Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản thông qua hoạt dộng ngoại khóa cho học sinh tại một số trường trung học phổ thông - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HÀ MẠNH LINH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC
KHỎE
SINH SẢN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO
HỌC SINH
TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

HÀ NỘI, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

HÀ MẠNH LINH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC
KHỎE
SINH SẢN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO
HỌC SINH
TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm


và trường THPT Đoàn Thượng, Huyện Gia Lộc, Tỉnh Hải Dương đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu này.
Cuối cùng, xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp. Những người đã luôn động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, Tháng 9 năm 2015
Tác giả
Hà Mạnh Linh


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AH

: Adolescent health research - Nghiên cứu sức
khỏe thanh thiếu niên
AIDS
: Acquired immunodeficiency syndrome - Hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người do nhiễm
virus HIV
BLTQĐTD
: Bệnh lây truyền qua đường tình dục
CSSKSS
: Chăm sóc sức khỏe sinh sản

: Trung học phổ thông
VTN
: Vị thành niên


DANH MỤC CÁC BẢNG


DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vị thành niên (VTN) chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số. Trên thế
giới, VTN chiếm khoảng 17,5% dân số. Ở Việt Nam, theo tổng điều tra dân số
năm 1999, quy mô dân số cả nước là 76.324.000 người, trong đó VTN có 17,3
triệu chiếm khoảng 1/5 dân số [3]. Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa
gia đình (KHHGĐ) năm 2005 cho thấy, VTN từ 10 đến 19 tuổi chiếm 21,2%
[30]. Tỷ lệ này trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 là 18,7% [4].
Thời kỳ VTN là một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển cơ thể, đặc
trưng bởi sự thay đổi lớn cả về tâm lý và sinh lý [24]. VTN là giai đoạn chịu
tác động của nhiều yếu tố, gồm yếu tố cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội.
VTN rất nhạy cảm với những thay đổi của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội.
Những thay đổi đó có tác động lên thái độ, hành vi và liên quan tới sức khỏe
trong giai đoạn VTN cũng như giai đoạn tiếp theo trong tuổi trưởng thành. Đặc
điểm của tuổi VTN là tò mò, thích khám phá, thích tự khẳng định mình và có
xu hướng muốn thoát ly khỏi sự quản lý của bố mẹ. Đây cũng là lứa tuổi đang
phát triển để hình thành nhân cách, có nhiều yếu tố tâm lý quan trọng được
hình thành trong giai đoạn này [89].
Do đời sống kinh tế - xã hội ngày càng được cải thiện và sự tác động

không gây được sự chú ý tham gia và lĩnh hội kiến thức của HS. Vì vậy, để
nâng cao nhận thức cho HS về SKSS cần phải có thêm những biện pháp giải
quyết được sự mâu thuẫn giữa nội dung kiến thức lớn, số lượng người học
đông với thời gian dành cho việc triển khai hạn chế. Biện pháp cần mang tính
tập trung, chuyên sâu và gây được sự chú ý cho người tham gia.
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học được chứng
minh có nhiều ưu điểm như: tạo cơ hội đào sâu, mở rộng và củng cố kiến
thức cho người học; tăng khả năng vận dụng những kiến thức lý thuyết
trong thực tế; tăng cơ hội đối thoại, trao đổi, tranh luận; tạo được không khí

10


tích cực và hưng phấn cho người học; có tính tập trung cao. Đồng thời hình
thức này cũng giúp giải quyết mâu thuẫn giữa lượng kiến thức lớn với thời
gian triển khai hạn chế.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu giải pháp nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản thông
qua hoạt dộng ngoại khóa cho học sinh tại một số trường trung học phổ
thông ở thành phố Hà Nội và tỉnh Hải Dương”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
1) Tiến hành biện pháp can thiệp thông qua HĐNK nhằm nâng cao kiến
thức, thái độ và hành vi về SKSS của HS tại trường THPT Hoài Đức B, huyện
Hoài Đức, Thành phố Hà nội và trường THPT Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc,
tỉnh Hải Dương.
2) Đánh giá hiệu quả của biện pháp can thiệp tại hai trường: trường
THPT Hoài Đức B, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội và trường THPT
Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dữ liệu khoa học

cao chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ cá nhân liên quan đến
SKSS, chứ không chỉ đơn thuần là khám, điều trị các bệnh liên quan đến
sinh sản và BLTQĐTD.
1.1.1.3. Nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản
Những nội dung của SKSS đã được mô tả trong bản kế hoạch hành
động của Quỹ dân số Liên hiệp quốc. Việt Nam cũng đã công nhận, cam kết
thực hiện và chi tiết hóa thành mười nội dụng chính có liên quan mật thiết với
nhau theo những vấn đề ưu tiên sau đây: làm mẹ an toàn, giảm nạo hút thai,
nạo hút thai an toàn, SKSS vị thành niên, các bệnh nhiễm khuẩn qua đường
12


sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS, công tác
thông tin, giáo dục, truyền thông về SKSS [38].
1.1.1.4. Tình dục, sức khỏe tình dục, tình dục an toàn.
* Tình dục:
Tình dục bao hàm nhận thức và cảm xúc về cơ thể mình và cơ thể
người khác, khả năng và nhu cầu gần gũi về tình cảm với một ai đó, những
suy nghĩ và tình cảm giới tính, cảm giác hấp dẫn tình dục với người khác giới
và các tiếp xúc tình dục từ động chạm đến giao hợp [24, 43].
* Sức khỏe tình dục:
Năm 2006, WHO sử dụng khái niệm “Sức khỏe tình dục là trạng thái
thoải mái về thể chất, tình cảm, tinh thần, và xã hội liên quan với hoạt động
tình dục và không chỉ đơn thuần là không có bệnh, rối loạn chức năng hay
thương tật” [96, 97].
* Tình dục an toàn:
Khái niệm phổ biến về tình dục an toàn là “Quan hệ tình dục an toàn là
các hành vi QHTD có bảo vệ để phòng tránh có thai ngoài ý muốn và phòng
tránh bệnh lây truyền qua QHTD kể cả HIV/AIDS” [10]. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, thuật ngữ quan hệ tình dục an toàn đề cập đến QHTD giao hợp

khác nhau như: tiêm chích, truyền máu, sử dụng các dụng cụ y tế chưa
được tiệt trùng có nhiễm HIV, da bị xây xát dính máu, mủ, dịch tiết sinh
dục của người nhiễm HIV, thụ tinh nhân tạo, ghép cơ quan của người cho
đã bị HIV/AIDS.
Lây truyền HIV từ mẹ sang con trong quá trình thai sản: nguy cơ trẻ sơ
sinh bị lây nhiễm HIV từ mẹ có HIV/AIDS là khoảng 20-30%. Sự lây truyền
HIV từ mẹ sang con có thể xảy ra trong lúc mẹ đang mang thai do HIV từ
máu mẹ đi qua nhau thai sang thai nhi hoặc khi đẻ con, có thể do nước ối,

14


dịch tử cung, âm đạo có chứa HIV thấm qua các vết xây xát rất nhỏ trên cơ
thể con hoặc chui vào mũi, mắt miệng đứa trẻ.
+ Các cách phòng tránh HIV/AIDS:
Giải pháp phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường tình dục : dùng
BCS đúng cách khi QHTD qua đường âm đạo. Tránh tiếp xúc với dịch và
máu của cơ quan sinh dục của bạn tình trong trường hợp QHTD không
giao hợp (vuốt ve, ôm ấp, v.v.).
Giải pháp phòng tránh lây nhiễm HIV qua đường máu: sử dụng loại bơm
kim tiêm sử dụng một lần rồi bỏ. Nếu bơm kim tiêm sử dụng lại thì phải khử
trùng bằng cách đun sôi trong nước 20 phút. Khử trùng các dụng cụ y tế. Trong
các hoạt động hàng ngày, nếu có sự va chạm với vùng máu chảy của người khác
thì sát trùng vết thương bằng chất khử trùng rồi băng lại cẩn thận. Không dùng
chung bàn chải đánh răng, dao cạo râu hoặc các dụng cụ chích, xăm, rạch da.
Giải pháp phòng tránh lây nhiễm HIV từ mẹ sang con: đến các phòng
khám và tư vấn, trong khi mang thai và sau khi sinh con. Sử dụng thuốc dự
phòng lây truyền HIV. Áp dụng các biện pháp điều trị dự phòng trong khi đẻ.
Tuân theo các tư vấn về biện pháp nuôi con cho bà mẹ nhiễm HIV. Sử dụng
sữa thay thế cho sữa mẹ. Tuân thủ các quy trình khám và xét nghiệm cho trẻ

chửa ngoài dạ con.
Hậu quả của phá thai còn có thể dẫn đến nhau tiền đạo hoặc nhau cài
răng lược mà kết quả thường là chết con, thậm chí dẫn đến chết mẹ. Phá thai
không chỉ ảnh hưởng đến việc mang thai và sinh con của người phụ nữ mà
còn ảnh hưởng đến sức khỏe của những đứa trẻ được sinh ra sau này hay sự
tổn thương về mặt tâm lý của người phụ nữ [10, 35]
* Các biện pháp tránh thai:
Dựa vào cơ chế tác dụng người ta có thể phân loại các BPTT thành ba
nhóm chính:

16


Nhóm ức chế quá trình chín và rụng trứng: nhóm này bao gồm việc sử
dụng các loại thuốc tránh thai (còn được gọi là biện pháp hóa học), gồm thuốc
viên tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai, thuốc viên tránh
thai khẩn cấp.
Nhóm ngăn cản không cho tinh trùng gặp trứng: đối với nam là dùng
bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo, thắt ống dẫn tinh. Đối với nữ là dùng mũ
đậy tử cung, thắt ống dẫn trứng.
Nhóm ngăn cản sự làm tổ của trứng trong dạ con: gồm việc sử dụng
các dụng cụ tử cung (vòng tránh thai) [35].
1.1.1.7. Tình hình công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản
* Tình hình công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản trên thế giới:
Nền kinh tế xã hội của các nước trên thế giới phát triển rất khác nhau
nên tình hình về CSSKSS cũng rất khác nhau. Ở nhiều nước như Châu Âu,
Bắc Mỹ, Nhật Bản và một số nước phát triển khác, các cá nhân và các cặp
vợ chồng đã có thể làm chủ được khả năng sinh sản của mình. Nghĩa là họ
chủ động được việc sinh con và sinh mấy con, thực tế trong vòng 35 năm
trong độ tuổi sinh đẻ (15 đến 49) họ chỉ mất 5 đến 6 năm cho việc sinh và

BPTT hiện đại góp phần quan trọng để cả nước có tỷ suất sinh giảm từ 3,8 con
(năm 1989) xuống còn 1,92 con (năm 2006) [10, 39].
Theo tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam là một trong những nước triển
khai các chương trình CSSKSS sớm và có hiệu quả. Bao gồm các chương
trình y tế quốc gia như: chương trình làm mẹ an toàn, chương trình
DS/KHHGĐ, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng. Các chương trình
này đều được triển khai có hiệu quả, sức khỏe của bà mẹ và trẻ em được nâng
lên đáng kể. Tuy nhiên, ở những vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc
biệt khó khăn thì tỷ lệ sử dụng BPTT còn thấp chỉ đạt 60%, có tới 56,3% phụ

18


nữ có thai chưa được khám lần nào trong suốt thời kì mang thai và chỉ có 42%
sản phụ được các nhân viên y tế chăm sóc khi sinh nở [10, 44].
1.1.2. Vị thành niên và sức khỏe sinh sản vị thành
niên
1.1.2.1. Khái niệm vị thành niên
VTN là giai đoạn phát triển chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn và
đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần, tình cảm và
khả năng hòa nhập cộng đồng.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1998) VTN là những người nằm
trong độ tuổi từ 10 – 19. Tuy nhiên, một số tác giả chia tuổi VTN thành các giai
đoạn nhỏ hơn [24, 43].
Do mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên
cứu trong phạm vi là HS THPT, đối tượng chủ yếu thuộc nhóm tuổi từ 15 - 18
tuổi, nên chúng tôi sử dụng thuật ngữ VTN để thay cho đối tượng nghiên cứu.
1.1.2.2. Một số thay đổi của cơ thể ở tuổi vị thành niên
Thời kì VTN được đặc trưng bởi sự phát triển nhanh cả về mặt trí tuệ
và thể lực, thời kì này có nhiều biến động về mặt tâm lý và sinh lý. Những

* Thay đổi về tâm lý:
Do tác động của hoocmon dẫn đến những thay đổi về thể chất cũng như
những cảm xúc giới tính và thay đổi về tâm lý, cách cư xử. Những thay đổi về
tâm lý có thể khái quát trong 4 lĩnh vực sau:
Tính độc lập: VTN thích tách ra khỏi gia đình, sinh hoạt bạn bè nhiều
hơn, ít phụ thuộc vào bố mẹ, đôi khi chống lại bố mẹ để chứng tỏ tính độc lập
của bản thân [24].
Tình cảm: tình cảm của trẻ thường mạnh mẽ, thay đổi thất thường, dễ
ngộ nhận giữa tình bạn và tình yêu, học cách biểu lộ tình cảm. Giai đoạn này
VTN rất dễ rơi vào trạng thái chán nản khi niềm tin bị đổ vỡ [28].
20


