TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ĐỖ THỊ DIỄM
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TRÒ CHƠI
HỌC TẬP SỬ DỤNG PHẦN MỀM
POWERPOINT 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI – 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ĐỖ THỊ DIỄM
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TRÒ CHƠI
HỌC TẬP SỬ DỤNG PHẦN MỀM
POWERPOINT 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. NGUYỄN THU HƯƠNG
Nếu có phát hiện bất kì sự sai lệch nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Diễm
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐHSP
: Đại học Sư phạm
NXB
: Nhà xuất bản
VD
: Ví dụ
C-V
: Chủ ngữ - vị ngữ
C - V - B : Chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ
MỤC LỤC
2.2 Nội dung và phương pháp khảo sát........................................................... 29
2.2.1 Nội dung khảo sát................................................................................... 29
2.2.2 Phương pháp khảo sát ........................................................................... 29
2.3 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng ....................................................... 30
2.3.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc thiết kế và tổ chức trò chơi
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi .............................................. 30
2.3.2 Thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ................. 37
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP SỬ DỤNG
PHẦN MỀM POWERPOINT 2010 ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN VÀ THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM ................ 42
3.1 Đề xuất một số trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn. ...................................................... 42
3.1.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập cho trẻ .......................................... 42
3.1.2 Hệ thống các trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 .... 45
3.2 Thử nghiệm sư phạm................................................................................ 71
3.2.1 Mục đích thử nghiệm ............................................................................. 71
3.2.2 Địa điểm thử nghiệm .............................................................................. 71
3.2.3 Nội dung và phương pháp thử nghiệm .................................................. 71
3.2.5 Giáo án thử nghiệm ................................................................................ 71
3.2.6. Kết quả thử nghiệm ............................................................................... 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền tảng ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, tạo
điều kiện cho trẻ trên con đường học hành cũng như trong cuộc sống. Trẻ em
lứa tuổi mầm non là một thế hệ tương lai của đất nước, do đó việc phát triển
Hiện nay ở các trường mầm non, việc sử dụng trò chơi vào hình thức
dạy học rất phổ biến. Tuy nhiên, thường thì các trò chơi sẽ được phục vụ cho
các hoạt động học như hoạt động làm quen môi trường xung quanh, hoạt động
làm quen với các biểu tượng toán, hoạt động tạo hình… Còn ở hoạt động phát
triển ngôn ngữ cho trẻ còn rất hạn chế. Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi học
tập vẫn phổ biến nhưng không được giáo viên chú trọng vào các hoạt động
học. Và trò chơi học tập kích thích sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ cũng vậy, nó
còn khá ít, thường thì công việc phát triển ngôn ngữ chỉ được thực hiện khi cô
trao đổi với trẻ về một điều gì đó, hoặc thông qua những cuộc đối thoại giữa
trẻ với người lớn. Giáo viên sẽ ít khi nào để ý đến việc trẻ phát ra âm thanh
của từ và hiểu ý nghĩa của từ đó có đúng hay không. Trong khi đối với trẻ ở
lứa tuổi mẫu giáo, công việc phát triển ngôn ngữ là một điều hết sức quan
trọng và đáng được quan tâm ở các trường mầm non.
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các biện pháp, phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo thì chúng tôi thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin,
đặc biệt là việc sử dụng phần mềm PowerPoint đã khiến vốn từ của trẻ ngày
càng được nâng cao và mở rộng hơn. Powerpoint 2010 xuất hiện đã có tính
năng vượt trội hơn hẳn so với PowerPoint 2003 và PowerPoint 2007, nó có
thể tạo ra những bài giảng vô cùng hấp dẫn, sinh động, lạ mắt với những giao
diện, hình ảnh đẹp, lạ mắt. Điều này sẽ góp phần kích thích hứng thú học tập,
lòng ham hiểu biết và tư duy sáng tạo của trẻ. Tuy nhiên việc ứng dụng phần
2
mềm này vào thiết kế bài giảng điện tử trong tổ chức các hoạt động nói chung
và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng còn chưa thực sự hiệu quả. Ở trường
mầm non nhiều giáo viên đã ứng dụng phần mềm PowerPoint 2010 trong
việc tổ chức các trò chơi học tập cho trẻ nhưng chưa phát huy hết tính năng
của phần mềm này. Nhiều giáo viên cho rằng: thiết kế trò chơi
Trong cuốn sách “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
(NXB ĐHQG, 2005) của Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức
đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ
và nêu sơ lược về nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát
triển vốn từ dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo” (NXB ĐHSP, 2004) là giáo trình đầu tiên đề cập
một cách toàn diện, chi tiết, tỉ mỉ và cụ thể có hệ thống các vấn đề khoa học
và thực tiễn về phương pháp phát triển tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện
trong các lớp nhà trẻ, mẫu giáo ở nước ta bằng phương pháp tiếp cận hoạt
động - nhân cách tích hợp. Đồng thời ông cũng đưa ra cách sửa lỗi phát âm và
một số trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
Hay trong Tạp chí GDMN số 01/2009, có bài “Một số biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến cũng đề cập
tới việc tạo thói quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ.
