Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại xã phú linh, huyện vị xuyên, tỉnh hà giang - Pdf 50

Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và đề xuất
một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại xã Phú
Linh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

1


ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là một tài nguyên đặc biệt quan trọng, là điều kiện chung đối với
mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con
người. Do đó, việc sử dụng đất đai có hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên đất
đai hiệu quả và bền vững là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, con người vẫn chưa
biết tận dụng khai thác hết khả năng sử dụng của đất đai, đôi khi vẫn còn sử
dụng bừa bãi, hoang phí, sai mục đích... đã làm cho chất lượng đất đai ngày
càng giảm sút... Ngoài ra, tình trạng phá rừng vẫn còn xảy ra, kéo theo những
hậu quả nặng nề như: lũ lụt, hạn hán, huỷ hoại môi trường sinh thái... Mặt khác
dân số gia tăng kéo theo hàng loạt các nhu cầu về đất để xây dựng cơ sở sản
xuất, hạ tầng xã hội, an ninh quốc phòng ... trong khi đó đất đai lại có hạn, nên
đã dẫn đến tình trạng diện tích đất dùng để sản xuất ngày càng bị thu hẹp, nhất
là đối với đất nông lâm nghiệp. Đòi hỏi các ngành, các cấp, các lĩnh vực có liên
quan phải có biện pháp quản lý và sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý, có
hiệu quả và sử dụng tối đa quỹ đất quốc gia để phục vụ phát triển nền kinh tế
quốc dân và xã hội dựa trên nguyên tắc ưu tiên đất đai cho mục đích sản xuất
nông lâm nghiệp, chú ý bảo vệ và cải tạo độ màu mỡ của đất, bảo vệ môi trường,
tận dụng hết tiềm năng mà đất đai mang lại. Để làm được những điều đó, cần
phải lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cụ thể ở tất cả các ngành và các cấp từ
Trung ương đến địa phương. Thông qua công tác quan trọng hàng đầu cần được
triển khai đó là nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất, để từ đó có phương
hướng sử dụng và quản lý đất đai trong tương lai có hiệu quả. xã Phú Linh diện
tích đất chủ yếu được người dân sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhưng hiệu
quả sử dụng đất ở đây vẫn chưa hợp lý.

cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh. Từ năm
1967 Hội đồng nông nghiệp châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức
nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội nghị
này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành
sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăm sóc, chế biến nhỏ,...Cũng như quy
hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên quy hoạch sử dụng đất
đai. Năm 1971 và năm 1975, các chuyên gia tư vấn họp tại Roma (Italia) và
Geneve (Thụy sĩ) để thảo luận về phương pháp luận về quy hoạch nông thôn.

3


Nội dung các cuộc thảo luận đã đề cập các phương pháp cùng tham gia các quy
hoạch cấp vĩ mô.
Những kết quả phân tích hệ thống canh tác tại châu Á, châu Phi và Nam
Mỹ đã xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ quy hoạch, lập
kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp địa phương. Năm 1990, Luning đã nghiên
cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử
dụng đất.
Ở Ấn Độ và các vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi thường áp dụng phương pháp
tham biến, biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng phương trình toán học. Kết
quả phân hạng đất đai cũng được thể hiện ở dạng % hoặc cho điểm.
Sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết
định sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai
thác tốt cho nhu cầu của con người, cũng như có thể giúp bảo vệ tài nguyên mà
trong tương lai công tác nghiên cứu về đất và đánh giá đất đã thực hiện từ khá
lâu và được xem như là những nỗ lực ban đầu và quan trọng của nền khoa họckỹ thuật loài người. Những nghiên cứu này khởi đầu trên phạm vi quốc gia, trên
toàn thế giới. Hiện nay những kết quả và những thành tựu về nghiên cứu đất và
đánh giá đất đai đã được cộng đồng của các tổ chức liên hiệp quốc (FAO,
UNESCO…) như tài sản tri thức chung của nhân loại, [9].

(Week, 1970) [16], trong đó R là lượng tăng trưởng hàng năm (m3/ha); P là độ
dày của tầng đất (cm) và S là độ no bazơ (mg/100 đất).
Chakraborty. R. N và Chakraborty. D (1989) đã nghiên cứu về sự thay đổi tính
chất đất dưới rừng Keo lá tràm ở các tuổi 2, 3 và 4, các tác giả cho rằng rừng trồng
Keo lá tràm cải thiện đáng kể một số tính chất độ phì đất như độ chua của đất biến
đổi 5,9 - 7,6; khả năng giữ nước của đất tăng từ 22,9% lên 32,7%, chất hữu cơ tăng
từ 0,81% lên 2,70%, đạm tăng từ 0,36 lên 0,50% và đặc biệt màu sắc của đất cũng
biến đổi một cách rõ rệt từ màu nâu vàng sang màu nâu, [6].
1.2. Ở Việt Nam
Khái niệm công việc đánh giá đất, phân hạng đất cũng có từ lâu
Trong thời kỳ phong kiến, thực dân để tiến hành thu thuế đất đai, đã có sự
phân chia “ Tứ hạng điền – Lục hạng thổ”
Sau hòa bình lập lại năm 1954 ở phía bắc, vụ quản lý ruộng đất và Viện
nông hóa thổ nhưỡng rồi sau đó là Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã có
5


những công trình nghiên cứu và quy trình phân hạng đất vùng sản xuất nông
nghiệp nhằm tăng cường công tác quản lý độ màu mỡ của đất và xếp hạng thuế
đất nông nghiệp dựa vào các chỉ tiêu chính về điều kiện sinh thái và tính chất
đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp. Đất đã được phân thành 5-7 hạng theo
phương pháp xếp điểm. Nhiều tỉnh đã xây dựng các bản đồ phân hạng đất đai
đến cấp xã, góp phần đáng kể cho công tác quản lý đất đai trong giai đoan kế
hoạch hóa sản xuất.
Những năm gần đây, công tác quản lý đất đai trên toàn quốc đã đang được
đẩy mạnh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển KT – XH từ cấp
quốc gia đến vùng và tỉnh, huyện,...đòi hỏi ngành quản lý đất đai có những
thông tin về dữ liệu về tài nguyên đất và khả năng khai thác, sử dụng đất hợp lý
lâu bền đất sản xuất nông lâm nghiệp. Công tác đánh giá đất không chỉ dừng lại
ở mức độ phân hạng chất lượng tự nhiên của đất mà phải chỉ ra được các loại

cầu và nguyện vọng của người dân sử đất với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế
hoạch có tính khả thi cao hơn. Tuy nhiên, chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ chủ
chương của nhà nước với nhu cầu nguyện vọng của người dân. Vấn đề đặt ra ở
đây là phải tìm ra một phương pháp quy hoạch tại địa phương với sự kết hợp
hài hòa giữa ưu tiên của chính phủ và nhu cầu của cộng đồng.
*Những nghiên cứu về đất rừng
Nghiên cứu đất rừng mang những đặc trưng rõ nét mà các nhà nghiên cứu
đều quan tâm chú ý đó là mối quan hệ hữu cơ giữa đất và thảm thực vật rừng,
tức ảnh hưởng của đất tới rừng và ngược lại ảnh hưởng của rừng tới đất. Việt
Nam nằm trong khu vực nhiệt đới khí hậu nóng ẩm, bởi vậy sự phân bố của thực
vật vô cùng phong phú. Trước đây, khi rừng còn chiếm 3/4 diện tích đất nước,
hầu hết các loài thực vật nhiệt đới đều có mặt ở các loại đất Việt Nam. Hiện nay
rừng bị tàn phá, nhiều loài thực vật đã bị suy giảm nghiêm trọng, một số loài có
nguy cơ tuyệt chủng. Nhất là những loài thực vật quí hiếm, có tác dụng làm
thuốc hoặc có giá trị kinh tế cao.
Năm 1997, chương trình môi trường liên hợp quốc đã đánh giá tổng thể về
thoái hóa đất ở 17 quốc gia Đông Nam á Với sự tham gia của Việt Nam (Thái
Phiên, Nguyễn Tử Xiêm, UNEP, 1997). Hai mươi tiêu thức được sử dụng để
đánh giá các kiểu thoái hóa và lập bản đồ toàn vùng, trong đó chú trọng đến
thoái hóa do con người gây ra về quy mô, tốc độ, nguyên nhân và ảnh hưởng của
quá trình này đến sức sản xuất của đất. Kết quả cho thấy rằng bên cạnh xói mòn
7


rửa trôi do nước thì thoái hóa hóa học đất Việt Nam là khá nghiêm trọng so với
các nước trong vùng. Nhận thức được những đặc điểm quan trọng này, trong
nhiều thập kỷ qua khoa học đất đã tạo ra cơ sở khoa học và đề xuất nhiều giải
pháp kỹ thuật để khắc phục các mặt hạn chế hóa học của độ phì nhiêu, chuyển
hóa độ phì nhiêu hữu hiệu.
Độ phì nhiêu của đất đóng vai trò cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp

lớp thực vật tầng dưới. Đối với đất có độ phì khá lớn, thành phần cơ giới nhẹ, độ
dốc lớn ở Quỳ Châu thì sau 20 năm chặt trắng độ phì đất giảm đi rõ rệt so với
đối chứng và sau 20 năm độ phì đất chưa thể khôi phục được mặc dù rừng mới
đã che kín đất. Đối với đất có thành phần cơ giới nặng hơn, độ dốc lớn, phát
triển trên phiến thạch sét ở Hương Sơn, qua một năm chặt cường độ 40% cho
thấy độ phì đất giảm so với đối chứng 15% [11].
Nghiên cứu ảnh hưởng của thảm thực vật rừng đến tính chất hóa sinh của
đất ở Bắc Sơn của Nguyễn Trường và Vũ Văn Hiển (1997) đã chứng minh rằng
tính chất hóa học đất thay đổi phụ thuộc vào đọ che phủ của thảm thực vật. Ở
những nơi có độ che phủ thấp tính chất của đất biến đổi theo xu hướng xấu. Đất
bị chua hóa, tỷ lệ mùn, hàm lượng các chất dễ tiêu NH 4, P2O5 đều thấp hơn rất
nhiều so với đất bị che phủ tốt [12].
Hiến pháp nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Điều 18,
chương II) đã quy định : “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo pháp
luật , đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả...” điều đó khẳng định tính pháp
lý cao của Nhà nước ta trong việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất.
Kết quả đanh giá tài nguyên đất đai, hiện trang sử dụng đất đai được sử
dụng trong quy hoạch để xác định tiềm năng đất đai.
Như vậy, nghiên cứu đặc tính lý, hóa học dưới tác dụng các trạng thái thực
bì khác nhau đã được nhiều nhà chuyên gia trong và ngoài nước tiến hành
nghiên cứu rất công phu, bao gồm thảm che là rừng tự nhiên, rừng nhân tạo,
hoặc trảng cỏ, đây là các công trình rất có giá trị về khoa học, cung cấp nhiều
thông tin cần thiết trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về đất rừng, để chọn
trạng thái che phủ tốt trong khi sử dụng đất, tạo cho đất có độ phì ngày càng
tăng và bền vững.
Sở khoa học cho việc đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý sử dụng đất là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tế.
9



10


-Tài liệu về điều kiện tự nhiên
-Tài liệu về tình hình kinh tế xã hội địa phương
-Tài liệu về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch tổng thể. Các hệ thống
chính sách có liên quan đến việc sử dụng đất đai của địa phương
- Số liệu khí tượng thủy văn
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của xã.
- Tài liệu trong các thôn về sử dụng đất trên các mặt quy mô diện tích cơ
cấu cây trồng , vật nuôi, kỹ thuật canh tác, sơ lược chi phí thu thập
2.3.1.2. Phương pháp xử lý tài liệu
- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Thông tin và các số liệu được thu thập, tiến hành chỉnh lý và tông hợp,
phân tích các mặt theo loại sơ đồ, lát cắt, các mẫu biểu thống kê.
- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
Các số liệu được tập hợp và tính toán bằng các hàm kinh tế trong chương
trình Excel trên máy vi tính.
+ Phương pháp tĩnh: Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập tương đối
và không chịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị
đồng tiền. Tổng lợi nhuận: P = TN - CP
+ Phương pháp động:
Xem xét chi phí và thu nhập trong mối quan hệ với mục tiêu đầu tư,
thời gian, giá trị đồng tiền.
Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV,
BCR, BPV, CPV, IRR, trong chương trình Excel 2003.
2.3.2 Phương pháp điều tra thực địa
2.3.2.1 Điều tra, bổ xung thông tin tài liệu và điều kiện tự nhiên và các nguồn
tài nguyên theo vùng lãnh thổ:
+ Đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status