Trí tuệ: khả năng thu thập và tích lũy các kiến thức từ nhà trường, xã hội
phát triển mạnh. VTN thường thích lập luận, suy diễn, nhìn sự vật theo quan
điểm lý tưởng hóa [24].
Về nhân cách: giai đoạn này, VTN thường cố gắng khẳng định rằng
mình đã lớn và có khả năng độc lập, cương quyết. Tuy nhiên các em dễ tự ái
và dễ bị kích động [24].
1.1.2.3. Khái niệm sức khỏe sinh sản vị thành niên
SKSS VTN là những nội dung về SKSS liên quan, tương ứng với lứa
tuổi VTN, đó là một trạng thái hoàn hảo của VTN về thể chất, tinh thần và xã
hội trong mọi khía cạnh liên quan đến bộ máy sinh sản cũng như quá trình và
chức năng của nó chứ không phải chỉ có bệnh tật hay khuyết tật của bộ máy
sinh dục. Nhìn chung, các vấn đề trong SKSS cũng là các vấn đề của SKSS
VTN nhưng được ứng dụng cho phù hợp với VTN [8, 35, 40].
1.1.2.4. Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên
Chăm sóc SKSSVTN là sự phối hợp các biện pháp kỹ thuật, dịch vụ
nhằm nâng cao chất lượng SKSS của VTN, làm cho sự hoạt động và chức
năng của bộ máy sinh sản được hoàn thiện, khoẻ mạnh hơn (bao hàm cả sức

hơn nam [81].
Hiểu biết, thái độ và thực hành liên quan đến HIV/AIDS trong VTN đã
được ghi nhận là khá tốt theo kết quả của nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, vẫn
còn một tỷ lệ nhỏ VTN (khoảng 10%) cho rằng HIV có thể lây qua ôm, hôn
nhau, ăn chung bát đĩa, bắt tay, dùng chung nhà vệ sinh [2, 5, 35].
Việc kém hiểu biết về giới tính, SKSS ở tuổi VTN có thể dẫn đến nạo
phá thai do mang thai ngoài ý muốn hoặc mắc các BLTQĐTD ở VTN, gián
tiếp đưa các em vào các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến học vấn, sức khoẻ và
tương lai của VTN.

22


1.1.2. Cơ sở lý luận về các biện pháp nâng cao kiến
thức về sức khỏe sinh sản
1.1.2.1. Khái niệm về kiến thức, thái độ và hành vi
* Kiến thức:
Kiến thức là khả năng nhận ra ý nghĩa, bản chất, lý lẽ của sự việc bằng
sự vận dụng trí tuệ. Hiểu được ý nghĩ, tình cảm, quan điểm của người khác về
tình hình, lĩnh vực nào đó. Kiến thức có được thông qua quá trình giáo dục,
thông tin, truyền thông, bằng cách tác động bởi các yếu tố bên ngoài và bằng
ngay chính năng lực của bản thân con người [46].
* Thái độ:
Thái độ là những biểu hiện bên ngoài bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói,
hành động hay là những biểu hiện của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối
với một sự việc nào đó (thái độ đồng tình, không đồng tình, ủng hộ hay
không ủng hộ) [46].
* Hành vi:
Hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra
bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định. Có thể

gặp về SKSS trong lứa tuổi VTN, khi tiến hành giáo dục cần phải nắm vững
những nội dung cụ thể và cần nhấn mạnh, chuyển tải các thông điệp, định
hướng thái độ, hành vi cho các em. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí của VTN,
nội dung giáo dục SKSS bao gồm:
- Giáo dục sinh lý kinh nguyệt, giáo dục sinh lý thụ thai, các biện pháp
tránh thai, những điều kiện và dấu hiệu có thai.
- Giáo dục về cấu tạo cơ quan sinh dục, vệ sinh bộ phận sinh dục, vệ
sinh kinh nguyệt ở em gái.
- Giáo dục về tình bạn, tình yêu lành mạnh.
- Những nguy cơ do thai nghén sớm, nguy cơ có thai ngoài ý muốn.
24


- Giáo dục về tình dục an toàn, lành mạnh, phòng chống bệnh nhiểm
khuẩn đường sinh sản, phòng chống lây nhiễm BLTQĐTD và HIV/AIDS.
- Giáo dục về quyền được chăm sóc SKSS.
1.1.2.3. Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản thông
qua hoạt động ngoại khóa
* Khái niệm hoạt động ngoại khoá:

Hoạt động ngoại khoá (HĐNK) “Là dạng hoạt động của HS ngoài giờ
lên lớp chính thức, ngoài phạm vi qui định của chương trình bộ môn. Hoạt
động này được gắn với những yêu cầu, nội dung của các môn học để có tác
dụng bổ sung, hỗ trợ cho giáo dục chính khóa, góp phần phát triển và hoàn
thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng cho HS” [27].
* Mục tiêu của hoạt động ngoại khóa:
Mục tiêu của hoạt động ngoại khóa gồm:
Về giáo dục nhận thức: giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng những tri
thức đã học trên lớp, giúp HS vận dụng tri thức đã học vào giải quyết những
vấn đề thực tiễn đời sống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status