Còn nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập về vấn đề này. Tuy
nhiên chưa có tác giả nào đi sâu vào việc nghiên cứu phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint
2010 hoặc chỉ dừng lại ở việc phát triển ngôn ngữ thông qua các trò chơi học
tập. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và cùng những lí do ở trên
chúng tôi quyết định chọn vấn đề “ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
lớn thông qua trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010” làm
đề tài nghiên cứu và tìm hiểu.
4
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010
nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.1.1 Quan niệm về từ
Cho đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về Từ. Các nhà khoa học
đứng trên những phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những quan
điểm xem xét. Từ trên phương diện ngữ pháp học (phối hợp mặt ngữ âm và
mặt ngữ nghĩa) được chấp nhận hơn cả. Dưới góc độ ngôn ngữ học, các nhà
ngôn ngữ học đã định nghĩa về Từ Tiếng Việt như sau:
Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của một
ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây
dựng nên câu.
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định
và hoàn chỉnh về ý nghĩa. Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau
để biểu hiện ý nghĩa của con người. Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện
tượng đơn lẻ mà biểu thị cả một nhóm sự vật hiện tượng tập hợp lại theo một
dấu hiệu nhất định, do đó từ có tính chất khái quát cao.
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp - Từ vựng học Tiếng Việt, Hà Nội
1985: Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo
câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời” . Qua các định
nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã có quan điểm chung
về Từ Tiếng Việt ở chỗ: Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ
âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái
hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu.
1.1.1.2 Vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ
cố định của ngôn ngữ đó”. Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ
6
7
Theo tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại Tiếng Việt hiện đại”, căn cứ
vào chức năng cú pháp của từ, ông đã chia vốn từ Tiếng Việt thành hai loại
lớn, đó là thực từ và hư từ:
1. Thực từ: gồm các từ loại danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ.
2. Hư từ: gồm các loại từ định từ, phó từ, kết từ, tình thái từ.
=>Tóm lại: Từ là đơn vị cơ bản để xây dựng câu, không có từ thì không
có ngôn ngữ. Trẻ mẫu giáo được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ Tiếng
Việt sẽ có cơ hội được hình thành khái niệm về từ, hiểu được ý nghĩa của từ và
tập sử dụng vốn từ Tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp một cách chủ
động, tích cực, góp phần vào quá trình củng cố và phát triển tiếng Việt.
1.1.1.4 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi
a. Đặc điểm ngữ âm
Ở thời kỳ này trẻ hoàn hiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm
cuối, thanh đệm, thanh điệu dần dần được định vị. Trẻ phát âm đúng hầu hết
các âm vị của tiếng mẹ đẻ, kể cả các âm, vần khó (ươu, uông, iêu…)
Trẻ biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp để
phù hợp với từng hoàn cảnh, lời nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn. Tuy vậy,
ở tuổi này trẻ vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn lẫn khi phát âm một vài
phụ âm và nguyên âm( l-n, ch-tr, x-s,… uô, iê, ươ ) và thanh điệu ( ?/~).
Trẻ 3-4 tuổi hay nói chậm và kéo dài giọng, còn ậm ừ, ê, a không liên
tục, không mạch lạc.
Trẻ 4-5 tuổi ít ậm ừ, ê, a hơn, song trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm
đệm và âm cuối.
Trẻ 5-6 tuổi phạm vi tiếp xúc rộng, vốn từ và sự hiểu biết của trẻ phong
phú hơn nên trẻ phát âm đúng hơn, trẻ phát âm được những âm khó như:
loanh quanh, nghênh ngang, ngoằn ngoèo…
thường xuyên của những người xung quanh, trình độ của bố, mẹ.
* Về từ loại
Theo Xtecnơ, lớp từ loại xuất hiện nhiều và trước hết trong vốn từ của
trẻ là danh từ, động từ và sau đó mới đến các loại từ khác.
