trùm mọi hoạt động của Bệnh viện mà quan trọng nhất là kế hoạch chuyên
môn, kế hoạch tài chính của bệnh viện
Thứ ba, Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn: theo sự ủy quyền của nhà quản
lý, các cấp dưới được quyệt định một số công việc trong phạm vi nhất định. Sự phê
chuẩn chung được thực hiện thông qua các chính sách chung.
1.2.4 Đặc điểm kiểm soát một số nghiệp vụ chủ yếu tại Bệnh viện Bưu Điện Hà
Nội
1.2.4.1 Khái quát chung về công tác kiểm soát tại Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội
Công tác kiểm soát bao trùm mọi hoạt động của bệnh viện, các phần hành
kiểm soát được lưu ý bao gồm những phần hành kiểm soát chủ yếu, ảnh hưởng lớn
đến tài sản và nguồn vốn. Hiện nay Bệnh viện đã xây dựng qui trình kiểm soát đánh
giá chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 (HTCL ISO 9001), mọi hoạt động
của Bệnh viện được thực hiện và soát xét, giám sát kiểm tra theo qui trình được xây
dựng theo tiêu chuẩn ISO.
1.2.4.2 Kiểm soát quản lý nguồn thu
Nguồn thu của Bệnh viện gồm có: Nguồn thu do Tập đoàn cấp (Kinh phí
trong định mức Tập đoàn duyệt cho giường bệnh; Kinh phí khác phục vụ cho Bệnh
viện); Nguồn thu Bảo hiểm Y tế; Nguồn thu dịch vụ Y tế; Nguồn thu khác.
Kiểm soát quản lý nguồn thu tại Bệnh viện bao gồm: kiểm soát việc tính
toán, xác định nguồn thu phù hợp với qui định, định mức của Tập đoàn và kiểm soát,
theo dõi chi tiết theo từng nguồn chi phí. Kiểm soát các hoạt động dịch vụ đã thực
hiện đầy đủ việc theo dõi, hạch toán hoạt động chi tiết theo từng hợp đồng, từng loại
dịch vụ như thăm khám sức khỏe, đo môi trường lao động... và hiệu quả của hoạt
động dịch vụ. Kiểm soát quản lý các nguồn thu khác như thanh lý, nhượng bán tài sản
cố định, giá bán, giá trị thanh lý có tính toán đúng và hợp lý căn cứ vào mức giá trên
thị trường hay không. Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành dự toán ngân sách. Để
lập dự toán ngân sách chính sác, công tác lập kế hoạch phải được thực hiện nghiêm
túc và trong đó kế hoạch chuyên môn là chỉ tiêu để tính toán, xây dựng nên kế hoạch
tài chính cho Bệnh viện.
1.3 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN HÀ NỘI
Nhìn chung hệ thống kiểm soát nội bộ ở Bệnh viện đã đạt được những yêu
cầu cơ bản trong tăng cường quản lý tài chính tại đơn vị. Đó là:
Một là, Chấp hành chính sách, chế độ tài chính kế toán tại Bệnh viện thể
hiện được đẩy đủ, chi tiết tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, đạt yêu cầu
kiểm soát, xoát xét, đạt yêu cầu quản lý tài chính về cơ bản.
Hai là, Kiểm soát quản lý nguồn thu: Các nguồn thu được quản lý, theo
dõi, kiểm soát đầy đủ theo đúng chế độ kế toán và cơ chế quản lý tài chính hiện
hành.
Ba là, Kiểm soát quản lý chi: kiểm soát quản lý chi của Bệnh viện đã bao
quát, đầy đủ về mặt chứng từ, sổ sách, chi theo đúng qui định chế độ tự chủ tài
chính và nhằm đảm bảo tính hiệu quả hiệu năng của hoạt động.
Bốn là, Kiểm soát quản lý tài sản và nguồn vốn: kiểm soát việc quản lý
sử dụng hàng ngày tài sản và nguồn vốn của đơn vị của Bệnh viện hiện nay đã
có Quy chế qui định rõ ràng từng trường hợp cụ thể và được kiểm soát hàng
ngày việc thực hiện
Năm là, Kiểm soát việc lập và thực hiện kế hoạch tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp: Bệnh viện thường xuyên kiểm tra xoát xét việc lập dự toán, thực hiện
dự toán, báo cáo quyết toán theo đúng chế độ của Nhà nước với cơ quan cấp trên
trực tiếp là Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam.
Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ với quản lý tài chính tại Bệnh viện:
Thứ nhất, Về môi trường kiểm soát với quản lý tài chính:
Về đặc thù quản lý và cơ cấu tổ chức: Nhận thức của cán bộ lãnh đạo Bệnh
viện về hệ thống kiểm soát nội bộ và công tác quản lý tài chính còn hạn chế.
xii
Về chính sách nhân sự: Tâm lý ỉ lại, việc mình mình làm, không cần biết
khâu marketing, quảng bá, chưa điều tra thị trường một cách khoa học, công tác
thông kê, phân tích thị trường.
Hai là, Hiện nay nguồn thu bảo hiểm y tế chỉ chiếm 4% tổng nguồn thu của
Bệnh viện Bưu Điện vì vậy nguồn thu này chưa được chú trọng, và khâu kiểm tra,
kiểm soát còn chưa chặt chẽ, nương nhẹ.
Kiểm soát về quản lý khoản chi tại Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội
Một là, Bệnh viện đã xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ nhưng một số Quy
chế còn mang tính hình thức, các định mức không phù hợp với thực tế, mang tính
chủ quan.
Hai là, Một số khoản chi như mua vật tư tiêu hao nhỏ, mua nhỏ lẻ qui trình
mua sắm không được tuân thủ, hồ sơ thanh toán lỏng lẻo, có hiện tượng chia nhỏ số
lượng, giá trị để lách qui định về mua sắm, đấu thầu...
Về kiểm soát quản lý tài sản và nguồn vốn
Về quản lý tài sản và nguồn vốn: việc kiểm soát quản lý tài sản của Bệnh
viện hiện nay mới chỉ chú trọng tới khâu mua sắm, nghiệm thu, thanh toán còn khâu
quản lý sử dụng còn lỏng lẻo. Bệnh viện vẫn chưa xây dựng thủ tục cho việc quản
lý sử dụng hàng ngày tài sản, trang thiết bị của bệnh viện.
Việc phân bổ khấu hao tài sản cố định không sát với thực tế, mang tính chủ
quan, bình quân chủ nghĩa, chưa áp dụng đúng phương tính khấu hao phù hợp.
Đối với các khoản công nợ, việc đối chiếu xác nhận công nợ chưa được thực
hiện một cách nghiêm túc.
Những hạn chế và tồn tại trên có một phần nguyên nhân từ khách quan: hệ
thống các văn bản về chế độ tài chính, kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ của Nhà
nước cho đơn vị sự nghiệp có thu trong doanh nghiệp nhà nước chưa đầy đủ, rõ
ràng; còn về nguyên nhân chủ quan công tác kiểm soát nội bộ của Bệnh viện chưa
được đầu tư đúng mức, đặc biệt trong nghiên cứu xây dựng các chính sách và thủ
tục kiểm soát.
xiv
sách nhà nước tới tự chủ về tài chính 100%, và dần dần cổ phần hóa, đa dạng hóa sở
hữu được Nhà nước khuyến khích. Nhằm đạt được mục tiêu này kiểm soát nội bộ
để tăng cường quản lý tài chính nhằm tăng nguồn thu ngoài kinh phí được Nhà
nước cấp, chi hiệu quả đạt được các mục tiêu lợi nhuận, có tích lũy để phát triển.
2.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN HÀ NỘI
2.2.1 Hoàn thiện môi trường kiểm soát với tăng cường quản lý tài chính
Giám đốc bệnh viện và các phó giám đốc chuyên môn, chuyên trách của
bệnh viện cần sắp xếp, tổ chức công việc để có thể hoàn thành tốt công tác quản lý.
