TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
======
PHẠM THỊ NGỌC LINH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỌC PHẦN
HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG 1 NHẰM TĂNG CƯỜNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa Vô cơ
Hà Nội – 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
======
PHẠM THỊ NGỌC LINH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỌC PHẦN
HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG 1 NHẰM TĂNG CƯỜNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa Vô cơ
Người hướng dẫn khoa học
TS. Đăng Thị Thu Huyền
3. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 2
4. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 2
6. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 2
7. Giả thuyết khoa học .................................................................................. 3
8. Đóng góp mới của đề tài ........................................................................... 4
PHẦN 2: NỘI DUNG ...................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN....................................... 5
1.1.Tổng quan về vấn đề tự học .................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm tự học ............................................................................. 5
1.1.2. Các kĩ năng tự học........................................................................... 5
1.1.3. Quy trình tự học .............................................................................. 6
1.1.4. Các hình thức tự học ....................................................................... 7
1.1.5. Tác dụng của tự học ........................................................................ 8
1.2. Tổng quan về bài tập hóa học ................................................................ 9
1.2.1. Khái niệm về bài tập hóa học .......................................................... 9
1.2.2. Vai trò của bài tập hóa học.............................................................. 9
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học .............................................................. 13
1.2.4. Vận dụng kiến thức để giải bài tập hóa học .................................. 15
1.2.5. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay........................ 16
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP .......................................................... 18
2.1. Bài tập chương 2: Cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn. .......... 18
2.1.1. Bài tập về hạt nhân nguyên tử........................................................... 18
Dạng 1: Bài tập về đồng vị ..................................................................... 18
Dạng 2: Bài tập về độ hụt khối, năng lượng liên kết hạt nhân ............... 20
Dạng 3: Bài tập về phản ứng hạt nhân ................................................... 21
2.1.2. Bài tập về thuyết lượng tử Planck và đại cương về cơ học lượng tử 23
Dạng 1: Bài tập về thuyết lượng tử Planck............................................. 23
KẾT LUẬN .................................................................................................. 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 107
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hóa học Đại cương 1 là một học phần cơ bản trong chương trình đào tạo đại học
của ngành Hóa học trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Học phần này gồm 3 nội
dung chính là:
+ Chương 2: Cấu tạo nguyện tử - Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học
+ Chương 3: Cấu tạo phân tử - Liên kết phân tử
+ Chương 4: Tinh thể.
Việc học hiệu quả môn học này giúp sinh viên có một nền tảng vững chắc giúp ích
cho việc học tập và nghiên cứu sau này. Nắm vững lý thuyết cơ bản và vận dụng để
giải được bài tập là vấn đề cốt lõi để hiểu được môn học này. Tuy nhiên, với chính
sách mới hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chúng ta đã chuyển sang đào tạo đại
học với hình thức tín chỉ, lấy người học làm trung tâm. Hình thức đào tạo này còn
nhiều mới mẻ và yêu cầu sinh viên phải tự giác, chủ động trong học tập nhiều hơn, và
tự học là điều tất yếu.
Khả năng tự học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ý thức tự học của
sinh viên, nội dung môn học, điều kiện ngoại cảnh… Việc ý thức được tầm quan trọng
của kiến thức để rèn luyện cho bản thân là rất quan trọng cho khả năng tự học. Đó
không phải là việc ghi ghi, chép chép, học thuộc lòng những gì thầy nói trên lớp hay
lên mạng tìm tài liệu, nó phải là kết quả lâu dài của việc hiểu kiến thức và vận dụng
giải bài tập.
Học tập hiệu quả các môn học nói chung, và Hóa học Đại cương 1 nói riêng, sinh
viên đòi hỏi phải dành nhiều thời gian cho việc học ở nhà, và đó không phải việc dễ
dàng với sinh viên năm nhất, những bạn vừa mới làm quen với môn học chuyên ngành
này.
các bài tập tương tự phục vụ khả năng tự học của sinh viên theo học chuyên
ngành Hóa học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết (Phân tích, so sánh, tổng hợp): Thu thập
thông tin thông qua sách vở, đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái
niệm và tư tưởng là cơ sở cho lí luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, trò chuyện với sinh viên nhằm
đánh
giá khả năng tự học của sinh viên.