9
Theo Lưu Thị Lan ở ngôn ngữ của trẻ em mẫu giáo tỷ lệ từ loại như
tính từ, trạng từ, quan hệ từ được tăng lên, nhưng động từ lại giảm đi so với
trẻ tuổi nhà trẻ.
Nếu 3 tuổi: Danh từ chiếm 40,2%
Tính từ chiếm 7,8%
Trạng từ chiếm 2,4%
Thì ở trẻ 5 tuổi: Danh từ chiếm 35,52%
Tính từ chiếm 8,64%
Trạng từ chiếm 3,73%
Và ở trẻ 6 tuổi: Danh từ giảm 34,47% xuống 30,97%
Tính từ tăng 9,94% lên 11,64%
Trẻ mẫu giáo nói nhiều chưa phải là nói hay, vì vậy cần phải mở rộng
các từ loại để trẻ biết nói hay, biết sử dụng từ gợi cảm, từ văn học. Trẻ mẫu
giáo cũng bắt đầu bộc lộ những nét riêng: có trẻ dùng tính từ, trạng từ… nhiều
hơn những trẻ khác.
Về danh từ: nội dung ý nghĩa của danh từ được mở rộng, phong phú
hơn ở những từ có ý nghĩa rộng.
VD: từ “quả” có khoảng 15 loại quả khác nhau (cũng như từ “ cá”,
“cây”, “phương tiện giao thông”…)
Những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng, ở trẻ còn có những danh
từ mang tính văn học.
VD: áng mây, đóa hoa…
không hiểu ý nghĩa của chúng.
Vốn từ của trẻ mang tính chất cá nhân rõ rệt, cùng một lứa tuổi nhưng
có trẻ vốn từ rất nghèo nàn, có trẻ vốn từ rất phong phú. Điều đó phụ thuộc
vào sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, đặc
biệt là trình độ của bố mẹ và phụ thuộc vào những yếu tố khác.
11
c. Đặc điểm ngữ pháp
Qua điều tra vốn ngôn ngữ của trẻ các nhà khoa học đã rút ra nhận xét:
Tỷ lệ câu nói ngữ pháp, câu mở rộng thành phần, câu ghép được tăng dần
theo độ tuổi. Các câu có cấu trúc đơn giản giảm dần.
Trẻ 13-18 tháng câu 1 từ chiếm 50%, câu cụm từ chiếm 46,21%
Trẻ 19-21 tháng câu cụm từ chiếm 42,21%, câu C-V chiếm 24,29%
Trẻ 25-30 tháng câu C-V chiếm 29,42%, câu C-V-B chiếm 19,57%
Trẻ 31-36 tháng câu C-V chiếm 19,57%, câu C-V-B chiếm 22,84%
Câu ghép đẳng lập chiếm 25,57%
Trẻ đã có những tiến bộ lớn trong việc tiếp nhận và sử dụng các loại
câu trong hệ thống câu tiếng Việt, xong trẻ vẫn còn mắc một số lỗi khi cấu
trúc câu như: từ trong câu sắp xếp sai trật tự, không rõ ràng hay thiếu từ trong
câu, diễn đạt thiếu rõ ràng (VD: Trẻ nói: “Ông bà kẹo”; câu cần nói: “ Ông bà
đưa kẹo cho con”).
Bước sang giai đoạn 4-6 tuổi thì trẻ rất ít sử dụng câu 1 từ mà thường
dùng các loại câu: câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần (C-V), câu đơn mở
rộng thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.
Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng thành phần trong
từng câu đều có sự mở rộng, phát triển.
Nếu trẻ 3 tuổi nói câu đơn C-V (là một từ) VD: Áo đẹp, Hoa thơm, Kẹo ngọt…
Thì trẻ 4-6 tuổi đã nói câu có cụm từ làm chủ ngữ hoặc làm vị ngữ ( Ví
1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý
Đặc điểm phát triển ngôn ngữ: Đến tuổi Mẫu giáo lớn hầu hết trẻ đã
biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày.
Ngôn ngữ trở thành phương tiện chủ yếu để trẻ giao tiếp với những người
xung quanh và là cơ sở để cải tổ các quá trình tâm lí, giúp cho đời sống tinh
thần của trẻ có một chất lượng mới phong phú, sâu sắc hơn và hòa nhập với
xã hội tốt hơn, là phương tiện làm cho tư duy của trẻ nâng lên một trình độ
mới so với độ tuổi trước.
13
Đặc điểm phát triển về trí nhớ: Trí nhớ bắt đầu có chủ định và có tính
lôgic bắt đầu phát triển.Những gì trẻ hiểu, trẻ thích, có ý nghĩa, có ấn tượng
mạnh mẽ với trẻ thường được ghi nhớ bền vững hơn. Tuy vậy, trí nhớ máy
móc vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ.
Đặc điểm phát triển về tư duy: Tư duy trực quan hình tượng phát triển
mạnh và xuất hiện một kiểu tư duy mới- tư duy trực quan sơ đồ.
Đặc điểm phát triển về trí tưởng tượng: Trẻ có trí tưởng tượng rất
phong phú.Tưởng tượng có chủ định được hình thành.
Sự tự ý thức (ý thức bản ngã): Trẻ đã hiểu được mình là người như thế
nào? Có những phẩm chất gì? Những người xung quanh đối xử với mình ra
sao? Tại sao lại thế?
Mặt khác trẻ có thể đánh giá được sự thành công, thất bại của mình,
đánh giá được ưu điểm, nhược điểm của mình đó là cơ sở để quá trình tâm lí
chuyển dần sang quá trình có chủ định, qua đó phẩm chất ý chí được hình
thành và nhân cách của trẻ phát triển mạnh bởi nó có khả năng điều chỉnh của
bản thân trẻ.
Tiến vào bước ngoặt 6 tuổi. Tuổi mẫu giáo lớn, là thời kỳ trẻ đang tiến
vào bước ngoặt 6 tuổi với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo. Hoạt động vui
phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.
Cuối tuổi Mẫu giáo, trí tuệ, thể chất và tính khéo léo phát triển nhanh
hơn, lúc này trẻ đã biết chơi với nhau, đã học thuộc được những bài thơ, bài
hát ngắn. Vì vậy tác động tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động
đến trẻ.
1.1.3 Đặc điểm tư duy (nhận thức) của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ 5 - 6 tuổi, các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng
về cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi 4- 5 nhưng chất lượng mới hơn
thể hiện ở:
Mức độ phong phú của các kiểu loại
Mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn.
15
Tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn.
Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn
Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển
Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình phát triển tâm lý phát triển
mạnh mẽ và đặc trưng nhất đó là tư duy.
Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này là mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác
và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông
tin giữa mới và cũ, gần và xa…
* Đặc tính chung của sự phát triển tư duy:
Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà
ngay cả từ ngữ.
Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan,
hiện thực hơn.
Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư.
Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ
xem chơi như một hoạt động tự nguyện, bày ra để giải trí và hoạt động chơi là
một dạng hoạt động mang tính xã hội của con người.
Vui chơi là một hoạt động cần thiết ở mọi lứa tuổi mà trò chơi là hình
thức bày ra để vui chơi giải trí. Tác giả Lê Vũ thì cho rằng trò chơi là một
hoạt động vui chơi chứa đựng một chủ đề, một nội dung nhất định, có những
quy định bắt buộc người tham gia phải tuân theo.
Từ những cách hiểu trên chúng tôi thống nhất với quan điểm cho rằng:
Trò chơi là hình thức vật chất của chơi, hoạt động chơi mang tính chất xã hội.
Trò chơi chính là một kiểu phổ biến của chơi. Nó chính là chơi có quy luật, có
quy định rõ ràng, kết quả và yêu vầu của hoạt động có tính cạnh tranh thách
thức đối với người tham gia.
1.1.4.2 Đặc điểm trò chơi
Chơi là một hoạt động. Ngoài những đặc điểm giống với các hoạt động
khác như phương hướng, có mục đích, có sự tham gia tích cực của cả cá nhân
thì nó còn có những đặc điểm chuyên biệt sau:
17
Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ngay trong bản thân
trò chơi. Trong trò chơi, trẻ không bị ảnh hưởng bởi nhu cầu thực tiễn mà
xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ.
Trò chơi là hoạt động tự lập của trẻ và mang tính tự do, tự nguyện. Tính tự
do, tự nguyện ở các trò chơi khác nhau sẽ có những biểu hiện khác nhau.
Trong trò chơi trẻ em sẽ có những sáng kiến và đó chính là sự hiện diện
của mầm sống sáng tạo.
Trò chơi luôn mang lại sự thỏa mãn và niềm vui cho người chơi.
1.1.4.3 Phân loại trò chơi
Có rất nhiều cách để phân loại trò chơi cho trẻ em trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng.