Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
MỞ ĐẦU
Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của mọi
sinh vật và loài người trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động
kinh tế xã hội, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế trong
ông nghiệp, là yếu tố quan trọng bậc nhất cấu thành lên bất động sản và thị
trường bất động sản. Đất đai còn là một trong những bộ phận lãnh thổ của
mỗi một quốc gia. Chính vì vậy mà Điều 1, chương I, luật Đất đai có ghi
“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước
giao đất cho các tổ kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ
chức chính trị xã hội (gọi chung là tổ chức) , hé gia đình và cá nhân sử dụng
ổn định lâu dài...”
Đất nông nghiệp là một thành phần cấu tạo nên quỹ đất nên phải có những
giải pháp hợp lý trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là đất để canh tác và những mảnh đất này có các điều
kiện thuận lợi. Đất nông nghiệp có rất Ýt nên vấn đề cải tạo và quản lý đất
nông nghiệp là vấn đề cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu để vạch ra những hướng quản lý, từ đó sẽ sử
dụng đất đảm bảo hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý đất đai của Nhà
nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu để người đọc hiểu được rõ thực trạng về đất
nông nghiệp ở nước ta để cùng nhau bảo quản và sử dụng hợp lý quỹ đất
nông nghiệp.
Đề tài được nghiên cứu với các phương pháp duy vật biện chứng và
phương pháp duy vật lịch sử.
Phương pháp phân tích tổng hợp.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam.
Với toàn bộ quỹ đất nông nghiệp, thực trạng sử dụng đất và những giải pháp
về sử dụng đất nông nghiệp.
Mét trong những nhiệm vụ cơ bản của việc phát triển kinh tế nông
nghiệp đến năm 2000 mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra tại Đại hội toàn
quốc lần thứ VII là: “Sản xuất nông nghiệp đi vào chuyên canh kết hợp với
kinh doanh tổng hợp nhằm đạt giá trị cao nhất trên một đơn vị diện tích.
2
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
Thâm canh tăng vụ là chính và mở thêm diện tích ở những nơi có điều kiện.
Tăng sản lượng lương thực đủ nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu.
Đất nông nghiệp là người ta nghĩ ngay đến vấn đề sử dụng đất vào sản
xuất các ngành nông nghiệp, bởi vì trên thực tế có trường hợp đất đai được sử
dụng vào những mục đích khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó,
đất đai được sử dụng chủ yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp
mới coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là loại đất khác (tuỳ theo việc sử
dụng vào mục đích nào là chính).
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ, hợp lý ruộng đất trên thực tế người ta
coi đất đai có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần
có đầu tư lớn nào là đất nông nghiệp cho dù nó đã đưa vaof sản xuất nông
nghiệp hay chưa. Vì vậy, trong Luật Đất đai năm 1993, Điều 17 ghi rõ:
“Khoanh định các loại đất nông nghiệp ..... điều chỉnh việc khoanh định cho
phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội trong phạm vi từng địa
phương và cả nước. Những diện tích đất đai phải qua cải tạo mới đưa vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp được coi là đất có khả năng nông nghiệp.
Nhà nước xác định mục đích sử dụng chủ yếu của đất nông nghiệp là sử dụng
vào sản xuất nông nghiệp. Song, do đặc điểm tính chất từng loại đất này có sự
khác nhau, dẫn đến tác dụng sử dụng cụ thể cũng khác nhau, người ta chia đất
nông nghiệp thành 4 loại sau đây:
- Đất trồng cây hàng năm: là toàn bộ diện tích thực tế trồng các loại cây
mà thời gian sinh trưởng và tồn tại thường không quá 1 năm như đất trồng
điểm tự nhiên, khí hậu cận nhiệt đới và thảm thực vật nhiệt đới đa dạng nên
sản xuất nông nghiệp ở nước ta cũng đan dạng và phong phú, miền Bắc với 4
mùa rõ rệt nên việc sản xuất nông nghiệp cũng mang tính thời vụ theo 4 mùa,
còn ở miền Nam 2 mùa (mưa và khô) nên việc sản xuất lúa nước rất thuận lợi
cũng như trồng các loại cây công nghiệp có tính chiến lược cao như cao su,
tiêu, cà phê, .... Để khai thác hợp lý đất nông nghiệp cần phải có biện pháp
kết hợp khoa học với truyền thống áp dụng đổi mới để việc sử dụng đất trong
nông nghiệp đạt hiệu quả tốt nhất.