Phạm Thị Ngọc Linh
2
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
- Phương pháp xây dựng hệ thống bài tập hóa học: Mỗi một dạng bài tập phù hợp
với một mục đích khác nhau. Vì thế, cần xác định được mục đích sử dụng bài tập đó để
xây dựng bài cho hợp lý.
+ Sử dụng bài tập để củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức: xây dựng các bài tập
dựa vào các công thức đã học ở lý thuyết, yêu cầu tìm các đại lượng đặc trưng
cho từng nội dung lý thuyết đã học, từ đó mở rộng vấn đề, ghép nối các nội
dung lý thuyết đề thành bài tập vận dụng.
+ Sử dụng bài tập để rèn kỹ năng: để rèn được một kỹ năng ta cần xây dựng nhiều
bài tập tương tự nhau, từ một công thức ta có thể biến đổi thành các bài tập có
dữ kiện khác nhau và yêu cầu tính các đại lượng khác nhau.
+ Sử dụng bài tập để rèn tư duy logic: xây dựng các bài tập mà khi giải cần dựa
vào tính logic của vấn đề.
Phạm Thị Ngọc Linh
4
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.Tổng quan về vấn đề tự học
1.1.1. Khái niệm tự học
Trong tập bài giảng chuyên đề: “Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường
trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học” Giáo sư - Tiến sĩ Khoa học Thái
Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là
tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích,
tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực
hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành
sở hữu của chính bản thân người học”.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng cả năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học,
cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó
của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình” [13].
Tóm lại, tổng hợp các quan điểm về tự học của các tác giả, có thể đưa ra khái
niệm về tự học như sau: “Tự học là hoạt động học hoàn toàn không có gióa viên, học
sinh không có sự tiếp xúc với gióa viên, là hình thức học tập hoàn toàn không có sự
tương tác thầy trò, do đó học sinh phải tự lực thông qua tài liệu, qua hoạt động thực tế,
qua thí nghiệm để chiếm lĩnh kiến thức”.
1.1.2. Các kĩ năng tự học
Để đạt kết quả tốt trong tự học, người tự học cần nắm vững những kỹ năng,
những tri thức đã học. Từ việc giải bài tập của thầy đến việc người học tự thiết kế
những loại bài tập cho mình giải, từ bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ
thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc
sống.
Thứ tư: Kỹ năng đọc sách.
Phải xác định rõ mục đích đọc sách, chọn cách đọc phù hợp như tìm hiểu nội
dung tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua nhưng có trọng
điểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá. Khi đọc sách cần phải tập trung chú ý,
tích cực suy nghĩ, khi đọc phải ghi chép. [15]
1.1.3. Quy trình tự học
Gồm 3 giai đoạn: Tự nghiên cứu; Tự thể hiện; Tự kiểm tra, Tự điều chỉnh.
Phạm Thị Ngọc Linh
6
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn
đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học)
và tạo ra sản phẩm có tính chất cá nhân.
- Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm
vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân
ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn
và thầy cô, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi
với bạn bè và thầy cô, sau khi thầy cô kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản
phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức).
Các hình thức tự học ở trên chúng ta thấy rằng mỗi hình thức tự học có những
mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định. Để nhằm khắc phục được những nhược điểm
của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của sinh viên giỏi hoá học chúng
tôi đề xuất một hình thức tự học mới: Tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ
trực tiếp một phần của giáo viên gọi tắt là "Tự học có hướng dẫn".
1.1.5. Tác dụng của tự học
- Tự học có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người, ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả học tập.
- Tự học là con đường khẳng định của mỗi con người. Tự học giúp con người
giải quyết được những mâu thuẫn giữa khát khao đẹp đẽ về học vấn với khó
khăn trong cuộc sống.
