Đề tài tốt nghiệp về thực trạng sử dụng đất nông nghiệp tại xã thạch mỹ huyện lộc hà – tỉnh hà tĩnh - Pdf 50

PHẦN I
ĐẶT VẮN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất đai là sản phẩm ban tặng cho con người, là tài nguyên vô cùng quý giá của
một quốc gia, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất xã hội
Đất đai là thành phẩm quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các
khu dân cư, là nơi xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa–xã hội, an ninh, quốc
phòng. Bởi vậy, việc quản lý và sử dụng đất đai bền vửng, lâu dài là vô cùng cần
thiết
Đất đai có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, ở nhiều nghành sản xuất
khác nhau. Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt, không
thể thay thế được, là môi trường sống và là nơi cư trú cho sự sinh trưởng và phát
triển của cây trồng, gia súc, cung cấp các chất dinh dưởng cần thiết đẻ nâng cao
sản xuất, chất lượng và hiệu quả của cây con
Ngày nay bước vào CNH – HĐH đất nước, yêu cầu đặt ra cho nền sản xuất
nông nghiệp va nền kinh tế nông thôn rất lớn. nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp và
phát triển nông thôn đang đứng trước một thách thức lớn bao trùm “đất hẹp, người
đông, lao động dư thừa, khả năng phân công lại lao động nông thôn không dể
dàng”. Việt Nam với hơn 84 triệu dân, trong đó gần 73% dân số sinh sống ở nông
thôn, khoảng 60% lao động con làm nông nghiệp, điều này đang đặt ra một thách
thức rất lớn trong việc sử dựng đất nông nghiệp và đất ở tại nông thôn, chính vì
vậy mà việc điều tra đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp là một công tác
hết sứ quan trọng, cần thiết để có khoa học nhằm xây dựng các phương án quy
hoạch cũng như việc tổ chức lại sản xuất, mở ra các phương hướng và triển vọng
cho địa phương, đồng thời sử dụng đúng đắn, hợp lý và bền vững tài nguyên đất
đai.
Thạch mỹ là một xã thuộc đồng bằng huyện Lộc Hà cách trung tâm huyện lỵ
4km về phía Tây Nam. Có tổng diện tích đát tự nhiên là 1012,42 ha, trong dó tổng
diện tích đất nông nghiêp chiếm tỷ trọng khá cao, từ năm 2008-2010 tỷ trọng đát
nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên lần lượt là 68,52%; 68,30%; 67,96%.
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam

năm, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp
của toàn xã.
- Phương pháp nghiên cứu:
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

2


Để hoàn thành đề tài của mình, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng
một số phương pháp như sau:
- phương pháp dùng vật biện chứng và tư duy lô rích.
Đư vào phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đẻ xem xét, phân
tích vấn đề một cách khoa học và khách quan.
- Phương pháp thu thập số liệu:
Đối với thông tin đã công bố như: Các tài liệu liên quan đến cơ sở lý luận và
thực triển tình hình sử dụng đất, các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
cấc báo cáo của xã được thu thập từ ban đại chính, ban thống kê xã Thạch Mỹ và
các loại sách báo.
- Phương pháp thống kê kinh tế:
Dựa vào số liệu thống kê để so sánh, phân tích làm rỏ những vấn đề có quy luật
những nhận xét đúng đắn.
- Phương pháp hạch toán:
Dựa vào số liệu thu thập, chi phí, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng…
Do thời gian thực tập, trình độ kiến thúc và kinh nghiệm thực tế của bản thân có
hạ nên không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Vì vậy rất mong nhận
được ý kiến đống góp của quý thầy cô và các bạn.

Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

để không ngừng nâng cao chất lượng của nó. Việc nâng cao chất lượng ruộng đất
đồng nghĩa nâng cao đọ phì nhiêu của đất. Độ phì nhiêu của đất là khả năng của
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

4


đất cung cấp cho cây tròng về nước, thức ăn , khoáng và các yếu tố cần thiết khác
đẻ cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường.
Độ phì nhiêu của đất là một thuộc tính tự nhiên khách quan, là đặc tính tự
nhiên không tách rời với khái niệm đất. Nó quyết định đặc tính tái tạo của đất,
nhờ đó đất có thể tạo ra một khối lượng nông sản để nuôi sống con người. Độ phì
nhiêu của đất là đặc trưng cơ bản của đất, cho ta phân biệt với đá và chổ dựa cơ
bản để đánh giá và phân hạng đất. Tùy theo mục đích khác nhau người ta chia độ
phì nhiêu của đất thành các loại sau:
- Độ phì nhiêu tự nhiên: là độ phì được hình thành dưới tác động của các yếu
tố tự nhiên, chưa có tác động của con người. Độ phì nhiêu tự nhiên phụ thuộc vào
thành phần, tính chất đá mẹ, khí hậu, chế độ nước, không khí và nhiệt độ, vào
những quá trình sinh lý học để tạo thành và tích lũy các chất dinh dưỡng cho thực
vật thượng đẳng.
- Độ phì nhiêu nhân tạo: là đọ phì nhiêu được tạo ra do tác động của côn
người, thông qua các hoạt động sản xuất tác động vào đất đai như cày xới, bón
phân, cải tạo đất, thủy lợi, tưới tiêu áp dụng các biên pháp kỉ thuật nông nghiệp…
nó phản ánh khả năng cải tạo bồi dưỡng và năng cao chất lượng đất đai. Độ phì
nhiêu nhân tạo phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, vào
trình độ khoa học kỷ thuật và khả năng ứng dụng chúng vào khai thác sử dụng
đất củng như quan hệ xã hội.
- Độ phì nhiêu tiềm năng: là độ phì nhiêu tự nhiên mà cây trồng tạm thời
chưa sử dụng được. Trong đó phì nhiêu tự nhiên có một phần tác dụng ngay đến

nghiệp. Quỷ đất đai sử dụng vào mục đích nông nghiệp là có hạn và ngày càng
trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của việc đô thị hóa, CNH
– HĐH và xây dựng nhà ở để đáp ứng nhu cầu dân số ngày càng tăng. Vì thế cần
thiết sử dụng hợp lý phải biết tiết kiệm đất, hạn chế chuyển sang mục đích sử
dụng khác.
Mặc dù bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của đất đai là
khoonh bị giới hạn. Nghĩa là một đôn vị diện tích đất đai, nhờ tăng cường đầu tư
vốn, sứ lao động, đua khoa học và công nghệ mới vào sản xuất sản phẩm đem lại
trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn.
Thứ ba đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều.
Các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần thiết
ngược lại, đất đai – tư liệu sản xuất chủ yếu này có vị trí có định gắn với điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng do đó đất đai có chất lượng không
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

6


đồng đều giữa các khu vực này và ngay trên cánh đồng, từng khu vực để đạt năng
suất cao.
Thứ tư đất đai không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếu sử
dụng hợp lý thì đất đai có chất lượng ngày càng ttoots hơn.
Các tư liệu sản xuát khác sau một thời gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình
hoặc hao mòn vô hình, cuối cùng sẽ bị đào thải khỏi quá trình sản xuất và thay
thế bởi tư liệu sản xuất mới, chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn. Còn đất đai nếu được
sử dụng hợp lý thì sản xuất của nó không ngừng tăng lên và cho nhiều sản phẩm
trên một diện tích đất canh tác.
2.1.3. Phân loại đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng
2.1.3.1. Phân loại đất nói chung

Thông thường đất nông nghiệp được phân thành 5 loại sau:
- Đất trồng cây hàng năm: là loai đất dùng để trồng cây ngắn ngày, có chu kỳ
sinh trưởng không quá một năm. Đây là bộ phận quan trọng nhất trong quỷ ruộng
đất nông nghiệp nước ta vì đại bộ phận lương thực, thực phẩm được sản xuất ra
trên loai đất này. Để đánh giá khả năng của đất canh tác hàng năm và tình hình
tăng vụ, loại đất này được chia thành các loại:
+ Đất 3 vụ: là loại đất gieo trồng và thu hoạch được 3 vụ/năm, thường được
trồng theo công thức 3 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa + 1 vụ mùa hoặc 1 vụ lúa + 2 hoăc 3
vụ mùa.
+ Đất 2 vụ: thường được trồng theo công thức luân canh: lúa – lúa hoặc lúa –
mùa hoạc mùa – mùa…
+ Đất 1 vụ: Là đất chỉ trồng được 1 vụ mùa hoặc 1 vụ lúa trong một năm.
Theo mục đích kinh tế của việc sử dụng từng loại đất, có thể phân chia đất
canh tcs thành 7 loại bao gồm: đất gieo mạ, đất chuyên cây lương thực, đất
chuyên cây thực phẩm, đất chuyên trồng cây công nghiệp hàng năm, đất trồng
cây dược liệu, đất chuyên trông cây thức an gia súc.
- Đất trồng cây lâu năm: Là loại đất để sử dụng trồng cây lâu năm có chu kỳ
sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm và phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản
mới đưa vào kinh doanh, trồng mọt lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm. Loại
đất này tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị xuất khẩu lớn, phân bổ chủ yếu ở vùng
trung du và miền núi.
- Đất cỏ dùng vào chăn nuôi: Là diện tích đồng cỏ dùng để chăn thả gia súc,
bao gồm đồng cỏ tự nhiên và cỏ trồng.
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

8


- Đất nước nuôi trồng thủy sản: Là diện tích mặt nước để nươi trồng thủy

9


- Năng suất cây trồng.
Là sản phẩm chính của loại cây trồng đó tính trên 1 ha trong 1 vụ hay một
năm. Chỉ tiêu náy phản ánh trình độ sản xuất của địa phương hay toàn nghành.
tổng sản lượng cây trồng i
Năng suất cây trồng i = -----------------------------------------Tổng diện tích gieo trồng cây trồng i
* Các chỉ tiêu bình quân.
- Bình quân đất nông nghiệp trên khẩu.
Là chỉ tiêu phản ánh bình quân 1 nhân khẩu có bao nhiêu diện tích đất nông
nghiệp.
Tổng diện tích đất nông nghiệp
BQ diện tích đất nông nghiệp trên khẩu = ----------------------------------Tổng số nhân khẩu
- Bình quân diện tích đất canh tác trên khẩu.
Tổng diện tích đất canh tác
BQ diện tích đất canh tác trên khẩu = --------------------------------Tổng số nhân khẩu
- Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên lao động.
Là chỉ phản ánh bình quân một lao động có bao nhiêu diện tích đất nông
nghiệp.
Tổng diện tích đất nông nghiệp
BQ diện tích đát nông nghiệp trên lao động = ------------------------------------Tổng số lao động
- Bình quân diện tích đất canh tác trên lao động.
Là chỉ tiêu phản ánh bình quân một lao động có bao nhiêu diện tích đất canh tác
Tổng diện tích đất canh tác
BQ diện tích đất canh tác trên lao động = -------------------------------Tổng số lao động
2.1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống


Hiện nay, nông nghiệp đang dần có bước tiến với trình độ khoa học và công
nghệ phát triển nhanh như vũ bảo, đặc biệt là công nghệ sinh học. Điều này đòi hỏi
chủ thể lao động phải có khả năng nắm bắt những chuyển biến đó và ứng dụng có
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

11


hiệu quả vào thực tiển sản xuất. Trình độ canh tác lạc hậu sẽ dẫn đến năng suất
thấp, đất đai sử dụng không phù hợp trở nên cằn cỗi, môi trường bị hủy hoại
nghiêm trọng, hiệu quả kinh tế kém, đe dọa đến sự phát triển bền vững của nông
nghiệp trong tương lai.
Con người bằng sức lao động của mình đã khai thác đưa đất đai từ sản phẩm tự
nhiên, hoang hóa vào sử dụng để nó trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu của nghành
sản xuất nông nghiệp. chính vì vậy hiệu quả sử dụng đất chịu ảnh hưởng rất lớn
bởi yếu tố người lao động. Từ xa xưa, khi trình độ của người lao động còn thấp
kém, con người chỉ dùng công cụ lao động thô sơ để khai thác độ phì nhiêu tự
nhiên của đất là chính, nên hiệu quả sử dụng đất còn thấp. Tuy nhiên ngày nay, khi
xã hội phát triển, người lao đọng không ngừng được nâng cao trình độ, nhận thức.
Vì vậy người lao động đã biết ứng dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất
nông nghiệp để khai thác, cải tạo đất đai một cách hợp lý và hiệu quả.
2.2. Cơ sở thực tiển.
2.2.1. Các quan điểm chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà
nước về ruộng đất qua các thời kỳ.
Việt Nam với hơn 83 triệu dân (năm 2005), trong đó gần 75% dân số sống ở
vùng nông thôn, khoảng 70% lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vự nông
nghiệp. Đây là lĩnh vực có vị trí hết sức quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát
triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa với nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo là nội dung cơ bản

tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đén nhóm người lao động trong các
hợp tác xã nông nghiệp.
- Chỉ thị 19-CT/TW ngày 03/05/1983 về việc hoàn thành điều chỉnh ruộng đất,
đẩy mạnh cải tiến xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp các tĩnh Nam Bộ.
- Chỉ thị 33-CT/TW ngày 31/08/1983 của bộ chính trị về giải quyết một số vấn
đề cấp bách cử ruộng đất.
- Chỉ thị 154- Hội đồng bộ trưởng tháng 10 năm 1988 của hội đồng bộ trưởng
về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất.
- Nghị quyết 10- NQ- TW ngày 05/04/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp.
- Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII ngày 30/06/1993 của Chính phủ về tiếp tục
đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
- Nghị quyết 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về giao đất nông nghiệp
cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
- Luật đất đai năm 1993
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

13


- Luật sử đổi và bổ sung một số điều luật của Luật đất đai năm 1993 ngày
02/12/1998.
Ngoài ra còn có nhiều chính sách hướng cho nông nghiệp nông nghiệp phát
triển đạt hiệu quả cao như sau:
- Chính sách diều chỉnh kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
- Chính sách đưa tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
- Chính sách bảo hộ nông nghiệp.
- Chính sách khuyến khích đầu tư.
Tất cả những chủ trương, chính sách trên ngày càng phù hợp và ổn định thì sẽ

đề tập trung thâm canh các giống cây nói trên cũng như đổi mới cơ cấu kinh tế cần
được chú trọng sao cho phù hợp với từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể. Đất
nông nghiệp của toàn huyện nhìn chung khai thác chưa đạt hiệu quả cao, nhất là
đối với các xã sản xuất nông nghiệp còn dựa vào điều kiện tự nhiên: Xã Thạch Mỹ,
Thạch Châu, Thạch Bằng, Thạch Bắc.

Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

15


PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp trên
địa bàn xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh và các loại hình sử dụng đất
nông nghiệp trên địa bàn xã.
3.2.Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu tại địa bàn xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh và các đối
tượng được xác lập ở trên.
- Rà soát các chủ trương chính sách, đề án hoặc các tài liệu liên quan đến sử
dụng đất nông nghiệp.
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Nội dung nghiên cứu.
* Tổng quan chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Thạch Mỹ, Lộc
Hà, Hà Tĩnh.
* Tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng đất nông nghiệp tại xã Thạch Mỹ,
Huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh.