Và tham dự các khoá học nâng cao về quản lý và tìm hiểu, nắm bắt kịp thời các qui
định về tài chính nói chung.
Phải giáo dục, phổ biến cho mọi cán bộ nhân viên hiểu công tác kiểm tra,
kiểm soát là việc của tất cả mọi người, mỗi cán bộ công nhân viên cần đề cao tinh
thần chủ động, trách nhiệm với công tác giám sát mọi hoạt động của bệnh viện.
Ngoài ra các qui định, thủ tục, qui trình có liên quan tới nhân tố bên ngoài
như bệnh nhân, nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho bệnh viện, Bệnh viện cũng cần
công khai, phổ biến cho họ để họ nắm được, hỗ trợ Bệnh viện thực hiện đúng các
qui định, thủ tục, qui trình này và phát hiện, phản ánh các hành vi sai sót của nhân
viên y tế.
Rà soát, cập nhật thường xuyên Quy chế chi tiêu nội bộ, xây dựng các định
mức, tiêu chuẩn chi tiêu mới, hướng dẫn chi tiết theo các qui định pháp luật và của
Tập đoàn hiện hành, linh hoạt, nhanh chóng nhưng đảm bảo đúng qui định trong
công tác phê duyệt, thanh toán.
Tổ chức bộ máy kiểm soát: Bệnh viện nên kiến nghị với Tập đoàn cho bổ
sung định biên bộ máy lãnh đạo Bệnh viện thêm một Phó giám đốc Tài chính hay
Quản trị, để chức danh này giúp việc cho Giám đốc các công tác tài chính, quản trị
và đồng thời đứng đầu ủy ban kiểm soát.
xvii
đến khi xảy ra vi phạm Bệnh viện thường lúng túng vì chưa có chế tài xử lý cụ thể
đối với các trường hợp vi phạm.
Kiểm soát quá trình sử dụng, cấp phát hàng hóa, vật tư sau mua sắm: Bệnh
viện chưa thật sự chú trọng kiểm soát quá trình sử dụng sau khi xuất dùng, cấp phát
sử dụng. Công tác kiểm soát quá trình sử dụng thường chỉ kiểm tra chứng từ, sổ
sách và chưa gắn với kiểm kê, kiểm tra hiện vật.
Tuy công tác lập kế hoạch, kiểm soát khá chặt chẽ nhưng đến khi thực hiện
kế hoạch triển khai mua sắm thì một số thiết bị đã trở nên lạc hậu hoặc không phù
hợp với Bệnh viện, không triển khai được, sử dụng không hiệu quả do tiến độ lập kế
hoạch chậm, khi lập kế hoạch xác định mục tiêu không rõ ràng về tiêu chí, đầu tư
dàn trải.
Về kiểm soát quản lý tài sản, Việc quản lý tài sản cần phải diễn ra theo một
vòng khép kín của tài sản, từ khâu đầu tư xây dựng, mua sắm, xác lập sở hữu, trang
cấp, đăng ký sử dụng, sử dụng đến khâu thanh lý xử lý tài sản thì mới đạt được yêu
cầu quản lý.
Với những thiết bị xét nghiệm, có sự thay đổi công nghệ nhanh, Bệnh viện
nên đề xuất với Tập đoàn cho trích khấu hao nhanh hoặc áp dụng phương pháp
khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh.
Đối với các khoản công nợ phải thu và các khoản phải trả thì yêu cầu đối
chiếu, xác nhận công nợ theo định kỳ.
2.3 KIẾN NGHỊ VỀ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Kiến nghị với Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam: Tập đoàn cần xây
dựng và hoàn thiện các qui định về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ
thống nhất trong tập đoàn.
Trong thời gian trước mắt Tập đoàn cần rà soát lại hệ thống định mức, đơn
giá để điều chỉnh cho phù hợp với mặt bằng giá cả hiện tại.
đường lối thực hiện.
xix
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do hạn chế về khả năng và thời gian nên
chuyên đề còn một số khiếm khuyết. Tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến của
các thầy cô giáo và bạn bè để Luận văn hoàn thiện hơn.