- Tự học là con đường đi tới mọi thành công trong cuộc sống. Tự học giúp ta chủ
động tìm hiểu, thu thập kiến thức, tự làm giàu kho kiến thức của mình.
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho con người, quá trình tự học
khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt. Kiến thức có được
là do tự học, là kết quả của sự hứng thú, đam mê, không chịu sự chi phối của
bất kỳ yếu tố nào. Đó là một quy luật tự nhiên. Sinh viên từ đó có tinh thần tự
giác, chủ động, tích cực và có thái độ đúng đắn trong học tập.
- Tự học giúp cho sinh viên tích lũy được lượng kiến thức khổng lồ của các năm
học tại trường đại học.
- Tự học của sinh viên ở trong trường đại học có vai trò quan trọng đối với yêu
cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục. [14]
Phạm Thị Ngọc Linh
8
K40C - Sư phạm Hóa học
9
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
Giải BTHH làm chính xác hoá các khái niệm, định luật Hóa học, củng cố, đào
sâu kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn thông qua các câu hỏi
hay bài toán cụ thể; chỉ khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập, sinh viên mới nắm
được kiến thức một cách sâu sắc [19].
Sự nắm vững kiến thức có thể phân biệt ở bốn mức độ nhận thức và tư duy:
Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Sinh viên nắm vững kiến thức hóa
học một cách chắc chắn khi họ được hình thành các kĩ năng, kĩ xảo vận dụng và chiếm
lĩnh kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau.
Khối lượng kiến thức giảng dạy ở bậc Đại học là vô cùng lớn, phương pháp
giảng dạy và môi trường học tập cũng khác xa bậc học phổ thông. Vì vậy, sinh viên
cần có được phương pháp học tập thích hợp để có thể tiếp thu hết khối kiến thức đồ sộ
đó. Sử dụng bài tập nhằm mục đích luyện tập kết hợp với việc nghiên cứu tài liệu giúp
sinh viên có kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của bản thân, từ đó có các
biện pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực lĩnh hội kiến thức của cá nhân.
- Cung cấp thêm những kiến thức mới và mở rộng sự hiểu biết mà không làm
nặng nề khối lượng kiến thức của sinh viên
Ngoài tác dụng củng cố kiến thức, giải BTHH còn đào sâu, mở rộng các kiến
thức đã học, cung cấp thêm cho sinh viên những kiến thức khoa học có liên quan và
mở rộng tầm hiểu biết của sinh viên mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của
sinh viên.
Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do BTHH đề ra, sinh viên có
nhu cầu tìm kiếm các vấn đề liên quan, đảm bảo lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc,
biết cách phân tích kiến thức, ứng dụng chúng vào vấn đề thực tiễn, biến kiến thức sách
có vấn đề.
Mỗi BTHH cụ thể tương ứng với một kĩ năng nhất định và đây là những kĩ năng
cơ bản, vì một bài tập không thể dàn trải cho mọi kĩ năng. Toàn bộ hệ thống gồm nhiều
BTHH sẽ hình thành hệ thống kĩ năng vận dụng toàn diện cho sinh viên. Trong hệ
thống BTHH có những loại bài tập được đầu tư nhiều hơn, vì chúng góp phần quan
trọng hơn vào việc hình thành và rèn luyện những kĩ năng liên quan đến nhiều hoạt
động giáo dục đặc biệt là kĩ năng vận dụng…
Giữa các BTHH trong hệ thống luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, BTHH
trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện BTHH sau và BTHH sau là sự cụ thể hóa, là sự
phát triển và củng cố vững chắc hơn BTHH trước. Toàn bộ hệ thống BTHH đều nhằm
Phạm Thị Ngọc Linh
11
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
giúp sinh viên nắm vững kiến thức, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng cơ bản
[18].
Trong hệ thống BTHH có những bài tập nâng cao dùng để cho các đối tượng
khá, giỏi giúp giáo viên có thể phân loại sinh viên. Hệ thống BTHH khi được xây dựng
một cách đa dạng, phong phú sẽ giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể, chuyên
biệt một cách hiệu quả.
