TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
HOÀNG THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH
CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
HOÀNG THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH
CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS. TS Nguyễn Thu Hương
HÀ NỘI - 2018
Sinh viên
Hoàng Thu Huyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 5
5. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.................................................................. 5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 5
7. Cấu trúc khóa luận...................................................................................... 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN.......................... 7
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 7
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học ............................................................................... 7
1.1.2. Cơ sở tâm, sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi .................................................... 16
1.1.3. Kể chuyện và vai trò của kệ chuyện cho trẻ nghe trong việc phát triển
ngôn ngữ ......................................................................................................... 21
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 25
1.2.1. Mục đích điều tra ................................................................................. 25
1.2.2. Đối tượng và địa bàn điều tra .............................................................. 25
1.2.3. Nội dung điều tra.................................................................................. 26
1.2.4. Phương pháp điều tra .......................................................................... 26
1.2.5. Thời gian điều tra ................................................................................. 26
1.2.6. Phân tích và đánh giá kết quả điều tra ............................................... 26
CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU CHUYỆN CÓ CHỨA TỪ
TIẾNG ANH ĐƠN GIẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non hiện nay là một bậc học được đảng và nhà nước ta
quan tâm sau sắc. Bởi lẽ giáo dục mầm non là một khâu quan trọng, là nền
móng đầu tiên cho việc hình thành nhân cách của trẻ em sau này.
Bảo vệ và chăm sóc trẻ không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà nó là
trách nhiệm của toàn xã hội. Chính vì vậy hiện nay Đảng và nhà nước ta có
rất nhiều biện pháp tích cực để bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhằm tạo ra những
con người đáp ứng được yêu cầu của xã hội mới, những con người phát triển
về đức, trí, thể, mỹ nhằm đưa đất nước ngày càng phát triển. Đây là vấn đề
mang tính thời đại và cấp bách với ngành giáo dục đặc biệt là Giáo dục Mầm
non.
Thực tế hiện nay tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong xã hội. Vì
vậy việc dạy tiếng Anh cho các cấp bậc nói chung và đặc biệt là giáo dục
Mầm non nói riêng mang tính cấp bách và cần thiết, góp phần xây dựng nên
những con người hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Giáo dục Mầm
non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân vì vậy việc dạy
ngoại ngữ cho trẻ là cần thiết, tạo tiền đề cho trẻ có thể học tốt ở các cấp bậc
tiếp theo.
Xuất phát từ nhu cầu của trẻ rất thích nghe kể chuyện và được kể
chuyện vì vậy việc lồng ghép tiếng Anh vào những câu chuyện để dạy cho trẻ
sẽ gây hứng thú cho trẻ trong việc học tiếng Anh. Thay vì dạy tiếng Anh cho
trẻ theo những cách truyền thống hiện nay là cho trẻ đọc từng từ, từng từ rồi
nói nghĩa, phương pháp dạy tiếng Anh khô cứng, thiếu linh hoạt và gò bó thì
việc đưa những từ đó vào những câu chuyện sau đó kể cho trẻ nghe sẽ kích
thích sự tưởng tượng, hứng thú cho trẻ và trẻ sẽ nhớ dễ dàng hơn.
1
Mặt khác việc học tiếng Anh của trẻ ở những vùng nông thôn hiện nay
đã hướng nội dung vào việc thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy,
phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non trong đó không thể thiếu được chính là
việc phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo.
Trong cuốn giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm
non” của tác giả Đinh Hồng Thái (2006), Nxb Đại học Sư phạm chú trọng tới
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, hình thành và phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo, phát triển ngôn ngữ, vốn từ cho trẻ thông qua thơ và truyện để
tạo tiền đề tốt cho trẻ bước vào lớp 1.
Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác
giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non”
(2005) đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứa
tuổi.
Có rất nhiều các tác giả nghiên cứu các biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ tiêu biểu như EI. Tikheeva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ một cách có hệ thống, trong đó cần tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới
thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe, tác
giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo” đã đưa ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ của trẻ: Vốn từ, khả
năng hiểu từ, ngữ pháp ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu
của Lưu Thị Lan (1996) “Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 1 – 6
tuổi [19] đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ bắt đầu từ giai đoạn
tiền ngôn ngữ (0 – 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 – 6) tuổi và nhiều công trình
khác.
Báo “Người Lao Động số ngày 25/10/2015” Có viết. Hiện nay trên thế
giới có gần 60 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính bên cạnh tiếng
mẹ đẻ, gần một trăm quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2. Theo
3
và học của ngành giáo dục Mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước
ta nói riêng. Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu phát triển
vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ
nghe. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng tôi mạnh dạn
chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4
tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe nhằm phát triển vốn từ
tiếng Anh cho trẻ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Xây dựng một số câu chuyện có những từ tiếng Anh đơn giản nhằm
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi.
- Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ.
- Thực nghiệm sư phạm.
5. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi
thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe.
Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này chúng tôi giới hạn nghiên cứu
việc phát triển vốn danh từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát chung về mức độ vốn từ tiếng Anh của trẻ, môi
trường cho trẻ học tiếng Anh và dự giờ tiết học tiếng Anh buổi chiều của trẻ
để nắm được khẳ năng học tiếng Anh của trẻ, khả năng tiếp thu những từ mới
tiếng Anh và vốn từ tiếng Anh mà trẻ có.
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1. Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quan
trong nhất của con người.
Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với
một mục đích nhất định nào đó. Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng tình
cảm với nhau, tác động đến nhau, những tư tưởng, trí tuệ của người này được
truyền từ người này đến người khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác – đó là nhờ
ngôn ngữ một trong những động lực đảm bảo sự tồn tại của xã hội loài người.
Ngôn ngữ là một thứ sản phẩm độc quyền của con người. Nó chỉ được
hình thành, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu
của con người. Bên ngoài xã hội loài người ngôn ngữ không thể phát sinh.
Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người. Ngôn ngữ
là một trong hai yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con
người (Ph. Ăng-ghen). Nói cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho
các quá trình tâm lý của con người có chất lượng khác hẳn với con vật. Ngôn
ngữ đã cố định lại những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người, nhờ đó
thế hệ sau có được các sức mạnh tinh thần của thế hệ trước. Ngôn ngữ là hình
thức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là “ý thức thực tại” của con người (C. Mác).
Nó liên quan đến tất cả các quá trình tâm lý của con người, là thành tố quan
trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc tâm lý của con người, đặc biệt là các
quá trình nhận thức.
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảm
tính nó làm cho các quá trình này ở người mang một chất lượng mới.
7
tượng đang nảy sinh, tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúng
lại với nhau, cố định chúng lại bằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ. Ngôn
ngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích
cực, có kết quả và chất lượng cao. Độ tuổi 3 - 4 tuổi tưởng tượng của trẻ phát
triển cả về dạng loại và các mức độ của hình ảnh tượng tượng. Hình ảnh
tưởng tượng thường gắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi
kinh nghiệm tích lũy được ở lứa tuổi này. Ngôn ngữ có vai trò kích thích
tưởng tượng của trẻ phát triển.
Đối với việc giáo dục đạo đức.Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu
giáo, các cháu bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm, những quy tắc,
những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tuy mới chỉ là những khái niệm ban
đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định những nét tính cách
riệng biệt của mỗi con người trong tương lai. Muốn cho các cháu hiểu, và lĩnh
hội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể thông qua những hoạt
động cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tượng trực quan đơn thuần, mà phải
có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể thể hiện được đầy đủ
những nhu cầu và nguyện vọng đầy đủ của mình . Cũng nhờ có ngôn ngữ mà
các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ
đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm và
những hình vi đạo đức trong sáng nhất.
Vai trò của tiếng Anh trong đời sống trẻ thơ
Trẻ nhỏ học ngoại ngữ càng sớm càng tốt, điều này sẽ giúp trẻ hoàn
thiện một cách dễ dàng hơn cả 2 loại ngôn ngữ. Hiện nay công nghệ ngày
càng phát triển trẻ được xem, được nghe các bài hát tiếng Anh, các câu
chuyện tiếng Anh nhiều hơn, điều đó làm cho trẻ cảm thấy thú vị, hứng thú
với các bài hát tiếng Anh. Trẻ lứa tuổi mầm non thích tìm tòi khám phá những
cái mới lạ vì vậy việc trẻ được học tiếng Anh giống như trẻ được thỏa sự
10
những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh…). Từ láy bao gồm láy
đôi (tôn tốt, bối rối…), láy ba (khít khìn khịt, dửng dừng dưng…) và láy bốn
(hớt hơ hớt hải, lơ thơ lẩn thẩn…)
Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau,
các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập. Từ ghép bao gồm từ ghép
đẳng lập (đẹp tươi, to lớn, nhà cửa…) và từ ghép chính phụ (áo dài, sân bay,
chia rẽ…)
Từ tiếng Anh
Khái niệm: Từ tiếng Anh là một đơn vị để xây dựng câu, xây dựng lời
nói. Từ là công cụ hữu hiệu và cơ bản trong giao tiếp. Từ tiếng Anh bao gồm
từ có một âm tiết. Ví dụ: Cat, Dog, Pig…, từ có hai âm tiết. Ví dụ: Chicken,
sister,…, từ có ba âm tiết. Ví dụ: Decorate, concentrate…, từ có bốn âm tiết.