3.vai tro.
Đất nông nghiệp là loại đất phù hợp cho trồng cây lương thực, cây hoa màu
và chỉ trồng trên đất nông nghiệp thì mới đạt hiệu quả cao, đảm bảo cho sự
4
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
tồn tại, duy trì và phát triển của các loại cây lương thực, hoa màu này. Phát
triển kinh tế nông nghiệp chủ yếu do quỹ đất nông nghiệp và tính chất đất đó
là yếu tố cơ sở, nền tảng và làm tiền đề cho sự phát triển này.
Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng đối với
việc phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp có nhiệm vụ bảo đảm
lương thực, thực phẩm cho toàn dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp,
đẩy mạnh xuất khẩu, xây dựng cơ sở vật chất, tạo thêm việc làm, nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, mở rộng thị trường, ổn định xã hội
và bảo vệ an ninh quốc gia, tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Để đảm bảo được các vấn đề nêu trên thì đất nông nghiệp phải đảm bảo
trú trọng hàng đầu. Bởi vì quỹ đất đai tự nhiên là không thay đổi song do nhu
cầu phát triển của xã hội đã làm cho đất nông nghiệp bị thu hẹp lại, do đó cần
phải có các chính sách đảm bảo quỹ đất nông nghiệp luôn luôn đủ để đáp ứng
vùng của đất nước.
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội
nhưng là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên đối với mỗi ngành cụ thể
trong nền kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau.
Trong ngành công nghiệp (trừ ngành khai khoáng) , đất đai làm nền
tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Trong nông nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng là yếu tố hàng
đầu của ngành sản xuất này. Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao
động mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con
người vào cây trồng đều dùa vào đất đai và thông qua đất đai. Đất đai sử
dụng trong nông nghiệp được gọi là ruộng đất. Trong nông nghiệp, ruộng
đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được, Ruộng
đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Con người lợi dụng
một cách có ý thức các tính chất tự nhiên của đất đai như lý học, hóa học,
sinh vật và các tính chất khác để tác động lên cây trồng.
Đất đai là một trong những bộ phận lãnh thổ của mỗi một quốc gia. Nói
đến chủ quyền của mỗi quốc gia là phải nói đến những bộ phận lãnh thổ,
trong đó có đất đai.
6
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
III.Những nhân tố ảnh hưởng tới việc quả lý và sử dụng đất nông
ngiệp.
1. Cơ cấu dân số.
Tỷ lệ dân số nông nghiệp và phi nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới
việc quản lý đất đai bởi vì tỷ lệ đó phản ánh mức độ, nhu cầu sử dụng đất
đai cho hoạt động sản xuất và đời sống của dân cư. Một đặc trưng khác nữa
* Do tốc độ của đô thị hóa nhanh do vậy có ảnh hưởng rất lớn tới việc
thiết lập các hồ sơ tài liệu địa chính bao gồm:
- Thống kê tổng hợp diện tích các loại đất theo loại đất và theo thành
phần quản lý sử dụng.
- Lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất ở các loại tỷ lệ.
- Hoàn chỉnh hệ thống bản đồ địa chính, thiết lập sổ mục kê, sổ đăng
ký thống kê đất đai tới từng chủ sử dụng.
* Quá trình lập quy hoạch kiến trúc chịu tác động mạnh mẽ của quá
trình đô thị hóa.
III. QUỸ ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA.
Đất nước chúng ta trải dài từ Bắc đến Nam với việc phân thành 7 vùng
kinh tế để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp
nói riêng.
Quỹ ruộng đất là tổng thể về diện tích ruộng đất trên một vùng lãnh thổ
theo mét ranh giới nhất định, nằm trong phạm vi một đơn vị sản xuất (hộ gia
đình, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp ....) của một địa phương như xã,
huyện, tỉnh hay cả nước.