- Phát triển kĩ năng: So sánh, quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, loại suy,
khái quát hóa, …
Mỗi BTHH đều hướng vào một kỹ năng cơ bản xác định. Việc diễn tả câu trả lời
cho mỗi bài tập đòi hỏi sinh viên phải tư duy ở các mức độ phù hợp với yêu cầu bài
toán (khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh), từ đó phát triển các kĩ năng (so sánh, quy
- Giáo dục kĩ năng tổng hợp
BTHH tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng
hợp cho sinh viên, là phương tiện thuận lợi để liên hệ lí thuyết với thực hành, học tập
với các hiện tượng của đời sống, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và
cuộc sống.
BTHH chứa đựng những vấn đề kĩ thuật của nền sản xuất hóa học trong việc sản
xuất vật chất phục vụ cuộc sống hiện tại và việc chế tạo các vật liệu mới làm cho cuộc
sống ngày càng tươi đẹp hơn, cuốn sinh viên theo những suy nghĩ về các vấn đề của kĩ
thuật. Ngoài ra trong BTHH còn chứa đựng những số liệu kĩ thuật, những số liệu mới về
phát minh, về năng suất lao động, sản lượng của của ngành Hóa học giúp sinh viên hòa
nhập với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật thời đại mà chúng ta đang sống.
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cách phân loại BTHH, mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu thức và có
một ý nghĩa ứng dụng nhất định.
a. Phân loại theo nội dung
Bài tập Hóa học được phân chia thành:
- Bài tập định tính: là các dạng bài tập nhận thức mà khi giải sinh viên không
cần thực hiện các phép tính phức tạp mà phải sử dụng các pháp suy luận lôgic trên cơ
sở hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật để quan sát giải thích các hiện tượng
hóa học, quá trình điều chế các chất, xác định thành phần hóa học các chất, tách, phân
biệt các chất trong hỗn hợp.
Phạm Thị Ngọc Linh
13
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
- Mức độ thông hiểu: BTHH ở mức độ này yêu cầu phản ánh đúng bản chất, ý
nghĩa kiến thức đã học (giải thích được nội dung kiến thức, diễn đạt khái niệm theo sự
hiểu biết mới của mình). Sinh viên chỉ cần nhớ lại các kiến thức đã học, thông qua các thao
tác tư duy đơn giản để trả lời một cách sáng tạo, không còn bắt chước máy móc.
- Mức độ vận dụng: BTHH ở mức độ này yêu cầu khả năng sử dụng thông tin và
biến đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác, vận dụng kiến thức trong tình huống
tương tự. Sinh viên phải áp dụng được các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề
tương tự trong cùng phạm vi nhưng đã bị thay đổi, biến đổi một phần bằng cách phối
hợp các thao tác tư duy sao cho phù hợp.
- Mức độ vận dụng cao: BTHH ở mức độ này yêu cầu sử dụng các kiến thức đã
có, nghiên cứu có hệ thống và bao quát một tình huống bằng những tiêu chí riêng, vận
dụng vào tình huống mới với cách giải quyết mới, linh hoạt, độc đáo, hữu hiệu. Sinh
viên phải tự mình tái hiện kiến thức một cách đầy đủ, chính xác và nhanh chóng, kết hợp
các thao tác tư duy một cách sáng tạo để giải quyết các vấn đề hoàn toàn mới. Loại bài tập
này thường dành riêng cho sinh viên khá, giỏi, có tư duy nhanh nhạy.
Trên thực tế còn nhiều cơ sở để phân loại BTHH, song sự phân loại chỉ mang
tính tương đối vì mỗi cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, tùy theo mỗi tiêu thức
phân loại mà ta có các dạng BTHH khác nhau.
