Công tác thanh tra của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bắc Ninh đối với hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn, thực trạng và giải pháp - Pdf 50

NGN HNG NH NC VIT NAM

B GIO DC V O TO

HC VIN NGN HNG
------------

lý thanh thảo

công tác thanh tra của ngân hàng nhà nớc
chi nhánh tỉnh bắc ninh đối với hệ thống qũy
tín dụng nhân dân cơ sở thực trạng và giải
pháp
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60340201

Ngời hớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn đình
tự

Hà nội, năm 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lý Thanh Thảo



Kết luận Chương 1..........................................................................................30
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH
ĐỐI VỚI CÁC QŨY TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
...........................................................................................................................31
2.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI
NHÁNH TỈNH BẮC NINH.........................................................................31
2.2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CÁC QŨY TÍN DỤNG NHÂN DÂN
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH..............................................33
2.2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Quỹ tín
dụng Nhân dân cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.........................................33
2.2.2. Những kết quả đã đạt được................................................................35
2.2.3. Những hạn chế, yếu kém....................................................................44
2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH BẮC NINH ĐỐI
VỚI QŨY TÍN DỤNG NHÂN DÂN CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN...................47
2.3.1. Thực trạng.........................................................................................47
2.3.2. Đánh giá về công tác thanh tra của Ngân hàng Nhà nước chi
nhánh tỉnh Bắc Ninh đối với các Quỹ tín dụng Nhân dân cơ sở trên
địa bàn........................................................................................................57
Kết luận chương 2...........................................................................................69
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC
THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI
NHÁNH TỈNH BẮC NINH ĐỐI VỚI CÁC QTDND CƠ SỞ TRÊN
ĐỊA BÀN..........................................................................................................72


3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG QŨY TÍN DỤNG
NHÂN DÂN...................................................................................................72
3.1.1. Mục tiêu chiến lược phát triển QTDND đến năm 2020......................72

1. QTDND

: Quỹ tín dụng nhân dân

2. QTDNDTWW

: Quỹ tín dụng nhân dân trung ương

3. QLHCNN

: Quản lý hành chính nhà nước

4. HTXTD

: Hợp tác xã tín dụng

5. HTX

: Hợp tác xã

6. NHNNVN

: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

7. NHTW

: Ngân hàng trung ương

8. TCTD


Hoạt động tín dụng của QTDND cơ sở trên địa bàn Bắc Ninh
giai đoạn 2008 – 2012.................................................................42

Bảng 2.6:

Dư nợ của QTDND cơ sở trên địa bàn Bắc Ninh giai đoạn
2008 – 2012................................................................................43

Bảng 2.7:

Thống kê các cuộc thanh tra, kiểm tra đối với các QTDND cơ
sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008 - 2012..................48


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với thế mạnh là một tỉnh có rất nhiều làng nghề truyền thống, Bắc
Ninh hiện có 26 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) cơ sở hoạt động tại 8/8
huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh. Trong những năm vừa qua, các
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đã không ngừng được củng cố, chấn chỉnh, được
mở rộng, tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng hoạt động. Các Quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở đã đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và phát triển kinh tế các thành viên, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, tăng
thêm thu nhập, đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn, từng bước góp phần
cải thiện đời sống của các thành viên, đóng góp tích cực vào sự phát triển
kinh tế - xã hội địa phương.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đã đạt được, hoạt động của các
QTDND cơ sở trên địa bàn vẫn còn tồn tại một số yếu kém như: tốc độ tăng

nhánh tỉnh Bắc Ninh đối với các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2008 cho đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là: logíc và lịch sử;
thống kê, phân tích và tổng hợp, so sánh.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được trình bày theo kết cấu gồm có 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về công tác thanh tra của Ngân
hàng Trung ương đối với các Tổ chức tín dụng
Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Ninh đối với các QTDND cơ sở trên địa bàn
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác thanh tra của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Ninh đối với hệ thống
QTDND cơ sở trên địa bàn


3

Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ CÔNG TÁC THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG
TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
1.1.1. Khái niệm
Bước vào thế kỷ XX, hầu hết các nước phát triển đều thực hiện cơ chế
một ngân hàng độc quyền phát hành tiền, song các ngân hàng này vẫn thuộc
sở hữu tư nhân. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 và sự phát
triển của học thuyết Keynes đã làm thay đổi căn bản sự nhận thức của các

chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam; quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân
hàng Nhà nước”. [6]
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng Trung ương
NHTW có thể được tổ chức theo các mô hình khác nhau nhưng nhìn
chung đều có mục tiêu là ổn định giá trị đồng tiền cả về đối nội và đối ngoại,
tạo điều kiện phát triển kinh tế, kiểm soát hệ thống ngân hàng, đảm bảo cho
hệ thống ngân hàng hoạt động theo quy định của pháp luật, ổn định, an toàn
và hiệu quả. Để đạt được các mục tiêu này, NHTW hoạt động theo các chức
năng sau:
1.1.2.1 Phát hành tiền
NHTW khi ra đời và hoạt động đã trở thành trung tâm phát hành tiền duy
nhất của mỗi quốc gia. Toàn bộ tiền mặt pháp định đều do NHTW phát hành
theo chế độ độc quyền phát hành tiền của Nhà nước. Tiền này có hiệu lực sử


5
dụng bắt buộc trong toàn quốc như là phương tiện trao đổi. Vì tiền mặt được
xem là loại tiền mạnh nhất trong hệ thống tiền tệ, hơn nữa, thông qua nó, tiền
gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn được hình thành. Cho nên, hoạt động cung ứng
tiền của NHTW tác động một cách trực tiếp đến độ tăng, giảm của tổng cung
tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến cả sản xuất và tiêu dùng.
1.1.2.2. Ngân hàng của các ngân hàng
Với vai trò là Ngân hàng trung tâm của các Ngân hàng và hệ thống tài
chính trong mỗi quốc gia, NHTW thực hiện một số công việc quan trọng cho
các ngân hàng, đó là:
- NHTW cấp giấy phép kinh doanh tiền tệ cho các ngân hàng, đồng thời
xử lý các vụ vi phạm luật lệ ngân hàng.
- NHTW có quyền quyết định, thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà các
ngân hàng phải thi hành.

1.2.1. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Quỹ tín dụng Nhân dân (QTDND) là một loại hình tổ chức tín dụng
(TCTD) hợp tác, được Chính phủ cho phép thành lập từ năm 1993 nhằm góp
phần đa dạng hoá loại hình TCTD hoạt động trên địa bàn nông thôn, tạo lập
một mô hình kinh tế hợp tác xã kiểu mới hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín
dụng và ngân hàng có sự liên kết chặt chẽ vì lợi ích của thành viên QTDND,
góp phần xoá đói giảm nghèo, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông
thôn…Đây thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn.
- Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác hoạt động
theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động,
thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức
mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các


7
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống. Hoạt động của
Quỹ tín dụng nhân dân phải bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển.
Theo khoản 6 điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, Quỹ tín dụng nhân
dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện
thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động Ngân hàng
theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu
chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Số
lượng thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân không hạn chế, nhưng tối thiểu
phải có 30 thành viên. [34]
- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân
+ Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân và các đối tượng
khác có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 21 Nghị định này đều có thể trở
thành thành viên Quỹ tín dụng nhân dân; thành viên có quyền ra khỏi Quỹ tín
dụng nhân dân theo quy định của Điều lệ Quỹ tín dụng nhân dân.
+ Dân chủ, bình đẳng và công khai: thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

tín dụng nhân dân dưới hình thức cầm cố sổ tiền gửi do chính Quỹ tín dụng
nhân dân cơ sở đó phát hành.
Việc lập hồ sơ và thủ tục cho vay, xét duyệt cho vay, áp dụng bảo đảm
tiền vay, kiểm tra việc sử dụng tiền vay, chấm dứt cho vay, xử lý nợ, điều
chỉnh lãi suất và lưu giữ hồ sơ cho vay của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực
hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thực hiện các hoạt động tín dụng khác
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
+ Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng
Nhà nước, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và các tổ chức tín dụng khác
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.


9
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được thực hiện các dịch vụ thanh toán và
ngân quỹ chủ yếu phục vụ các thành viên.
+ Các hoạt động khác
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để
góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được nhận ủy thác, làm đại lý và thực hiện
các nghiệp vụ khác trong lĩnh vực hoạt động tiền tệ khi được Ngân hàng Nhà
nước cho phép.
1.2.2. Các rủi ro cơ bản đối với hoạt động QTD ND cơ sở
Là một loại hình TCTD nên trong quá trình hoạt động QTDND cũng sẽ
gặp phải những rủi ro phổ biến của một TCTD, như: rủi ro thanh toán, rủi ro
tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro đạo đức, tài sản,…Tuy nhiên, so với các loại
hình TCTD khác, QTDND thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro, đổ vỡ
hơn bởi những đặc thù riêng biệt của hệ thống này, đó là:
QTDND hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cho vay đối với các

tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Bởi vì, các ngân hàng
là trung gian, là cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền. Đây là quan hệ
hết sức quan trọng và gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hoạt động.
Tuy nhiên, không giống các ngành nghề kinh doanh khác, hoạt động
ngân hàng lại là hoạt động phức tạp, có nhiều rủi ro vì phần lớn tài sản của
ngân hàng lại do các tổ chức và cá nhân khác trong nền kinh tế nắm giữ dưới
hình thức các khoản vay hoặc đầu tư. Nếu khách hàng làm ăn thua lỗ, không
có khả năng trả nợ thì ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngân hàng. Hơn nữa,
hoạt động ngân hàng rất nhạy cảm. Trong nền kinh tế, nếu một ngân hàng bị
đổ vỡ, mất khả năng thanh toán thì hiệu ứng lây lan, kéo theo sự đổ vỡ của
ngân hàng khác và như vậy có nghĩa là rất khó tránh khỏi cuộc khủng hoảng


11
tài chính, tiền tệ, gây thiệt hại khôn lường cho nền kinh tế. Để đảm bảo an
toàn cho hoạt động ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải tuân thủ chặt chẽ,
nghiêm ngặt các quy định của pháp luật và chế độ, thể lệ về tiền tệ và hoạt
động ngân hàng để bảo đảm an toàn trong kinh doanh.
Nếu thiếu sự quản lý, giám sát chặt chẽ của Nhà nước đối với các ngân
hàng thì dễ dẫn đến việc làm ăn tùy tiện, vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng
đến sự an toàn của hệ thống ngân hàng và lợi ích của người gửi tiền cũng như
sự ổn định, phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Thanh tra NH là một công cụ quạn trọng để NHTW thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Hoạt động thanh tra
giám sát giúp cho NHTW nắm bắt kịp thời, chính xác tình hình hoạt động của
hệ thống các ngân hàng, phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa và xử lý kịp thời
các vi phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Hoạt động thanh tra
còn giúp NHTW giám sát việc thực thi chính sách tiền tệ của các ngân hàng
một cách thường xuyên, bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng. Hơn nữa,
thanh tra ngân hàng cũng là một kênh thông tin quan trọng, nhờ đó NHTW

+ Phân tích, đánh giá tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và
mức độ rủi ro của tổ chức tín dụng; xếp hạng các tổ chức tín dụng hằng năm.
+ Phát hiện, cảnh báo rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và
nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.
+ Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro,
vi phạm pháp luật.
1.3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của hoạt động thanh tra của NHTW đối với các TCTD
1.3.2.1. Mục tiêu
* Bảo vệ khách hàng, đảm bảo an toàn tài sản cho người gửi tiền
Các tổ chức tín dụng quan hệ với khách hàng là quan hệ vay mượn
quyền sở hữu giá trị tiền tệ. Mối quan hệ này trước hết là quan hệ về tài sản
có đặc trưng riêng biệt là quan hệ trao đổi quyền sử dụng giá trị tiền tệ tách


13
rời quyền sở hữu. Mặt khác trong hoạt động của các TCTD luôn chứa đựng
những rủi ro tiềm ẩn. Thông qua hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng
Nhà nước có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn những sai phạm trong hoạt động
kinh doanh tránh thua lỗ, đổ vỡ cho từng TCTD và lan truyền trong hệ thống để
bảo đảm được quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của người gửi tiền.
Việc thực hiện thanh tra, giám sát các TCTD còn nhằm mục đích đảm
bảo sự công bằng và bình đẳng trong quan hệ giữa các TCTD và các khách
hàng. Điều này thể hiện:
- Bảo vệ lợi ích hợp pháp của khách hàng với tư cách là người đi vay
thông qua các quy định chuẩn mực về các thủ tục vay vốn và tiếp nhận các
dịch vụ ngân hàng, quy định về giải quyết tranh chấp giữa ngân hàng và
khách hàng;
- Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và có hiệu quả thông qua quy định về
chất lượng và sự cập nhật thông tin mà các ngân hàng có nghĩa vụ phải cung
cấp cho những người tham gia thị trường.

Đây là phương pháp thanh tra truyền thống mà phần lớn các quốc gia
đang áp dụng. Đây là phương pháp thanh tra được xây dựng trên cơ sở đánh
giá việc tuân thủ quy trình pháp luật của các TCTD được thanh tra. Căn cứ để
tiến hành thanh tra là các chuẩn mực quốc tế, các quy định chung của pháp
luật và hướng dẫn cụ thể của NHTW đối với các TCTD trong việc thực hiện
các quy trình nghiệp vụ. NHTW trên cơ sở kiểm tra việc thực hiện thực tế tại
các TCTD sẽ đánh giá việc tuân thủ quy trình pháp luật của TCTD, từ đó sẽ
cảnh báo các rủi ro mà TCTD có thể gặp phải. Trên cơ sở đó sẽ đưa ra những
kiến nghị, xử lý cụ thể yêu cầu các TCTD nghiêm túc thực hiện.
Hạn chế của thanh tra tuân thủ là chỉ đánh giá TCTD tại một thời điểm,
cụ thể là đến thời điểm thanh tra. Mặt khác, chưa đánh giá được khả năng
quản trị rủi ro của chính TCTD đó, do vậy không thể đưa ra các cảnh báo về
rủi ro trong tương lai mà TCTD có thể gặp phải.


15
* Thanh tra trên cơ sở rủi ro
Bên cạnh phương pháp thanh tra truyền thống (thanh tra tuân thủ), hoạt
động thanh tra của các NHTW đang dần chuyển hướng sang thanh tra, giám
sát trên cơ sở rủi ro. Đây là phương pháp thanh tra được xây dựng trên cơ sở
đánh giá hoạt động của các TCTD thông qua việc đánh giá các loại hình rủi ro
mà TCTD đang gặp phải. Thông thường, các loại rủi ro mà TCTD gặp phải
bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động,
rủi ro thị trường và các rủi ro khác (như rủi ro chính trị, rủi ro pháp lý…).
Trên cơ sở các loại rủi ro mà TCTD có thể gặp phải, Thanh tra NHTW
đưa ra những đánh giá về khả năng quản trị rủi ro của TCTD. Từ đó có những
nhận xét và thiết lập những yêu cầu cần thiết đối với TCTD nhằm giúp cho
TCTD có thể có đủ khả năng quản trị rủi ro cho ngân hàng mình.
Phương pháp này thường được áp dụng tại các quốc gia mà hoạt động
ngân hàng đã tương đối phát triển, hoạt động ngân hàng không chỉ bao gồm

nhân viên về Ban lãnh đạo TCTD, các Thanh tra viên sẽ đánh giá việc quản lý,
điều hành của lãnh đạo ngân hàng.
* Thanh tra công tác kế toán
Mọi hoạt động của một TCTD đều được phản ánh qua số liệu kế toán và
từ kế toán tạo ra các thông tin quan trọng. Do đó, thanh tra viên phải kiểm tra
tính kịp thời, chính xác của kế toán và phân loại, sắp xếp hạng mục để đánh giá
lại giá trị các tài sản đó.
Cơ sở để kiểm tra là từ các tài liệu báo cáo kế toán như: bảng kê, chứng
từ, sổ chi tiết tài khoản, kết hợp ngày, tháng, sổ cái, cân đối ngày, tháng…
Phương pháp tiến hành kiểm tra: kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các
chứng từ kế toán; Đối chiếu số liệu chi tiết giữa bảng kê chứng từ với sổ chi


17
tiết, kết hợp sổ cái và cân đối để xác định tính kịp thời, chính xác của việc
hạch toán; kiểm tra việc lập và gửi các loại báo cáo kế toán theo quy định của
pháp luật; kiểm tra việc lưu trữ, bảo quản chứng từ tài liệu kế toán đảm bảo
đúng quy định của pháp luật.
* Thanh tra nguồn vốn của TCTD
Vốn huy động của TCTD chính là tài sản mà TCTD phải trả cho người
thứ 3 (người gửi tiền) trên cơ sở đã sử dụng vốn tiền gửi đó để dùng cho vay,
đầu tư và sử dụng vào các nghiệp vụ khác thuộc danh mục sử dụng vốn. Rủi ro
thường xảy ra do sự chênh lệch về thời gian thanh toán, nếu TCTD huy động
vốn lớn với thời hạn ngắn, nhưng sử dụng ở thời gian dài sẽ mất khả năng chi
trả (thanh toán) tạo nên sức ép thanh toán và phát sinh rủi ro. Rủi ro này không
thể hiện bằng giá trị nhưng nó có thể gây lên sự khủng hoảng lớn, thậm chí phá
sản TCTD đó. Do đó, phải tiến hành thanh tra đánh giá, phân tích đưa ra những
khuyến nghị với ngân hàng về kỳ hạn, số lượng và đối tượng gửi tiền nhằm
tránh được rủi ro. Bên cạnh đó, ở nghiệp vụ này có thể có những phát sinh tiêu
cực từ phía nhân viên TCTD như tham ô, tẩy rửa tiền hoặc trả lãi khống để rút


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status