Ví dụ: Maturity, neccessitous…
Vốn từ tiếng Việt
Khái niệm: Vốn từ được hình thành tích lũy dần trong quá trình trưởng
thành của con người, xét trên bốn phương diện: số lượng, cơ cấu từ loại, khả
năng hiểu nghĩa của từ và việc sử dụng tích cực hay thụ động. Vốn từ của một
người chỉ có thể hình thành khi người đó sử dụng ngôn ngữ nào đó giao tiếp
trong cuộc sống và học tập. Như vậy vốn từ tỉ lệ thuận với mức độ, mật độ
giao tiếp của con người. Nói cách khác một người sử dụng một ngôn ngữ nào
đó để học tập, giao tiếp càng nhiều thì vốn từ đó càng phong phú. Vì vậy, môi
trường giao tiếp, học tập vô cùng quan trọng đối với việc hình thành vốn từ
vựng của con người.
Việc phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý
nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp.
Vốn từ cơ bản là vốn từ có tần số xuất hiện cao trong giao tiếp của trẻ.
Chính vì vậy dạy trẻ phát triển ngôn ngữ là phát triển vốn từ cơ bản cho trẻ vì
chỉ khi đó trẻ mới có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách tốt nhất.
Vốn từ của trẻ mẫu giáo phát triển rất nhanh theo từng độ tuổi cụ thể
được thể hiện ở các mặt như sau:
Về mặt số lượng:
Trẻ đã có sự phát triển về mặt số lượng từ các độ tuổi nhỏ. Đến 3 - 4
tuổi số lượng từ của trẻ cũng đạt số lượng tương đối lớn. Trẻ 4 tuổi có thể
nắm được gần 700 từ, phần lớn là danh từ, tính từ, động từ và các loại từ loại
khác. Nhưng đa phần vẫn là danh từ, động từ và tính từ còn các loại từ loại
khác đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ. Danh từ chỉ đồ dùng trong nhà, danh
từ chỉ các con vật nuôi gần gũi,…động từ chỉ hoạt động hằng ngày gần gủi
với trẻ và những người xung quanh.
Tốc độ tăng vốn từ của trẻ ở các độ tuổi khác nhau là khác nhau, tốc độ
tăng chậm dần theo độ tuổi tăng dần. Cuối 2 tuổi so với đầu 3 tuổi khác nhau,
đầu 4 tuổi so với cuối 4 tuổi là khác nhau tăng 40% - 58%, đến cuối 5 tuổi tốc
độ tăng vốn từ của trẻ giảm chỉ tăng từ 10% - 40%
Về mặt cơ cấu từ loại:
Trẻ 3 - 4 tuổi các từ loại bắt đầu xuất hiện dần dần, ban đầu các từ loại
chủ yếu là danh từ sau đó là sự xuất hiện của động từ và tính từ, các loại từ
khác thì xuất hiện muộn hơn.
Về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã xuất hiện đầy đủ các loại từ. Tuy
nhiên danh từ và tính từ xuất hiện nhiều hơn nhiều so với các loại từ loại
khác: cụ thể danh từ chiếm 38%, động từ chiếm 32%, tính từ chiếm 6,8%, đại
từ chiếm 3,1%, phó từ chiếm 7,8%, tình thái từ chiếm 4,8%, quan hệ từ chiếm
1.7%, số từ chiếm 2,5%.
13
ngày càng tăng, trẻ không dùng những âm bập bẹ mà đã bắt đầu nắm được
14
một số từ, câu nói của trẻ thường gắn liền với ngữ cảnh cùng với nét mặt, cử
chỉ, điệu bộ của trẻ.
Cấu trúc C – V là mô hình câu chủ yếu trong lời nói của trẻ. Chủ ngữ
thường là danh từ, ít khi là một loại từ khác. Còn vị ngữ chủ yếu là động từ,
danh từ ít xuất hiện, cũng đôi khi vị ngữ là tính từ.
Lời nói của trẻ 3 - 4 tuổi đôi khi chưa đủ cấu trúc C - V nhưng đa phần
là trẻ đã nói được đầy đủ cấu trúc C - V, có khi câu của trẻ có nhiều chủ ngữ,
vị ngữ đẳng lập.
Ví dụ: Hoa, Huyền đi học
Các loại câu mà trẻ thường nói:
Loại câu có chủ ngữ là danh từ: Thường là chỉ tên người, các sự vật,
hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ
Ví dụ: Lan là bạn thân của con
Loại câu có vị ngữ là động từ (là loại câu phổ biến trong câu nói của
trẻ) chủ yếu là các hoạt động gần gũi
Ví dụ: Hoa đang chạy
Danh từ, động từ, tính từ có thể phát triển thành các nhóm danh từ,
nhóm động từ, nhóm tính từ
Ví dụ: Con chim đang hót
Câu có thành phần trạng ngữ chiếm khoảng 20% trong tổng số lời nói
của trẻ và chủ yếu là trạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm
Ví dụ: Hôm nay con đi siêu thị
Trong lời nói của trẻ có nhiều câu đặc biệt và câu rút gọn
Ví dụ: Con – rút gọn vị ngữ
Có ạ - rút gọn chủ ngữ
mới chịu nói tiếp. Ở tuổi này trẻ đã biết lý luận thậm trí bắt bẻ người lớn vì
vậy hãy coi trẻ như những người lớn vì trẻ muốn được như vậy.