1.2.4. Vận dụng kiến thức để giải bài tập hóa học
Vận dụng kiến thức đã học để giải BTHH là khả năng của bản thân sinh viên tự
giải quyết những vấn đề gặp phải một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp
dụng những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã có của bản thân vào các tình huống cụ
thể. Năng lực này thể hiện phẩm chất, nhân cách con người trong quá trình hoạt động
của tư duy để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức.
Năng lực vận dụng kiến thức để giải bài tập hóa học được bộc lộ qua:
trong toàn ngành giáo dục nói chung và đặc biệt là trong việc nâng cao chất lượng dạy
và học một cách toàn diện. Nội dung dạy học được thay đổi một cách hợp lý vừa đảm
bảo cung cấp đầy đủ các kiến thức trọng tâm, vừa được sắp xếp một cách có hệ thống
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực sinh viên, đặc biệt là năng lực nhận thức
và tư duy. Chương trình được xây dựng vừa đảm bảo tính khoa học (cơ bản, hiện đại),
vừa kế thừa và phát triển nội dung các môn học ở cấp dưới theo cấu trúc đồng tâm kết
hợp cấu trúc tuyến tính nhằm mở rộng và nâng cao kiến thức, kĩ năng cho sinh viên.
Chương trình môn học vận dụng các phương pháp giáo dục tích cực hoá hoạt động của
sinh viên, nhằm khơi gợi hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh
viên, tăng cường các hoạt động trải nghiệm, rèn luyện kĩ năng cho sinh viên. Cách
Phạm Thị Ngọc Linh
16
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
đánh giá kết quả giáo dục cũng được đổi mới để hỗ trợ việc phát triển phẩm chất và
năng lực cho sinh viên. Điểm mới quan trọng nhất trong Chương trình môn Hoá học là
định hướng tăng cường bản chất hoá học của đối tượng; giảm bớt và hạn chế các nội
dung phải ghi nhớ máy móc cũng như phải tính toán theo kiểu “toán học hoá” ít đi vào
bản chất hoá học và gắn với thực tiễn [20]. Định hướng đổi mới giúp sinh viên hình
thành thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng
ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Xu hướng phát triển của BTHH hiện nay chú trọng đến rèn luyện khả năng vận
dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học của sinh viên:
- Loại bỏ những bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đếnnhững
thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn nhiều phương trình, bất phương trình, phương
Trong đó: M1, M2,... Mn là số khối của các đồng vị.
x1, x2,…xn là số đồng vị, tỉ lệ số đồng vị, phần trăm số đồng vị.
Bài 1: Người ta biết rằng nguyên tử Ar tồn tại 3 loại đồng vị khác nhau ứng với các số
khối 36, 38 và A. Phần trăm số nguyên tử tương ứng của 3 đồng vị đó lần lượt bằng
0,34%; 0,06% và 99,6%. Nguyên tử khối chiếm bởi 125 nguyên tử Ar là 4997,5. Hãy:
a. Tính nguyên tử khối trung bình của Ar.
b. Xác định số khối A của đồng vị thứ 3.
Đáp án: a. M= 39,98
b. A 40.
Bài 2: Nguyên tử Mg thường có 3 đồng vị khác nhau ứng với các thành phần:
Đồng vị
%
24
25
Mg
78,6
26
Mg
10,1
Bài 4: Biết tổng số các hạt của nguyên tố X là 126, trong đó số nơtron nhiều hơn số
electron là 12 hạt.
Phạm Thị Ngọc Linh
18
K40C - Sư phạm Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
a. Tính số proton và số khối A của X.
b. Người ta lại biết nguyên tố R có 3 đồng vị X, Y, Z. Số khối của X bằng trung
bình cộng số khối của Y và Z. Hiệu số nơtron của Y và Z gấp 2 lần số proton
của hiđro. Hãy xác định số khối của Y và Z.
Giải:
2p n 126
p e 38
n - p 12
n 50
a. Ta có hệ phương trình:
Vậy số proton của X là p = 38
Số khối của X là A = p + n = 38 + 50 = 88
b. Ta có hệ phương trình:
A + AZ