Tổng quỹ đất nông nghiệp ở Việt Nam là: 7.637.710 ha, đối với mỗi
đơn vị sản xuất, mỗi địa phương quỹ đất nông nghiệp là có giới hạn về mặt
diện tích. Đặc trưng của các loại quỹ đất được quy định bởi đặc điểm của đ.
Trong đó, đặc điểm có tính hữu hạn về số lượng đất đai và tính vô hạn về sự
sinh lời của đất đai chi phối một cách rõ rệt nhất.
Tuy nhiên, trong các quỹ đất, quỹ đất tự nhiên mang tính bao trùm và
được phân thành các loại khác nhau. Mỗi loại đất hình thành mỗi quỹ riêng
(trong đó có quỹ đất nông nghiệp). Vì vậy, quỹ đất nông nghiệp và một số
quỹ đất chuyên dùng khác có sự biến động nhất định. Sự biến động của quỹ
đất nông nghiệp sẽ diễn ra theo hai hướng.
Hướng thứ nhất: Thu hẹp quỹ đất nông nghiệp do quá trình đô thị hoá,
do sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, do sự hình hành các
chuyển đổi các loại cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như
nâng cao hiệu quả kinh tế của cây trồng. Mặt khác, do sự phát triển của hệ
thống kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là của hệ thống giao thông đã mở ra
9
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
khả năng giao lưu hàng hoá làm cho việc chuyển sang trồng các loại cây
trồng khác mang tính thiết thực hơn như cây ăn quả và cây công nghiệp.
Vấn đề giao thông phải thật sự cải thiện tốt, đảm bảo cho sự vận
chuyển thuận lợi nhanh chóng để đưa ccc sản phẩm ra thị trường trao đổi thì
mới tránh được hình thức sản xuất tự cung - tự cấp tại mỗi địa phương.
Trong quỹ đất trồng cây lương thực cũng như quỹ đất trồng các loại
cây trồng khác đã dần dần thay thế những cây trồng có chất lượng thấp bằng
cây có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao theo hướng khai thác lợi thế của
vùng. Ví dụ: Ngay trong ngành trồng lúa xu thế thay các loại lúa có năng suất
cao nhưng chất lượng thấp bằng các loại lúa cổ truyền có chất lượng cao ngày
càng tăng.
Trong quỹ đất đai của cả nước, quỹ đất nông nghiệp đứng thứ 3 về tỷ
trọng và có xu hướng tăng trong thời kỳ 1980 trở lại đây. Nguyên nhân chủ
yếu là do tác động của cơ chế quản lý và sử dụng đất đai đã tạo động lực để
người nông dân tích cực khai hoang, tăng vụ mở rộng diện tích... đưa đất đai
vào hoạt động nông nghiệp. Với những chính sách của Nhà nước đã từng
bước cải tạo Đồng Tháp Mười, cải tạo đất ở Đồng bằng sông Cửu Long đã
làm tăng quỹ đất nông nghiệp.
Quỹ đất nông nghiệp có sự biến động theo xu hướng tỷ trọng đất trồng
cây hàng năm giảm dần từ 86,4% năm 1980 xuống còn 72,5% năm 1997; tỷ
trọng đất trồng cây lâu năm tăng dần từ 7,9% năm 1980 lên 18,98% năm
1997.
5.463,8
5.553,80
2. Đất trồng cây lâu năm
3. Đất trồng cỏ
2
549,5
272,2
8
804,8
328,6
1.045,2
342,3
1.347,7
221,0
1.449,60
132,50
10
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
4. Đất có mặt nước dùng
Ở Việt Nam căn cứ vào các yếu tố tự nhiên của đất đai là chủ yếu,
người ta phân quỹ đất đai thành 7 vùng lãnh thổ. Đất Nhà nước phân theo 7
vùng đó như sau:
* Vùng Trung du miền núi phía Bắc:
Đất nông nghiệp có 1.201.437 ha chiếm 11,67% so với tổng quỹ đất tự
nhiên của vùng. Đất nông nghiệp ở đây chủ yếu trồng cây hàng năm (lúa rẫy,
sắn, đậu, đỗ....). Phần lớn đất nông nghiệp ở vùng này là cây công nghiệp dài
ngày (chè, cà fê, ....) và cây ăn quả. Nhờ thành tựu phát triển sản xuất lương
thực của cả nước, nhờ các cơ sở hạ tầng của vùng đang từng bước được củng
cố và xây dựng nên khả năng chuyển đổi cây trồng và khai thác nông nghiệp
của vùng còn rất lớn.