- Trẻ 3 - 4 tuổi ngôn ngữ của trẻ ở mức độ tiến bộ hơn cụ thể:
16
Vốn từ tăng nhanh, nói nhiều và nói câu dài hơn, câu phức tạp hơn,
thích hát, hiểu được hầu hết các từ nói được, có thể nghe câu chuyện 15 - 20
phút. Nói được tên và tuổi của mình, nói được từ khoảng 250 - 500 từ. Trẻ trả
lời được một số câu hỏi đơn giản từ người lớn. Nói được nhiều câu đơn giản
từ 5 - 6 từ và đến 4 tuổi trẻ có thể nói được những câu hoàn chỉnh, dài hơn.
Trẻ thường xuyên thường xuyên nói mà ít bị mắc các lỗi như lặp từ hoặc âm
tiết. Bắt trước hầu hết tiếng nói của người lớn. Trẻ có thể luyên thuyên suất
ngày, nói đủ rõ để người lạ có thể hiểu được. Kể được các câu chuyện tuân
theo nhiều quy tắc ngữ pháp đơn giản, sử dụng các từ “Con”, “Của con”,
“Mình” và “Bạn” mặc dù chưa hoàn toàn chính xác. Nhắc lại các từ hoặc cụm
từ mà mình được nghe thấy nhiều lần. Sử dụng đại từ nhân sưng “Con”
“Mẹ”…Biết sử dụng các từ ở số nhiều “Các em nhỏ, Nhiều đồ chơi…”
Tính tự lực của trẻ bắt đầu xuất hiện, được thể hiện ở các mặt sau:
Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi: Do trong quá trình tiếp
xúc hằng ngày với các đồ vật xung quanh, giao tiếp rộng rãi với mọi người
mà trẻ cũng có ít nhiều vốn kinh nghiệm sống điều đó tạo điều kiện cho trẻ tự
do lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào vai chơi những mảnh hiện thực mà
mình quan tâm.
Trẻ đã bắt đầu biết thiết lập các mối quan hệ rộng rãi và phong phú với
các bạn chơi, biết chọn bạn chơi, việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu
bức thiết. Ở độ tuổi 3 - 4 tuổi, một “xã hội trẻ em bắt đầu được hình thành
nhưng những xã hội trẻ em này còn khác rất nhiều với xã hội người lớn. Hợp
rồi tan, tan rồi hợp, thực và chơi, chơi và thực đó chính là nét độc đáo trong
hỏi, việc phát triển cho trẻ vốn từ tiếng anh còn giúp trẻ mở rộng các mối
quan hệ với những người nước ngoài và dần dần trẻ sẽ tiếp thu và học hỏi
được tri thức mới về văn hóa, xã hội…giúp trẻ phát triển toàn diện hơn hướng
đến việc xây dựng con người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hội
trong tương lai.
18
Đặc điểm tâm lí của trẻ 3 – 4 tuổi đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ
cả về tư duy lẫn tình cảm. Vì vậy giáo viên cần cung cấp các kiến thức và mở
rộng hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh một cách tích cực và hiệu quả
nhất để trẻ có thể khắc sâu những biểu tượng, phát huy những động cơ tích
cực và khơi dậy tình cảm mạnh mẽ của trẻ làm trẻ thêm yêu cuộc sống.
1.1.2.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ 3 - 4 tuổi
Trẻ em là một thực thể đang phát triển. Trẻ càng nhỏ thì tốc độ phát
triển ngày càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chức
năng, chúng ta có thể quan sát thấy trẻ lớn lên từng ngày. Tuy nhiên các cơ
quan và hệ cơ quan có các giai đoạn phát triển khác nhau chứ không giống
nhau và trùng nhau. Quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan và hệ
cơ quan có tác dụng rất lớn tới các quá trình tâm lý của trẻ. Vì vậy tính thích
nghi và khả năng hoạt động của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động thay
đổi đó. Không ngoại trừ những tác động đó trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi cũng có
những thay đổi đáng kể về tâm lý và thay đổi của cơ quan và hệ cơ quan.
Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị
đầy đủ để thực hiện một chức năng của mình. Trẻ mẫu giáo nhỡ quá trình ức
chế dần phát triển, trẻ có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ
xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh.
Hệ thần kinh điều khiển sự hoạt động cảu các cơ quan trong cơ thể,
phối hợp điều hòa sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghi