SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
TP. HỒ CHÍ MINH
-oOo-
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TP. HỒ CHÍ MINH
-oOoTRUNG TÂM HT&PT GDHN
CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
BIỆN PHÁP HỖ TR TRẺ HỌC KHÓ CÁC MÔN
TIẾNG VIỆT VÀ TOÁN TRONG CÁC TRƯỜNG
TIỂU HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Đã chỉnh sửa sau nghiệm thu)
Chủ nhiệm:
CN.NGUYỄN THỊ ẨN
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 11 năm 2008
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh sách Ban nghiên cứu và cộng tác viên; đơn vị phối hợp và thực nghiệm.
Mục lục
Tiêu đề
Số trang
Chương 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
50 đến 65
2.1. Tổ chức khảo sát
50
2.1.1 Mục đích nghiên cứu
2.1.2 Khách thể nghiên cứu
2.1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu
51
2.1.5 Thời gian tiến hành điều tra thực trạng
52
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng
2.2.1 Thực trạng học tập của học sinh học khó và nguyên nhân 52
2.2.2 Thực trạng về biện pháp tác động lên học sinh học khó 59
Chương 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
66 đến 92
3.1 Tổ chức ngiên cứu thực nghiệm
66
1)
5. Thống kê T4 về thực trạng chất lượng học tập 2 môn Tiếng Việt và Toán của học
sinh học khó.
6. Danh sách 24 giáo viên và 48 học sinh thực nghiệm.
7. Mẫu khảo sát về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp hỗ trợ học sinh học
khó.
8. Danh sách nghiên cứu viên và các tổ giáo viên thực nghiệm các biện pháp hỗ trợ
học sinh học khó.
9. Mẫu báo cáo kết quả thực nghiệm của giáo viên dạy hỗ trợ học sinh học khó.
10. Phiếu ý kiến giáo viên về thực trạng học sinh học khó.
11. Phiếu phỏng vấn giáo viên lần 2
12. Mẫu nhận xét đánh giá giáo viên về mức độ và khả năng hỗ trợ học sinh học khó
13. Phiếu ý kiến giáo viên về các biện pháp hỗ trợ của Ban nghiên cứu đề xuất
14. Phiếu dự giờ quan sát học sinh.
15. Trích bản phô tô sổ liên lạc của học sinh học khó.
16. Thống kê điểm đánh giá 12 giáo viên dạy hỗ trợ học sinh học khó.
17. Danh sách 24 học sinh học khó với điểm bài kiểm tra trước và sau thực nghiệm hỗ
trợ.
DANH SÁCH BAN NGHIÊN CỨU
STT HỌ VÀ TÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC
1
CN.Nguyễn Thị Ẩn
2
Phòng Giáo dục Quận 3
Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Hồ
Thị Kỷ, Quận 10
Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Giáo
dục hoà nhập cho người Khuyết tật
DANH SÁCH CÁC CỘNG TÁC VIÊN
STT HỌ VÀ TÊN
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC
1
CN. Đặng Thi Mỹ Phương
Phòng Giáo dục Quận 3
2
CN. Lê Văn Công
Phòng Giáo dục Quận 5
3
CN. Nguyễn Lê Nhân
Phòng Giáo dục Quận 10
4
“Khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp hỗ trợ trẻ học khó các môn
Tiếng Việt và Toán trong các trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh.”
Chân thành cảm ơn :
-
Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh
Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Phòng Giáo dục Tiểu học của Sở GD-ĐT thành phố HCM
Ban Giám đốc, Giáo viên và Nhân viên của Trung tâm Hỗ trợ
và Phát triển Giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật.
Khoa Giáo dục đặc biệt của các trường Đại học Sư phạm Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoa Giáo dục Mầm non của trường Đại học Sài Gòn
Ban lãnh đạo và chuyên viên các phòng Giáo dục Quận,
Huyện 3, 5, 10, 11, Tân Bình, Củ Chi, Bình Chánh và Cần
Giờ.
Các giáo viên và học sinh của 15 trường tổ chức thực nghiệm
các biện pháp hỗ trợ học sinh học khó do Ban nghiên cứu đề
tài đề xuất.
Chúng tôi cũng chân thành cám ơn Ban giám hiệu, Giáo viên và
Phụ huynh các trường tiểu học của 8 quận, huyện nêu trên; đã cho
phép chúng tôi phỏng vấn, ghi hình và nhiệt tình cung cấp thông tin,
tài liệu trong quá trình chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Chính nhờ những sự giúp đỡ trực tiếp hoặc gián tiếp của các
đơn vị, cá nhân chúng tôi mới có thể hoàn thành được đề tài nghiên
cứu này trong suốt thời gian 24 tháng từ tháng 12 năm 2006 đến tháng
12 năm 2008.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2008
học sinh chậm phát triển trí tuệ trong các trường tiểu học, chúng tôi phát hiện trong
số đó có hơn 1/3 không thể hiện rõ những đặc điểm của trẻ chậm phát triển trí tuệ.
Thực tế hiện nay tại Tp. HCM, nhà trường và giáo viên chưa có được cơ sở nào để
xác định và vì vậy cũng chưa có biện pháp hỗ trợ trẻ học khó trong các trường tiểu
học.
Vì các lý do nêu trên, chúng tôi đăng ký nghiên cứu đề tài:
“Khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp hỗ trợ trẻ học khó các môn Tiếng
Việt và Toán trong các trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng và đề xuất biện pháp để hỗ trợ trẻ học khó các môn
Tiếng Việt và Toán ở các lớp 1, 2, 3 trong các trường tiểu học tại Tp. HCM.
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
3.1.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
3.1.1. Trong nước:
-
Từ năm 1990- 2002, Viện Nghiên cứu chiến lược và Chương trình giáo dục
và các chuyên gia về Giáo dục đặc biệt có nhiều nghiên cứu về trẻ em có
nhu cầu giáo dục đặc biệt. Các kết quả nghiên cứu này hiện đang được lưu
giữ trong hơn 100 bài viết, bài báo cáo, đề tài nghiên cứu…được tìm thấy tại
thư viện điện tử của Văn phòng Ủy ban y tế Hà Lan- Việt Nam.
-
môn học và điều chỉnh việc dạy học theo hướng cá thể hóa, giúp cho những
học sinh học khó ở bậc Tiểu học có cơ hội hòa nhập tốt hơn trong các
trường tiểu học.
Tuy nhiên, lãnh đạo và giáo viên ở các trường tiểu học vẫn chưa
có cách để xác định nguyên nhân và mức độ học khó của các học
sinh không khiếm khuyết cụ thể về giác quan hay trí tuệ. Và vì
vậy, vẫn chưa có biện pháp hỗ trợ phù hợp để giảm bớt tình trạng
học sinh ngồi nhầm lớp, lưu ban nhiều lần trong một lớp hoặc bỏ
học khi chưa học hết bậc Tiểu học.
3.1.2. Ngoài nước:
Có rất nhiều
tài liệu được tìm thấy ở trang Web “Learning
Difficulties”, chúng tôi đã chọn lọc và sử dụng trong quá trình nghiên cứu
các tài liệu nêu trong phụ lục: “Các tài liệu đã nghiên cứu và sử dụng trong
đề tài”
Trong những năm gần đây, khoa Giáo dục đặc biệt của các trường Sư
phạm Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có biên dịch và nghiên cứu ứng
dụng nhiều tài liệu hay.
Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến các kết quả nghiên cứu được phổ biến
trong khoá đào tạo chuyên đề “Khó khăn trong học tập ngôn ngữ và toán
học của trẻ em” tại trường Đại học Sư phạm TP. HCM và tài liệu biên dịch
của tác giả Nguyễn Thị Thục An, khoa Giáo dục đặc biệt, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội.
Bên cạnh đó chúng tôi cũng tìm thấy trong Chương 4- Khó khăn
trong học tập của quyển sách “Exceptional Lives-Special Education in
Today’s School” của các tác giả Dorothy Leal, Ann Turnbull, Rud Turnbull,
đề xuất các biện pháp hỗ trợ.
4.1.4. Thực nghiệm và đối chứng kết quả sử dụng các biện pháp hỗ trợ.
4.2.
Giới hạn phạm vi khảo sát:
Kết quả cần đạt của đề tài là nêu được thực trạng; xây dựng tiêu
chí đánh giá kỹ năng và các biện pháp hỗ trợ trẻ học khó môn
Tiếng Việt, Toán lớp 1,2,3.
Các biện pháp trị liệu, các vấn đề về đánh giá chỉ số thông minh;
các trẻ khiếm khuyết về học do có khó khăn về nghe, về nhìn,
chậm phát triển trí tuệ hoặc do những dạng khuyết tật vận động
khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4.3.
Giả thuyết khoa học:
Học sinh học khó các môn học Tiếng Việt, Toán lớp 1,2,3 trong các
trường tiểu học tại Tp.HCM có cơ hội vươn lên và học tập tốt hơn nếu:
Xác định đúng nguyên nhân và khả năng hiện tại của học sinh học
khó.
Xây dựng được hệ thống các biện pháp chẩn đoán và tác động phù hợp
Giáo viên nhận thức đúng và ứng dụng được các biện pháp đề ra.
5. Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề:
5.1. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng cả hai hình thức nghiên cứu định tính và định lượng với các
phương pháp cụ thể như sau:
-
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu: 3 nhóm và 9 cá
nhân là phụ huynh, cán bộ quản lý và giáo viên để xác định rõ nguyên nhân
và mức độ của trẻ học khó.
-
Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của các nhà giáo, nhà khoa học có kinh
nghiệm về các lãnh vực nghiên cứu.
It nhất 1 lần/ mỗi sản phẩm của đề tài.
-
Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm các biện pháp hỗ trợ ở 24 học sinh
học khó lớp 1, 2, 3 của 12 giáo viên. Rút kinh nghiệm và hướng dẫn giáo
viên dạy lớp có học sinh học khó môn Tiếng Việt và Toán bổ sung, điều
chỉnh các biện pháp hỗ trợ.
-
Kiểm nghiệm, đối chứng: so sánh đối chứng kết quả thực hiện các biện pháp
hỗ trợ học sinh học khó của 24 giáo viên dạy trẻ học khó.
-
Phương pháp thảo luận, hội thảo: Tổ chức thảo luận nội bộ Ban nghiên cứu
và các cộng tác viên, đơn vị phối hợp để lấy ý kiến thống nhất về các kết quả
nghiên cứu về cơ sở lý luận, thực trạng, thực nghiệm và so sánh kết quả.
-
6.2.
Các sản phẩm của nghiên cứu thực nghiệm gồm:
Sổ tay hướng dẫn giáo viên dạy hỗ trợ học sinh học khó.
Kế hoạch bài dạy của hai môn Tiếng Việt và Toán lớp 1, 2, 3
Đĩa hình các tiết dạy hỗ trợ học sinh học khó.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN-NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Theo chương 6 của tài liệu “Giáo dục trẻ có nhu cầu đặc biệt” – sách lưu hành
nội bộ do Nguyễn Thị Thục An, khoa giáo dục đặc biệt, trường Đại học sư phạm
Hà Nội biên dịch - thì các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân học sinh
có khó khăn trong học tập từ những năm 1800 và các công trình nghiên cứu vẫn
tiếp tục cho đến ngày nay.
+Orton (1937) cho rằng khó khăn trong học tập nằm ở chính sự suy giảm chức
năng của bán cầu não trái vì nó có vai trò chỉ huy ngôn ngữ, ông gọi những học
sinh có khó khăn trong học tập (KKTHT) là “tổn thương não ở mức tối thiểu”.
+Frostig, Lefever và Whittasay (1964), Getman (1965) và các nhà nghiên cứu
khác đã điều tra về những mặt vận động và nhận thức, họ coi đó là những nhân
tố tiềm năng đã gây nên tình trạng học khó ở một số trẻ em.
Pernal (1943) và Gillingham và Stillman (1960) tin rằng những biểu hiện rối
loạn chủ yếu liên quan tới lĩnh vực ngôn ngữ viết.
quan đến các mặt học tập đều do những nguyên nhân gây bệnh khác nhau gây ra. Vì
vậy quá trình chẩn đoán và điều trị là việc hết sức quan trọng. Người ta ước đoán có từ
5% đến 10% học sinh có KKTHT và từ 3% đến 5% học sinh có sự tăng động thiếu tập
trung chú ý. Việc chẩn đoán về học tập được thực hiện ngay khi trẻ em có những biểu
hiện có những KKTHT tại trường học, 9 tuổi là độ tuổi trung bình của trẻ em được
đánh giá là có KKTHT.
Sự can thiệp chậm trễ sẽ là điều bất lợi và có hậu quả dai dẳng cho việc học tập
của các em. Và hiện nay trường đại học West Chester, bang Pennsylvania đã giới thiệu
một mô hình khám sàng lọc sớm cho trẻ em từ 3-5 tuổi có thể bị nguy cơ KKTHT và
các biện pháp phòng ngừa, can thiệp kèm theo kế hoạch cộng tác giữa các nhà chuyên
môn và cha mẹ trẻ (INTERNATIONANL JOURNAL OF SPECIAL EDUCATION –
Vol No.3 2006) và cũng trong tài liệu này các nhà nghiên cứu thừa nhận rằng :
“KKTHT được biết rõ là sự phát triển bất lợi cho trẻ em trong học tập (Geary, 2004:
Gert, Jorrdan & Flojo, 2005), kết quả của điều không mong đợi (Fletcher, Coulter,
Reschley & Vaughn 2004), cho việc học tập cơ bản của trẻ em.
Như vậy, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã có một số kết luận ban đầu về vấn
đề KKTHT của học sinh…Còn vấn đề này dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu trong
nước thì như thế nào?
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Từ năm 1990- 2002, Viện Nghiên cứu chiến lược & Chương trình giáo dục và
các chuyên gia về Giáo dục đặc biệt có nhiều nghiên cứu về trẻ em có nhu cầu giáo
dục đặc biệt và chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh. Các kết
quả nghiên cứu này hiện đang được lưu giữ trong 107 bài viết, bài báo cáo, đề tài
nghiên cứu…được tìm thấy tại thư viện điện tử của Văn phòng Ủy ban y tế Hà
Lan- Việt Nam (MCNV).
Trung tâm nghiên cứu Giáo dục trẻ khuyết tật TP. Hồ Chi Minh đã đề cập đến
vấn đề này trong lớp bồi dưỡng giáo viên dạy hoà nhập năm 2002. Cụ thể Thạc sĩ
Đoàn Mỹ Huệ (Giáo viên Trung Tâm) đưa ra định nghĩa, nguyên nhân, đặc điểm
Tâm lý nhận thức trong học tập và lý luận dạy học của môn Toán và
tiếng Việt.
•
Tiêu chí chẩn đoán học sinh KKTHT
• Biện pháp hỗ trợ các học sinh khó khăn trong học tập môn Toán và
Tiếng Việt các lớp 1,2.3.
1.2.1. Khó khăn trong học tập ( KKTHT):
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng từ học khó thay từ khó khăn trong học tập
(KKTHT) hay khó khăn về học , vì vậy về lý luận khi trích, dịch các tài liệu có
liên quan đến đề tài chúng tôi sử dụng từ nguyên bản của các tài liệu là KKTHT
hoặc khó khăn về học
a. Khái niệm khó khăn trong học tập :
Tiếng Anh là Dyslexia đồng nghĩa với Word–blingdneess có nghĩa là khó khăn,
bất thường trong việc đọc và đánh vần gây ra bởi trạng thái của bộ óc.
(14, trang 544)
Dyslesxia: Chứng đọc khó.
Dysgraphia: Chứng viết khó
Trong ngành giáo dục, thuật ngữ được dùng để chỉ chứng rối loạn phát triển là
thiểu năng tiếp thu cá biệt (Specific Learning Disabilities = SLD).
Thuật ngữ này dùng để chỉ tất cả những chứng bệnh về học tập của trẻ, chẳng hạn
như chứng loạn năng tính toán, loạn năng đọc, loạn năng viết hoặc loạn năng về mặt từ
ngữ. (10, trang 13)
+Khó khăn: Khó, có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn (13, trang 446)
+Học: Thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại (13, trg 399)
+Học tập: Học và luyện tập để hiểu biết, để có kỹ năng.
Như vậy khó khăn trong học tập nghĩa là “Sự khó khăn trở ngại mà đứa trẻ gặp phải
mang nhiều yếu tố khác nhau hợp thành sự rối loạn chức năng nghe, nói, đọc, viết, suy
luận và khả năng làm toán.
Chúng ta cũng cần lưu ý dù KKTHT có thể xảy ra đồng thời với những khuyết
tật khác như: rối loạn các giác quan, chậm phát triển trí tuệ, rối loạn cảm xúc, rối loạn
nhận thức về thế giới quan, hoặc do sự tác động bởi môi trường xung quanh…Tuy
những rối loạn này không phải là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng, nhưng
chúng cũng góp phần hình thành nên những khó khăn trong học tập cho trẻ.
b. Nguyên nhân gây KKTHT:
Theo các đánh giá của ngành Giáo dục đặc biệt ở trên thế giới thì việc tìm
nguyên nhân căn bệnh KKTHT là khá khó khăn, chỉ có thể nhìn nhận nguyên nhân
chính của rối loạn này là do chức năng hoạt động của hệ thần kinh không tốt.
Vì vậy để biết được nguyên nhân dẫn đến KKTHT chúng ta còn phải kiểm
nghiệm các tổn thương não bộ hoặc xem xét các chức năng não bộ có đủ khả năng để
lĩnh hội được chương trình giáo dục của nhà trường hay không. Bên cạnh đó còn phải
quan tâm đến cách giáo dục, chương trình giáo dục của giáo viên trực tiếp giảng dạy
cho trẻ, từ đó mới có cách đánh giá thật chuẩn xác về những biểu hiện hành vi thông
qua sự hoạt động của trẻ mà ta giúp trẻ tiến lên từng bước một.
Đối với giáo viên giảng dạy những trẻ KKTHT việc tìm ra nguyên nhân hình
thành nên những KKTHT của trẻ là vô cùng quan trọng. Do đó, sự can thiệp của y
khoa sẽ là một giải pháp hữu hiệu cho tiến trình điều trị, giáo dục sau này.
Để có chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây ra việc học sinh gặp KKTHT,
người chẩn đoán phải có kiến thức chuyên ngành tâm lý học thần kinh mới có thể hiểu
thấu đáo được vấn đề và có thể giúp cho việc điều trị đạt hiệu quả cao.
Theo nhận định chung của nhiều chuyên gia nghiên cứu thì KKTHT bao gồm những
nguyên nhân chính sau :
o Rối loạn chức năng não bộ: Thông thường những tổn thương nhất định ở não
sẽ làm con người bị hạn chế khả năng lĩnh hội ngôn ngữ, nói khó, đọc khó….vì
não là trung tâm điều khiển mọi hoạt động của cơ thể. Khi não bị tổn thương sẽ
Các nhóm nguyên nhân này còn được các nhà nghiên cứu hiện nay xem xét dưới
góc độ của các nhân tố sau:
o Nhân tố thể chất
o Nhân tố tâm lý
o Nhân tố môi trường
(Thực tế hiện nay việc nghiên cứu những nhân tố gây ảnh hưởng đến tình hình học tập
của trẻ dần dần được các nhà nghiên cứu chuyển sang nghiên cứu tập trung vào thể
chất và tâm lý trẻ, điều kiện môi trường sống của trẻ…) Thông qua tổng hợp, phân tích
nhiều tài liệu nghiên cứu về trẻ KKTHT và qua khảo sát thực tế; những nhân tố
thường xuyên tác động đến tình trạng học tập của trẻ là:
* Nhân tố thể chất
Điều kiện thể chất có thể ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ. Những khiếm khuyết
về nhìn, nghe, định hướng không gian, chao đảo, tăng động và một số nguyên nhân
khác do chế độ ăn uống không đủ chất làm giảm khả năng linh hoạt cũng như sự nhạy
bén trong học tập của trẻ.
* Nhân tố tâm lý
Về mặt tâm lý nếu trẻ bị mất tập trung, nghe kém, nhận thức kém, khả năng phân
biệt các từ ngữ, âm thanh kém sẽ gặp KKTHT. Trẻ hay nhầm lẫn các vấn đề hoặc tiếp
thu chậm, khả năng tư duy kém, không có khả năng suy luận; lơ đễnh trong lúc học
hoặc không ghi nhận được những gì vừa nhìn thấy hay vừa mới học ( trí nhớ kém).
* Nhân tố môi trường:
Là vấn đề có liên quan đến điều kiện sống ở gia đình, cộng đồng và học đường, đã
ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ của trẻ. Những việc đau
buồn, áp lực gia đình mà trẻ gặp phải hoặc việc thiếu quan tâm chăm sóc giáo dục của
gia đình và nhà trường cũng là yếu tố tác động trực tiếp lên quá trình học tập của trẻ.
Cần lưu ý mặc dù các nhân tố nêu trên có ảnh hưởng đến quá trình học tập ở trường
của trẻ, nhưng cũng không phải là nguyên nhân chính hình thành sự KKTHT ngoại trừ
các nhân tố về môi trường có thể gây tác động đến quá trình phát triển tâm lý, trí nhớ,
bản, sau đó đến toán nhân, chia và tiếp đến phân số, số thập phân, và các khái niệm
phức tạp hơn. Học sinh có KHTHT có những trở ngại không giống nhau trong quá
trình học toán như:
- Em này có khó khăn trong việc hiểu và học các khái niệm phức tạp đó.
- Em khác có khó khăn trong việc viết ngôn ngữ về toán, như là viết các phần
cuối của bài toán không đúng chỗ bên phải, hoặc là em thường làm lỗi do không cẩn
thận…
Học sinh có khó khăn trong học tập về toán học, tính toán, sẽ không mắc cùng loại sai
sót. Các khó khăn học toán có thể bao gồm các vấn đề sau:
-
Tri giác nhận thức (sự khác nhau giữa các chữ số hoặc là hình dạng)
-
Trí nhớ (nhớ lại các lập luận của toán học- bao gồm trí nhớ ngắn hạn và trí
nhớ dài hạn)
-
Chức năng vận động (viết chữ số rõ ràng, dễ đọc hoặc khoảng cách nhỏ)
-
Ngôn ngữ (liên hệ đến thuật ngữ toán học, nghĩa và cách sử dung từ ngữ
toán học)
-
Về nhận thức: khâu đầu tiên dễ thấy nhất là trẻ KKTHT rất hay quên. Khối
lượng ghi nhớ, các thuộc tính và quá trình ghi nhớ đều có chỉ số thấp hơn so với
tuổi đời.Trẻ KKTHT tiếp thu bài rất chậm và lại rất mau quên, song điều gì đã
ghi nhớ được sẽ ghi nhớ rất lâu bền.
Tư duy của trẻ KKTHT chỉ ở mức trực quan hình ảnh. Kiến thức thu được đều
phải được xây dựng trên cơ sở vật chất cụ thể hoặc hình ảnh của các sự vật.
Khả năng tự điều chỉnh hành vi, lập chương trình hành động, hoạch định công
việc kém. Nhiều trẻ dạng này không có khả năng phát triển. Nếu trẻ đạt được
một chút thành tích nào đó trong học tập cũng phải nhờ sự kèm cặp, theo dõi sát
sao của người lớn. Có trẻ đọc, viết được nhưng những bài tự đọc, tự viết rất
nhiều lỗi do không tự kiểm tra được các thao tác đọc hay viết của chính mình.
Chẳng hạn, khi đọc bài, đọc chữ của dòng trên tiếp nối với những dòng chữ
khác, đọc bài xong nhưng không hiểu bài nên không trả lời được các câu hỏi về
nội dung bài, hoặc viết chữ thì đánh vần đúng, nhưng viết vẫn sai, thiếu âm
hoặc không đúng âm. Những trẻ yếu chức năng này đều khó khăn khi học toán.
Khi làm việc trẻ nhanh chóng mệt mỏi. Các biểu hiện thường dưới dạng hoạt
động tay chân không có ý thức, dù ở bất kỳ đâu, đang học hay đang chơi.
Đặc điểm khá nổi bật là trẻ rất thích được khen. Đồng thời với thích khen, trẻ
rất hay nản chí khi gặp khó khăn và phản ứng ra mặt như : Không nhìn lên
bảng, không nhìn vào bài để nghe giảng hoặc nghe giáo viên nói về điều không
đúng mà trẻ mắc phải. Xu hướng của những trẻ này là thích lặp lại cái đã quen,
đã biết làm.
Với tất cả những khó khăn đã nêu trên, chúng tôi muốn khẳng định trẻ KKTHT vẫn
có khả năng học tập như những học sinh bình thường cùng trang lứa. Nhưng do có
một số hạn chế như đã nêu trên nên trong quá trình học tập mỗi trẻ sẽ gặp một số