Tiểu luận xử lý HIỆU TRƯỞNG và kế TOÁN VI PHẠM TRONG VIỆC THU, CHI NGÂN SÁCH tại TRƯỜNG THCS - Pdf 50

Trường Chính trị Trần Phú Hà Tĩnh

Lớp BDKT QLNN Chương trình chuyên viên K29

Tiểu luận:
XỬ LÝ HIỆU TRƯỞNG VÀ KẾ TOÁN VI PHẠM TRONG
VIỆC THU, CHI NGÂN SÁCH TẠI TRƯỜNG THCS
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong sạch, có năng
lực, phẩm chất đạo đức tốt là một vấn đề rất cơ bản, quan trọng đ ược
Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm; vấn đề này cũng là m ột trong
những nội dung được đề cập trong nhiều văn kiện của Đ ảng trong đó có
văn kiện Đại hội IX. Sở dĩ vấn đề này được đ ề cập nhiều vì nó không ch ỉ
xuất phát từ vai trò, vị trí hết sức quan trọng của đội ngũ cán bộ, công ch ức,
viên chức trong công tác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vi ệt Nam XHCN, đáp
ứng yêu cầu của quá trình xây dựng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của
nền hành chính Nhà
nước, mà nó còn xuất phát
từ

những hạn chế, yếu kém về chất lượng của

một bộ phận trong đội ngũ này ở không ít địa phương, ngành, c ơ quan, đ ơn
v ị.
Xác định được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công ch ức trong
việc
tổ chức, triển khai thực hiện lộ trình cải cách hành chính của Nhà n ước ta,
Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh cán bộ, công ch ức ngày 26/02/1998.
Pháp lệnh này đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung hai l ần thông qua vào
các ngày
28/4/2000 và ngày 01/7/2003;
tại kỳ

Trường Chính trị Trần Phú Hà Tĩnh

Lớp BDKT QLNN Chương trình chuyên viên K29

phục vụ tốt các nhu cầu của xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích h ợp pháp c ủa
công dân; đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền v ững của đ ất n ước. Có
thể nói, đây là một bước tiến mới trong nhận thức và tư duy về một nền
công vụ khoa học, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính Nhà
nước trong giai đoạn hiện nay.
Bên cạnh những mặt mạnh là cơ bản và chủ yếu thì một bộ ph ận
đội ngũ cán bộ, công chức các cấp của Đảng và Nhà n ước v ẫn còn nh ững
hạn

Người thực hiện: Lê Trọng Châu Phó Trưởng phòng GD&ĐT Lộc Hà

2


chế và thiếu sót nhất định. Về chính trị, tư tưởng, còn có cán bộ, công ch ức,
viên chức còn dao động, suy giảm niềm tin đối với Đảng, với chế đ ộ XHCN,
với công cuộc đổi mới của nhân dân ta hiện nay. Về phẩm chất đ ạo đ ức và
lối sống, còn có cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất, l ợi d ụng ch ức quy ền
để tham nhũng, buôn lậu, làm giàu phi pháp, quan liêu, c ửa quy ền, sách
nhiễu quần chúng, gây ảnh hưởng tới phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ,
đảng viên, từ đó làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối v ới s ự lãnh đ ạo
của Đảng và Nhà nước ta.
Một trong những nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, thiếu sót
nói trên như Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) đã ch ỉ ra, ch ủ yếu là do:
"Một mặt, khi đi vào cơ chế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, tr ước s ự
cám dỗ của tiền tài, vật chất, những đòn tiến công hi ểm đ ộc c ủa các th ế


Nhà nước, tôi chọn tình huống "Xử lý một Hiệu trưởng và kế toán vi
phạm trong việc thu, chi tài chính tại trường THCS A, huyện B, tỉnh
HT" làm đề
tài tiểu luận cuối khoá học. Đây là một


hội tốt
để

bản thân vận
dụng

những kiến thức đã học, liên hệ với thực tế, trên cơ s ở đó suy nghĩ, tìm tòi
đưa ra những giải pháp thiết thực phù hợp giúp cho quá trình công tác c ủa
bản thân ngày càng tốt hơn. Với sự hiểu biết của bản thân còn hạn chế,
thời gian nghiên cứu chưa được nhiều, kính mong nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ của
các thầy giáo, cô giáo trong trường để những nội dung trình bày trong ti ểu
luận này được đầy đủ hơn, có giá trị lâu dài trong th ực ti ễn.
Phần thứ nhất:
DIỄN BIẾN CỦA CÂU CHUYỆN TÌNH HUỐNG.
I. Hoàn cảnh ra đời của tình huống:
Vào cuối tháng 12/2009, UBND huyện và Phòng GD&ĐT huy ện B
nhận được đơn thư của cán bộ, giáo viên phản ánh v ề vi ệc thu chi không
minh bạch tại trường THCS A. Trước tình hình đó Phòng GD&ĐT đã tham
mưu cho UBND huyện ra Quyết định số 25/QĐ UBND ngày 05/01/2010 về
việc thành



Đến năm 2002, Hiệu trưởng của trường THCS Q nghỉ h ưu và tr ường THCS
Q là một trường rất khó khăn về CSVC, chất l ượng giáo d ục luôn đ ứng ở t ốp
sau của huyện nên cần một Hiệu trưởng mới năng động, sáng tạo để đ ưa
phong trào của trường đi lên. Ông T là người được Phòng GD&ĐT tham m ưu
cho UBND huyện bổ nhiệm làm Hiệu trưởng tại tr ường THCS Q. Quá trình
làm Hiệu trưởng tại trường THCS Q, ông T đã phần nào kh ắc ph ục đ ược
những khó khăn của trường nhưng do quản lý không thực sự dân chủ nên
nội bộ của trường không đoàn kết. Theo quy định th ời gian làm Hiệu
trưởng sau 5 là phải bỏ phiếu tín để xem xét bổ nhiệm l ại; kết qu ả b ỏ
phiếu tín nhiệm ông T tại trường THCS Q không được cao (ch ỉ đạt 40%)
nên Phòng GD&ĐT đề nghị UBND huyện luân chuyển ông T sang làm Hiệu
trưởng tại trường THCS
A để ông T có điều kiện gần gia đình và chú tâm vào công việc. Còn cô
Nguyễn Thị L là kế toán của trường THCS A từ năm 2004.
Hoàn cảnh gia đình ông T rất khó khăn, vợ không có việc làm, con thì
đang còn nhỏ; bố mẹ già đau yếu và thường xuyên. Vì v ậy, m ọi công vi ệc
gia đình; công việc hiếu hỷ trong làng ông T phải gánh vác.
Từ ngày được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng tại tr ường THCS A ông T lại
càng bận rộn hơn vì CSVC của trường đã xuống cấp nghiêm tr ọng, năng l ực
chuyên môn của đội ngũ giáo viên không đồng đều nên chất l ượng d ạy h ọc


rất thấp. Đội ngũ giáo viên của trường đa số mới ra trường, kinh nghiệm
giảng dạy và quản lý còn hạn chế. Do bận việc gia đình, cộng v ới công vi ệc


tham mưu cho địa phương để tìm nguồn để xây dựng CSVC tr ường học nên
ông T ít khi đến trường; việc quản lý chỉ đạo chuyên môn và một s ố công
việc khác của nhà trường ông phó mặc cho đồng chí Phó Hiệu tr ưởng đi ều
hành

thành viên là chuyên viên của các Phòng GD&ĐT, Tài chính Kế hoạch, Thanh
tra huyện; qua quá trình thanh tra đoàn đã phát hiện ông T và cô L (k ế toán)
đã vi phạm một cách nghiêm trọng trong việc quản lý thu, chi tài chính đó
là:


Một số bộ
không đảm bảo.

hồ sơ chi tài chính
bị

kế toán sửa chữa, xây dựng mới

Kế toán để ngoài sổ sách 12 triệu đồng (số tiền này kế toán giải thích là do
bận nhiều việc cuối năm nên chưa kịp lập hồ sơ nhập quỹ);
Trường nợ tiền khen thưởng giáo viên 6,7 triệu đồng.


Có 8 triệu đồng tiền làm sân trường cho Hội phụ huynh đã đ ưa cho ông T
để thanh toán cho nhà thầu nhưng ông T không thực hiện (khi h ỏi đến lý do
sao không quyết toán số tiền này cho nhà thầu thì ông T bảo do gia
đình
đang gặp khó khăn nên tạm mượn để giải quyết và
chi
cho họ trong
sẽ
trả
thời gian gần nhất).
Vi phạm kỷ luật lao động, thường xuyên bỏ trường đi làm vi ệc riêng;

chính trị xã hội riêng quy định việc xây dựng, quản lý đ ội ngũ cán bộ, công
chức của mình. Điều đáng chú ý là trong việc xây d ựng và ho ạch đ ịnh chính


sách cán bộ, công chức nếu mắc sai lầm, thiếu sót thì dễ d ẫn đ ến nh ững
hậu quả khó lường đối với sự phát triển của xã hội.
Theo cách nói của những nước đã có bề dày lịch sử về xây d ựng ch ế
độ công chức và nền công vụ thì quản lý công ch ức chính là “S ự t ự qu ản lý
của


Chính Phủ”, trong quá trình củng cố, xây dựng hệ th ống hành chính Nhà
nước. Đó là hoạt động mà thông qua các nội dung, biện pháp “dùng ng ười”
thu hút
và lựa chọn được những con người ưu tú, nhiều nhân tài, đào th ải, loại bỏ
những công chức không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, nâng cao trình độ,
phẩm chất của đội ngũ công chức… Trên cơ sở đó bảo đảm cho công tác
điều hành,
ch đạo triển khai các thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước đạt được kết

quả tốt.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đổi m ới
trong công tác quản lý cán bộ, công chức, từng bước xây dựng bộ máy chính
quyền các cấp đáp ứng tương xứng với sự phát triển c ủa đất n ước. Song
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ một số cán bộ, công chức còn thiếu
tinh thần trách nhiệm trong công việc, buông lỏng trong công tác qu ản lý,
chỉ đạo tạo kẻ hở để cấp dưới lợi dụng làm những việc sai trái, vi phạm
pháp luật; khi cơ chế
thị trường mở cửa một số không có bản lĩnh vượt qua sự cám dỗ c ủa đồng
tiền, tha hóa biến chất, tham nhũng,.. Những sai lầm, vi ph ạm đó c ần đ ược

e) Xâm phạm nhân phẩm, thân thể nhà giáo; ngược đãi, hành hạ
người
học; g) Gây rối, làm mất an ninh, trật tự trong nhà trường, sở giáo dục

khác
;
h) Làm thất thoát kinh phí giáo dục; lợi dụng hoạt động giáo dục đ ể thu tiền
sai quy định;
i) Gây thiệt hại về cơ sở vật chất của nhà trường, cơ sở giáo dục khác;
k) Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giáo dục.
2. Chính phủ quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh v ực
giáo dục.
* Điều 79 Luật cán bộ, công chức 2008, quy định các hình th ức k ỷ lu ật
đối với công chức:
1. Công chức vi phạm quy định của Luật này và các quy đ ịnh khác c ủa pháp
luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi ph ạm ph ải ch ịu m ột
trong những hình thức kỷ luật sau đây:
a)
Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Hạ bậc lương;
d) Giáng chức;
đ) Cách chức;
e) Buộc thôi việc.
2. Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công ch ức giữ ch ức vụ lãnh
đạo, quản lý.
3. Công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đ ương
nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp lu ật;
công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quy ết
định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi gi ữ ch ức vụ do b ổ

Nhà nước thống nhất chỉ đạo, quản lý và chịu trách nhiệm trong việc
đào tạo và bòi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo d ục, gi ữ vai trò chủ
đ ạo
trong việc quản lý,
trí, sử dụng đội ngũ nhà giáo trong các trường công
bố
lập; tạo cơ chế chính sách để các trường sử dụng có hiệu quả đội ngũ này.

Phần thứ ba:
PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ.
I. Mục tiêu xử lý tình huống:
Việc vi phạm kỷ luật của ông T và cô L cần phải đ ược x ử lý k ịp th ời và
nghiêm minh theo Điều 79 và Điều 82 Luật cán bộ, công chức 2008, có
hiệu lực kể từ ngày 01/01/2010; Điều 118 Luật Giáo dục 2005, để nâng


cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trong ngành GD&ĐT, tăng c ường
pháp chế Xã hội chủ nghĩa.


Củng cố lại tổ chức của trường THCS A, chấn chỉnh việc th ực hiện kỷ lu ật
lao động, nề nếp chuyên môn của nhà trường.
Chấn chỉnh việc thu chi tài chính sai quy định của tr ường; thu hồi s ố ti ền
thất thoát để trả cho việc xây dựng CSVC; trả số tiền trường còn n ợ cho
giáo viên.
II. Nguyên nhân:
1. Nguyên nhân chủ quan:
Bản thân Hiệu trưởng và
kế


mạnh và trí tuệ ỗê vận dụng vào quá trình quản lý.


2. Nguyên nhân khách quan:
Việc quản lý, chỉ đạo của Phòng GD&ĐT huyện B v ề các m ặt công
tác theo thẩm quyền đối với cơ sở chưa thường xuyên, liên tục, việc tuyên


truyền giáo dục về ý thức, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp cho CBGV
còn xem nhẹ.
Việc kiểm tra, thanh tra của các ngành, các cấp mà tr ực tiếp là Phòng
GD&ĐT huyện B chưa thường xuyên, liên tục, đôi khi còn mang n ặng hình
thức, qua loa, đại khái, nể nang, chưa nắm bắt được thực trạng của các đ ơn
vị cơ sở.
Tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình của Chi bộ, tập th ể CBGV
trường THCS A còn yếu, chưa được phát huy.
Phòng GD&ĐT huyện B chưa nắm rõ được trình độ, năng lực, phẩm
chất của cán bộ, công chức quản lý ở cơ sở nên tham mưu cho huy ện bổ
nhiệm, sắp xếp cán bộ quản lý cho các trường còn hạn chế.
Việc bổ nhiệm cán bộ quản lý mới chỉ đủ về số lượng nhưng còn y ếu về
mặt chất lượng, chưa quan tâm một cách thỏa đáng đến việc đào t ạo, b ồi
dưỡng cán bộ quản lý Nhà nước để nâng cao trình độ và năng l ực đi ều hành
tại các nhà trường. Lẽ ra khi ông T làm Hiệu tr ưởng t ại tr ường THCS Q đã
có những biểu hiện mất dân chủ tại trường này các cấp có thẩm quy ền
phải giải quyết dứt điểm trước khi chuyển ông T đi trường khác nh ưng khi
có hiện tượng đó thì lại bỏ qua nên dẫn đến việc ông T l ại vi ph ạm ở đ ơn
vị mới một cách nghiêm trọng hơn.
Trình độ dân trí của nhân dân còn thấp dẫn đến sự hiểu biết về
pháp
luật và các quy chế của ngành giáo dục còn hạn chế nên việc

hại.

Quyền lợi chính đáng của giáo viên và phụ huynh học sinh bị xâm

Các hoạt động chuyên môn và hoạt động ngoại khóa của nhà
trường
không thực hiện được; không tạo được khí thế
thi đua sôi nỗi trong nhà
trường.
Vì buông lỏng quản lý nên ảnh hưởng xấu đến chất lượng giáo
dục
trong nhà trường; làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và phong
trào
chung của địa phương và cả huyện.
Nếu giải quyết sự việc không tốt có thể dễ bị gây bất bình trong nhân dân
làm ảnh hưởng đến công tác dân vận; công tác xã h ội hóa giáo dục; làm cho
nhân dân nghi ngờ đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.
Phần thứ tư:
XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
I. Xây dựng phương án:
1. Phương án 1: Ra quyết định cảnh cáo ông T và cô L.
Dự vào kết luận của đoàn thanh tra, Trưởng phòng GD&ĐT huy ện B
gọi ông T và cô L lên gặp trực tiếp, yêu cầu ông T ph ải trả ngay s ố ti ền
đang nợ giáo viên và thanh quyết toán 8 triệu đồng cho nhà th ầu xây d ựng;
làm hồ sơ kết toán nhập 12 triệu đồng vào quỹ nhà trường; đồng thời yêu
cầu ông T
và cô L viết giấy cam kết không tái phạm khuy ết đi ểm.
Đề

ngh UBND


luật lao động của ông T là có hệ

thống,

không thể một sớm một chiều có thể thay đổi được, cho dù ông ta viết bản
cam kết sẽ không tái phạm khuyết điểm, mặt khác ông T vẫn ở c ương vị
lãnh
đạo nên việc góp ý phê bình ông sẽ không được cởi mở, v ới bản tính gia
trưởng có thể trù dập, định kiến với những giáo viên góp ý th ẳng th ắn
khuyết điểm của ông, làm cho các giáo viên này không có đi ều kiện phát
huy được khả năng của mình.
Thực tế ông T trên cương vị là Hiệu trưởng không có đủ năng lực lãnh
đạo nên công tác chỉ đạo không thể thuyết phục các giáo viên trong H ội
đồng nhà trường đồng tâm nhất trí để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhà
trường, hiện tượng chia bè, kéo cánh lại tiếp diễn và việc mất đoàn kết n ội
bộ là khó tránh khỏi.
Việc xử lý ông T và cô L ở mức độ cảnh cáo là quá nhẹ so v ới khuy ết
điểm mà hai người mắc phải.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status