11
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
* Vùng Đồng bằng sông Hồng:
Đất nông nghiệp có 664.638 ha, chiếm 56,56% so với tổng diện tích
toàn vùng. Đất trong vùng được hình thành và bồi tụ thường xuyên bởi phù sa
của hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình nên địa hình tương đối bằng
phẳng, chất lượng đất tốt, rất phù hợp cho việc trồng lúa. Vì vậy, vùng Đồng
bằng sông Hồng được coi là vựa lúa ở các tỉnh phía Bắc. Do quá trình đô thị
hoá, dân số Đông nên đất nông nghiệp bị giảm mạnh.
* Vùng Khu Bốn cũ:
Đất nông nghiệp 676.707 ha chiếm 13,1% diện tích toàn vùng. Đất đai
ở đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Bởi vậy,
việc mở rộng quỹ đất nông nghiệp của vùng gắn với đầu tư xây dựng các cơ
sở hạ tầng, nhất là các cơ sở hồ, đập đã và đang trở thành cần thiết.
* Vung duyên hải miền Trung:
Đất nông nghiệp chiếm 604.956 ha chiếm 12,05% so với quỹ đất tự
nhiên của vùng. Vùng này có sự biến động đất nông nghiệp tương đối lớn
nước, vùng có sản lượng lương thực và sản lượng lương thực hàng hoá lớn
nhất trong cả nước. Bên cạnh đó tiềm năng về đất đai của vùng cũng còn rất
lớn. Đất chưa sử dụng chủ yếu là đất nông nghiệp và được tập trung ở vùng
Đồng Tháp Mười và khu Tứ Giác Long Xuyên. Để khai thác tiềm năng này
cần đầu tư một cách đồng bộ cả về kinh tế và xã hội, từ khai hoang cải tạo đất
đến xây dựng được các kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật. Giải quyết được các
vấn đề đó việc khai thác mở ra rất lớn, vùng sản xuất lúa hàng hoá sẽ được
mở rộng.
2.2 Phân bố đất nông nghiệp theo cây trồng.
Trong tổng số 7.637.710 ha đất nông nghiệp của cả nước, đất trồng cây
hàng năm có 5.553..889 ha, đất trồng cây lâu năm chiếm 1.449.607 ha. Còn
lại là đất đồng cỏ và đất mặt nước có sử dụng vào nông nghiệp.
Trong đất trồng cây hàng năm, đất trồng lúa chiếm tỷ trọng lớn hơn cả.
Tổng diện tích trồng lúa năm 1994 là 4.230.077 ha chiếm 54,42% diện tích
đất nông nghiệp. Đất trồng lúa chủ yếu tập trung ở hai vựa lúa của cả nước là
trồng lúa ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Đất trồng
lúa của Đồng bằng sông Hồng là 581.460 ha, của Đồng bằng sông Cửu Long
13
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
là 1.957.977 ha chiếm 60,03% diện tích trồng lúa cả nước. Đây không chỉ là
vùng có diện tích lớn nhất, mà còn là vùng có điều kiện đất đai thuận lợi cho
trồng (đất phù sa màu mỡ, điều kiện tưới tiêu thuận lợi). Vì vậy, hai vùng này
có sản lượng lúa cao nhất trong cả nước.
Đứng thứ hai trong diện tích cây hàng năm là đất trồng màu và cây
công nghiệp hàng năm vào thời điểm 1994 diện tích màu và cây công nghiệp
hàng năm là 1.075.175 ha, chiếm 19,68% đất trồng cây hàng năm và 14,59%
đất nông nghiệp. Trong đất chuyên trồng màu, đất trồng ngô ngày càng tăng
đồng ruộng, ... trên thực tế ruộng đất lại bị lãng phí trong quản lý và sử dụng
chế độ sở hữu tập thể và mô hình hợp tác kiểu cũ đã làm cho nông dân không
thiết tha với ruộng đất lắm, không tạo ra động lực vật chất để thúc đẩy họ tích
cực sản xuất. Kiểu “Cha chung không ai khóc” dẫn đến kém hiệu quả, sản
xuất bị trì trệ do không nhận ra điểm bất hợp lý đó nên sau 1975 mô hình này
lại áp dụng vào miền Nam mà không tính đến sự khác nhau giữa nông
nghiệp và nông thôn miền Nam và miền Bắc. Vì quyền sở hữu ruộng đất
15
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá chứ không phải nền kinh tế tự cung tự
cấp như ở miền Bắc trước khi hợp tác hoá ruộng đất từ chỗ có chủ nhân cụ
thể, trực tiếp có kinh nghiệm sản xuất nay chuyển sang sở hữu tập thể dẫn
đến phát triển nông nghiệp chậm chạp , trì trệ cả khi coi nông nghiệp là hàng
đầu. Từ thực tế Đảng ta đã dẫn thấy rằng cần phải khắc phục mô hình kiểu cũ
tìm tòi các bước đi và hình thức thích hợp , phấn đấu để thoát khỏi ràng buộc
của các quan niệm lỗi thời.
Năm 1979, Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 đã cho phép xã viên
mượn đất làm vụ đông, khuyến khích nông dân tận dụng đất hoang để sản
xuất, tạo thêm sản phẩm cho xã hội. Năm 1981, Ban Bí thư TW Đảng ra chỉ
thị số 100 cho phép áp dụng rộng rãi chế độ khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động thực chất là đến hộ gia đình xã viên. Ruộng đất của tập thể
song hé gia đình được giao đảm bảo nhận nhiều khâu trong canh tác có thể
đầu tư thêm công sức, vật tư, kỹ thuật để tăng sản lượng. Năm 1986, Đại hội
VI đã đề ra đường lối đổi mới trong đó có đổi mới về quản lý, cơ chế khoán.
Với Nghị quyết 10 Bộ chính trị (4-1988) về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp. Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân nhưng nông dân đã được giao
khoán ruộng đất ổn định dài hạn trong khoảng 10-15 năm. Cùng với Nghị
quyết 10 của Bộ chính trị thì tháng 3/1989, Hội nghị Trung ương VI đã tiến
Trong nội bộ từng vùng cũng có sự khác nhau về tình hình quản lý biến
động chủ sử dụng đất, nhìn chung ở vùng ven đô thị tình hình biến động phức
tạp hơn vùng sâu, xa.
* Về quản lý biến độn mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
Hiện nay nội dung này còn một số bất cập:
Thứ nhất: trong xu thế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, một mặt chúng ta đang khuyến khích quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn mà xu hướng chung là tăng tỷ trọng cây công
nghiệp, cây ăn quả, các loại thuỷ hải sản cao cấp ,.... cho phù hợp với nhu cầu
của thị trường. Song mặt khác, Luật đất đai còn hạn chế việc chuyển đất trồng
lúa, trồng lương thực thành đất nuôi trồng các sản phẩm khác.
Thứ hai: trên quan điểm bảo toàn lương thực quốc gia, pháp luật đã
giới hạn việc chuyển đất trồng cây lương thực chủ yếu là đất trồng lúa sang
17
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
nuôi trồng các sản phẩm khác. Song trên quan điểm đảm bảo tăng hiệu quả
kinh tế thì ta lại khuyến khích nuôi trồng các loại sản phẩm có giá trị kinh tế
cao, đang được thị trường chấp nhận chưa có cơ chế thích hợp để giải quyết
mâu thuẫn này.
Thứ ba: chóng ta muốn quy hoạch sử dụng đất để đảm bảo lợi Ých
quốc gia cao nhất nhưng lại chưa có cơ chế để buộc các chủ sử dụng đất tuân
theo quy hoạch. Trong quyền tự do kinh doanh theo cơ chế thị trường, các
chủ sử dụng đất nông nghiệp được giao 5 quyền: chuyển nhượng, chuyển đổi,
thừa kế, thế chấp, cho thuê thì chính quy hoạch là một quá trình quản lý Nhà
nước đối với đất nông nghiệp. Song thực tế Nhà nước quy hoạch một đường
thì nông dân làm một nẻo. Điển hình là Tây Nguyên, Trung du và miền núi.
Ở Tây Nguyên, để đảm bảo cân bằng sinh thái ta chủ trương không tiếp
Về việc giải quyết tranh chấp:
Đây là vấn đề quan trọng trong nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
đã được quy định trong Luật đất đai năm 1993. Từ sau khi có Luật đất đai
năm 1993 , Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, tình hình tranh chấp ruộng đất
xảy ra khá nhiều ở hầu khắp các vùng, từ đó đến nay, nhất là khi có Luật đất
đai năm 1993 các Nghị định của Chính phủ về đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất ở, ... Đảng và Nhà nước các cấp đã nỗ lực giải quyết ở các nơi có
sự khác nhau, nhưng đều dùa trên nguyên tắc là có cơ sở pháp lý và bảo đảm
thuận tình giữa các hộ nông dân.
Cho đến nay có thể khẳng định công tác giải quyết tranh chấp đất đai
trong nông nghiệp, lâm nghiệp đã được thực hiện với kết quả tốt vừa tạo điều
kiện tiền đề để sử dụng ruộng đất đạt hiệu quả cao vừa tôn trọng các thành
qủa của các giai đoạn cách mạng về ruộng đất trước đây vừa đảm bảo ổn định
chính trị, xã hội trong nông thôn.
3. Các chính sách về quản lý và sử dụng ruộng đất
Chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ đã tạo ra sự chuyển biến rõ
rệt trong nền nông nghiệp phân phối và tổ chức lại đất đai , tù do hoá việc ra
quyết định sản xuất nông nghiệp mở cửa thị trường đầu vào và đầu ra. Thừa
nhận hộ nông dân là đơn vị cơ bản của sản xuất nông nghiệp. Dưới tác động
của chính sách đổi mới Luật đất đai năm 1993 ra đời đặc biệt là Luật đất đai
19
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
năm 1998 sửa đổi tuỳ theo mục tiêu cụ thể của chính sách được cụ thể hoá
dưới các dạng văn bản pháp lý được Chính phủ ban hành đến các địa phương.
Các chính sách sử dụng đất phải đảm bảo vừa phát triển về kinh tế, vừa
ổn định về xã hội. Sử dụng đầy đủ và hợp lý ruộng đất tạo ra nhiều nông sản
có chất lượng cao, giá hạ, đáp ứng đầy đủ sản lượng ngày càng tăng của dân
thuộc vào đặc điểm của đất nông nghiệp, chiến lược sản phẩm của Nhà nước
hay là mục tiêu phát triển của ngành.
Thực tế là vùng Tây Nguyên có khí hậu Êm áp hai mùa rõ rệt cộng với
địa thế của cao nguyên GiaLaiKonTum, Đăklăk, Lâm Đồng đều là đất đỏ
bazan màu mỡ nên bố trí trồng các cây công nghiệp như cà phê, cao su, ...
vừa đảm bảo được diện tích lâm nghiệp, ngoài ra còn bố trí trồng các cây
công nghiệp ngắn ngày như; mía đường, tiêu. Đối với vùng Đông Nam Bộ
cũng vậy đất chủ yếu là bazan, khí hậu Êm áp phù hợp với cây công nghiệp
đặc biệt là cao su. Đây là vùng có diện tích trồng cao su lớn nhất trong nước.
Đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đất đai ở đây màu mỡ, khí
hậu cận nhiệt đới Êm áp, thuận lợi cho việc trồng lúa nước và các cây ăn quả
cao cấp như nhãn, xoài, ... ngoài ra còn là vùng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
thuận lợi.
Vùng Duyên hải miền Trung có khí hâụu khắc nghiệt nên cần bố trí có
hệ thống rừng phòng hộ để đề phòng thiên tai và sự cố môi trường, trồng các
loại cây lâu năm.
Ở vùng khu Bốn cũ, vùng này khí hậu cũng thay đổi theo mùa lại chịu
ảnh hưởng khắc nghiệt giữa hai vùng Nam- Bắc nên thường hay có thiên tai
lũ lụt, do đó cần bố trí cây trồng kèm lẫn rừng phòng hộ, chú ý có thể xen
canh gối vụ, ngoài hai vụ lúa mùa và chiêm có thể bố trí được một vụ hoa
màu lương thực như rau mùa đông, khoai Đông xuân, ngô, ...
Vùng Đồng bằng sông Hồng ngoài chịu ảnh hưởng của thời tiết địa
hình ở đây cũng phức tạp, bên cạnh diện tích đất trồng lúa còn có diện tích
đất bãi trồng màu, các cây lương thực ngô, khoai, ... ngoài ra còn vùng rộng
lớn đất chiêm trũng. Vì vậy việc bố trí cây trồng ở đây rất đa dạng tuỳ thuộc
vào từng địa phương cũng như vùng ven thành phố Hà Nội nhu cầu cung cấp
cho thành phố về rau màu là rất nhiều nên cần bố trí trồng cây rau màu.
21
22
Kho tài liệu miễn phí Ketnooi.com
Khai hoang là quá trình đầu tư cải tạo đất hoang (đất chưa sử dụng)
biến đất đai là sản phẩm của tự nhiên thành sản phẩm của xã hội để đưa vào
sản xuất nông nghiệp.
Đối với nước ta khai hoang không những nhằm sử dụng đầy đủ và hợp
lý đất đai để tăng thêm sản phẩm cung cấp cho xã hội, mà còn có ý nghĩa to
lớn như góp phần tích cực vào cải thiện tình hình phân bố lực lượng sản xuất,
lực lượng lao động giữa các vùng, xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện,
sản xuất nhiều nông sản hàng hoá, nâng cao đời sống cho nhân dân làm thay
đổi bộ mặt kinh tế văn hoá ở vùng dân téc Ýt người, tăng cường củng cố quốc
phòng.
Nhận thức được vấn đề trên, trước sức Ðp về việc tăng dân số, trong
nhiều năm qua, đất nước ta có nhiều cố gắng trong việc tổ chức khai hoang
xây dựng vùng kinh tế mới như Tây Nguyên, Sông Bé, Đồng bằng sông Cửu
Long, Sơn La, .... Vì vậy công tác khai hoang đã thu được những kết quả nhất
định, diện tích đất nông nghiệp ngày càng tăng, nhiều vùng kinh tế mới đã
hình thành, bộ mặt nông thôn miền núi đã có nhiều thay đổi.
Trong khai hoang phải chú ý đến tính hiệu quả về kinh tế, chọn khu
vực hợp lý đặc biệt để khai hoang, phải chú ý đến môi trường để tránh những
hậu quả xấu.
4. Về tăng vụ.
Tăng vụ là tăng thêm số lần trồng trọt trên diện tích ruộng đất, trên
thực tế tăng vụ vừa thực hiện khai thác đất đai theo chiều rộng và theo cả
chiều sâu vì nó vừa đưa diện tích vào sản xuất tăng đồng thời đầu tư thêm các
yếu tố vật chất để khai thác đất đai trong trường hợp này tăng vụ chính là
hình thức thâm canh trên diện tích hiện có. Vì vậy tăng vụ chỉ có ý nghĩa thực
ĐBS
KBC
nước
8.072,6
1.471,8
H
727,1
761,9
nghiệp
Đất trồng trọt
Cây hàng năm
- Trồng lúa
7.367,8
5.809,2
4.332,5
1.177,0
972,7
595,8
675,9 716,2
644,8 528,0
2.727,4
556,7 673,3 1.007,9 2.561,8
474,7 333,2
569,9 2.215,9
266,4 156,
293,7 2.009,6
208,3
4
176,
276,2
260,3
8
1.558,6
204,3
31,1 118,2
82,0 340,1
438,0
396,2
248,7
56,4
27,2 48,3
15,6
308,6
46,2
51,2
III
IV
Tổng khối lượng
Giá trị (triệu USD)
0,472
1,376
1,082
0,750
3,680
900
1,383
1,237
0,647
0,703
3,790
1.005
0,850
1,370
1,545
0,795
4,560
1.035
III. Những tồn tại và nguyên nhân đối với việc sử dụng đất nông nghiệp ở
nước ta.
1. Những tồn tại.
Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng về ruộng đất cũng như việc ra