17


PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Kế quả nghiên cứu.
4.1.1 Tình hình cơ bản của xã Thạch Mỹ:
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
* Vị trí địa lý.
Thạch Mỹ là một xã thuộc vùng đồng bằng huyện Lộc Hà cách trung tâm huyện
lị 4km về phía Tây Nam, có tổng chiều địa dưới hành chính là 20,48km và tổng
diện tích tự nhiên của toàn xã đạt 1012,48km2.
- Phía bắc giáp xã An Lộc và xã Thịnh Lộc.
- Phía tây giáp xã Thạch Sơn huyện Thạch Hà
- Phía đông giáp xã Thạch Châu.
* Địa hình.
Là một xã thuộc vùng Tây Nam huyện Lộc Hà, thuộc đồng bằng ven biển
nhưng địa hình xã Thạch Mỹ lại không bằng phẳng, phía bắc có núi Bằng Sơn,
phía Tây có sông Đò Điệm. Địa hình không đồng nhất và kéo dài do địa hình được
cấu tạo bởi sông biển nên thường tạo thành cồn cát phía gần sông và những đầm hồ
ngập nước thuận tiện cho việc nuôi tròng thyur hải sản.
* Đất đai.
Xã Thạch Mỹ có tổng đất tự nhiên là 1012,42km 2 nhìn chung đất đai khá đa
dạng và được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, như đất cát, đất phèn, đất mặn,
đất phù sa cổ. Tỷ trọng đất nông nghiệp đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp chiếm
tỷ trọng khá cao đạt 91,63% trong tổng diện tích đất nông nghiệp năm 2008, năm
2009 đạt 91,64% và năm 2010 tỷ lệ đất đạt 91,68%. Tỷ lệ đất chư sử dụng vản còn
chiếm tỷ lệ khá cao 90,4 ha năm 2010.
*Khí hậu.

Nhìn chung các loại đất của xã có biến động không ổn định qua các năm điều
này được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 1: QUY MÔ,CƠ CẤU ĐẤT ĐAI XÃ THẠCH MỸ TỪ NĂM 2008-2010
CHỈ TIÊU
Tổng diên tích tự nhiên
I. Đất nông nghiệp
II. Đất phi nông nghiệp
III. Đất chưa sử dụng

DT (ha)
1012,42
693,67
229,72
89,03

2008
(%)
100
68,52
22,69
8,79

2009
DT (ha)
1012,42
691,52
232,02
88,88

(%)


19


68,30%, tổng diên tích đất tự nhiên 2010 là 688,06 ha chiếm 67,96%. So sánh diện
tích đất nông nghiệp năm 2008 với 2010 thì diện tích đất này giảm 5,61 ha tương
ứng giảm 0,81%, nguyên nhân là do số diện tích đất nông nghiệp này chuyển sang
đất phi nông nghiệp cụ thể là đất chuyên dùng, đất nghĩa trang, nghĩa địa. Với xu
hướng đất nông nghiệp giảm trong khi đó số lao động nông nghiệp của toàn xã còn
chiếm tỷ trọng cao nên gây khó khăn cho sản xuất của xã.
Diện tích đất phi nông nghiệp củng chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng đất
tự nhiên của toàn xã năm 2008 là 229,72 ha chiếm 22,69%, năm 2009 là 232,02
chiếm 22,92%, năm 2010 diện tích đất phi nông nghiệp tăng và đạt 23,11% tương
ừng với 233,96 ha, so sánh năm 2010 với 2008 thì diện tích đất phi nông nghiệp
tăng 4,24 ha tương ứng với 1,85%, nguyên nhân tăng lên của diện tích đất phi nông
nghiệp là do nhu cấu của đất ở, giao thông thủy lợi… ngày càng tăng cao.
Đất chưa sử dụng của xã chiếm tỷ lệ thấp nhất trong tổng diện tích đất tự nhiên
của toàn xã, năm 2008 là 89,03 ha chiếm 8,79%, năm 2009 là 8,88 ha chiếm
8,72%, năm 2010 diện tích đất chưa sử dụng được tăng lên và đạt 90,40 ha chiếm
8,93%, so sánh năm 2010 với 2008 thì diện tích diện tích đất chưa sử dụng của
toàn xã tăng lên 1,54% tương ứng là 1,37 ha, nguyên nhân của hiện tượng diện tích
đất chưa sử dụng tăng lên là do việc chu chuyển đất, đo đạc, quy hoạch lại bản đồ
theo chủ trương chung của nhà nước.
* Tình hình dân số và lao đông xã Thạch Mỹ từ năm 2008-2010.
Qua bảng phân tích tình hình dân số và lao động của xã Thạch Mỹ từ năm
2008-2010, ta thấy được tình hình nhân khẩu của xã Thạch Mỹ trong 3 năm qua
vẩn có nhiều hướng tăng lên, năm 2010 là 7214 người so với năm 2008 thì năm
2010 tăng 70 người tương ứng với tăng 0,98%.
Tổng số hộ của xã cũng tăng lên trong 3 năm gần đây, năm 2008 là 1649 hộ,
năm 2010 là 1678 hộ trong đó số hộ nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao, nhưng tỷ

lao động chiếm 3,12% tổng số lao động của toàn xã, năm 2010 là 2013 lao động
chiếm 35,45%. Sô sánh hai năm này ta thấy được số lao động phi nông nghiệp tăng
lên 194 lao động tương ứng với 10,67%. Lao động phi nông nghiệp có xu hướng
tăng trong các năm trên là một biểu hiện có xu hướng tốt trong việc chuyển dịch cơ
cấu lao động tai địa phương theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp.
Tăng dần tỷ trọng lao động phi nông nghiệp trong cơ cấu sản xuất củng như cơ cấu
lao động toàn xã. Đây là một trong những đòn bẩy kích thích sự phát triển kinh tế
chung của địa phương.
Số khẩu bình quân trên hộ, qua 3 năm là trên 3 khẩu/hộ trong khi đó số lao
động chính trong mỗi hộ da phần là 3 lao động /hộ ở đều cả 3 năm. Như vậy bình
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

21


quân mỗi người làm phai nuôi hơn một miệng ăn, đây không phải là vấn đề đắng
quan tâm lớn của chính quyền địa phương xã. Nhưng vấn đề đật ra ở đây là chính
quyền nên có những biện pháp thích hợp để đảm bảo công ăn việc làm thường
xuyên cho người dân, đặc biệt trong thời gian nhàn rổi trong sản xuất nông nghiệp.
Cần phải mạnh dạn hơn nữa trong việc chuyển dịch kinh tế, phát triển mạnh nhiều
làng nghề truyền thống của xã như: Làm hương, làm chổi… tạo ra nhiều công ăn
việc làm cho nơi đây. Đồng thời với việc phát triển kimh tế cần phải tích cực bồi
dưởng phát huy nhân tố con người, xem con người là động lực to lớn và trung tâm
cho sự phát triển kinh tế xã hội. Được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 2: TÌNH HÌNH DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG CỦA XÃ THẠCH MỸ TỪ
NĂM 2008-2010
2008
CHỈ TIÊU
1. Tổng số khẩu


Cơ cấu

Người
Hộ
Hộ
Hộ



Người/ km2

lượng
7144
1649
1319
330
5492
3673
1819
162,88

(%)
100,00
100,00
79,99
20,01
100,00
68,88
33,12

165,74

(%)
100,00
100,00
79,08
20,92
100,00
64,55
35,45
-

Khẩu/hộ
LĐ/hộ

4,33
3,33

-

4,35
3,33

-

4,30
3,38

LĐ/ hộ NN


110,67
101,76

-

-0,03
0,05

99,31
101,50

-

0,53

123,77

(Nguồn: Ban thống kê xã Thạch Mỹ )
* Tình hình cơ sở hạ tằng phục vụ cho sản xuất và đời sống.
Với phương châm nhà nước và dân cùng làm, công tác xây dựng cơ sở vât chất
kỷ thuật của xã Thạch Mỹ trong những năm qua đã làm được một khối lượng công
trình khá lớn.
a). Về giao thông:
hệ thống đường gaiao thông trên địa bàn xã Thạch Mỹ chủ yếu là đường bộ, đó
là hệ thống đường liên thôn với tổng chiều dài 38,9km, đã được xã rải nhựa và bê
tông hóa gần 78,80%. Hệ thống giao thông nội đồng cũng được mở rộng và năng
cấp chủ yếu là đường đất.
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống


Cơ sở hạ tằng cũng được xã chú ý đầu tư. Chất lượng giáo dục ngày càng được
năng cao, học sinh giỏi ngày càng nhiều, năm 2008 trường Tiểu học Thạch Mỹ đạt
chẩn Quốc gia.
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

23


4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp xã Thạch Mỹ năm 20082010.
Trong những năm gần đây tình hình thời tiết diển biến rất phức tạp gây ảnh
hưởng rất nhiều đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh sản xuất nông
nghiệp ở đay còn dựa nhiều vào điều kiện tự nhiên nên gặp rất nhiều khó khăn
trong sản xuất, gây ảnh hưởng không ít đến năng suất và sản lượng cây trồng. Tuy
nhiên có sự nổ lực của chính quyền nơi đây, cùng với quyết tâm vượt khó của bà
con nông dân thì hiệu quả sản xuất nông nghiệp của toàn xã cũng từng bước được
cải thiện và năng cao.
Tổng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản từng bước tăng qua các năm, cụ thể
như sau: Năm 2008: 12752,66 triệu đồng; năm 2009 tăng lên và đạt 13207,03 triệu
đồng; năm 2010 tiếp tục tăng lên và đạt 17124,16 triệu đồng. So sánh năm 2010 và
năm 2008 ta thấy được tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất nông nghiệp của toàn
xã Thạch Mỹ.
Sản lượng lương thực có hạn (lúa, ngô, lạc, vừng) quy ra thóc có xu hướng
giảm. So sánh năm 2010 và năm 2008 ta thấy sản lượng loại này giảm 323,4 tấn,
giảm tương ứng 10,05%. Nguyên nhân là do sản lượng hàng năm của cây đậu, cây
vừng giảm mạnh nên kéo sản lượng trên giảm theo. Một nguyên nhân quan trọng
dẩn đến sản lượng giảm là do thời tiết hạn hán, lũ lụt thường xuyên xẩy ra, đã làm
cho mùa màng mất mát, thậm chí là mất trắng như vụ mùa. Chính vì sự giảm sút
sản lượng này cùng với tình hình nhân khẩu cũng giảm theo, tương ứng các năm
là: Năm 2008 là 450,65kg/người; năm 2009 là 442,76kg/người. So sánh năm 2010

450,65
13000
2810
410
1100
1300

13207,03
3187
442.76
12000
2800
399
1101
1300

17124,16
2895,40
401.36
19000
3000
380
1140
1480

2010/2008
+/%
4371,50 134,28
-323,40 89,95
- 49,20

pn]ơng cùng với bà con nông dân nơi đây.
4.1.3. Đánh giá chung về tình hình cơ bản ảnh hưởng tới sử dụng đất nông
nghiệp.
4.1.3.1. Thuận lợi:
- Thạch Mỹ là một huyện đồng bằng của huyện Lộc Hà có tổng diện tích đất tự
nhiên và diện tích đất nông nghiệp trung bình của huyện, giao thông đi lại thuận
tiện cho việc sản xuất lưu thông.
- Đất đai sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất , cơ bản và tập trung sản
xuất một số cây trồng chính như: Lúa, khoai lang, lạc, đậu, nên có điều kiện
chuyên canh, thâm canh tăng năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất.
- Cơ sở vật chất hạ tằng được năng cấp xây dựng ngày càng nghiều và ngày
càng hoàn thiện như: Điện – đường – trường – trạm, các công trình phúc lợi, các
lĩnh vực văn hóa xã hội đều được các cấp các nghành và nhân dân quan tâm, đây là
cơ sở phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống vật chất tinh thần
cho nhân dân.
- Nguồn lao động khá dồi dào, chất lượng lao động có trình độ tay nghề và kinh
nghiệm sản xuất nông nghiệp khá đồng đều, tình hình an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội được đãm bảo. Nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp cơ bản được
Giáo viên hướng dẩn: PGS-TS Lê Văn Nam
Sinh viên thực tập: Lê Bình Thống

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status