ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN LỘC
NGHIÊN CƢ́U ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH KHỐI
CỦA RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA MC. CLURE)
THUẦN LOÀ I TẠI XÃ VŨ LOAN, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
:
Chính quy
Chuyên ngành :
Quản lý Tài nguyên rừng
Khoa
:
Lâm nghiêp̣
Lớp
:
K45-QLTNR-N01
: Lâm nghiêp̣
Lớp
: K45 – QLTNR – N01
Khóa học
: 2013 - 2017
Giảng viên hƣớng dẫn
: TS. Trần Công Quân
THÁI NGUYÊN - 2017
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu
và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, tháng 6 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA GVHD
NGƢỜI VIẾT CAM ĐOAN
thực hiện. đề tài tốt nghiệp Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu nhà
trường, Khoá trước đại học, Khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô giáo trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Xin cám ơn cán bộ UBND xã Vũ Loan, huyện Na Rì, Hạt Kiểm Lâm
huyện Na Rì, và một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong việc thu thập số liệu ngoài thực địa, để tôi thực hiện và hoàn
thành đề tài tốt nghiệp.
Qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả sự giúp đỡ quý báu trên,
mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ chuyên môn của bản thân, thời
gian có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót. Vì vậy tôi kính mong
nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để bài của tôi
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2017
Tác giả
Hoàng Văn Lộc
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1.
Diê ̣n tích rừng Vầ u đắ ng của xã Vũ Loan .................................. 33
Bảng 4.2.
Hiện trạng về rừng Vầu tại xã Vũ Loan ..................................... 34
Bảng 4.10. Sinh khối khô cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ ......................... 47
Bảng 4.11. Sinh khối khô của cây bụi, thảm tươi và vật rơi rụng trong
lâm phần Vầu đắng ..................................................................... 49
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố bình quân số cây Vầu Đắng theo cấp
đường kính. ................................................................................ 36
Hình 4.2. Biểu đồ phân bố mật độ số cây theo cấp chiều cao. ....................... 38
Hình 4.3. Biểu đồ lượng sinh khối tươi cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ ...... 41
Hình 4.4. Biểu đồ lượng sinh khối tươi của cây bụi, thảm tươi ..................... 43
Hình 4.5 Biểu đồ sinh khối tươi lâm phần rừng Vầu đắng tự nhiên
thuần loài ................................................................................... 45
Hình 4.6. Biểu đồ lượng sinh khối khô cây Vầu đắng 3 cấp mật độ .............. 48
Hình 4.7. Biểu đồ lượng sinh khối khô của cây bụi và thảm tươi .................. 50
Hình 4.8. Biểu đồ lượng sinh khối khô của vật rơi rụng ................................ 51
Hình 4.9. Biểu đồ sinh khối khô lâm phần Vầu đắng tự nhiên thuần loài ...... 53
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CDM
: Clean Development Mechanism
(Cơ chế phát triển sạch)
: Intergovernmental Panel on Climate - Ủy ban
Quốc Tế về Biến đổi khí hậu
N
: Mật độ
LHQ
: Liên hợp quốc
ODB
: Ô dạng bản
OTC
: Ô tiêu chuẩn
SKK
: Sinh khối khô
SKT
: Sinh khối tươi
UBND
: Ủy ban nhân dân
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 24
vi
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 24
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 24
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 24
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 24
3.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 25
3.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài .................................................. 25
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể ............................................................ 26
PHÂN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CƢ́U VÀ THẢO LUẬN........................... 33
4.1. Hiện trạng phân bố của rừng Vầu đắng trên các dạng lập địa chủ yếu
tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn ................................................... 33
4.1.1. Diện tích và phân bố rừng Vầu đắng ở khu vực nghiên cứu ................ 33
4.2. Đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng khu vực nghiên cứu (cấ u trúc mâ ̣t
đô ̣, cấ u trúc số cây theo tuổ i (N - A), quy luật phân bố N/D1.3, N/Hvn ........... 34
4.2.1 Quy luật phân bố N/D ............................................................................ 34
4.2.2. Quy luật phân bố N/H ........................................................................... 36
4.3.2. Đặc điểm sinh khối khô lâm phần Vầu đắng thuần loài ....................... 46
4.4. Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững trong rừng
Vầu đắng ......................................................................................................... 53
4.4.1. Các giải pháp quản lý ở địa phương ..................................................... 53
4.4.2. Các giải pháp quản lý ở cấp cộng đồng ................................................ 54
PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ................................... 55
5.1. Kết luận .................................................................................................... 55
5.3. Kiến nghị .................................................................................................. 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
trong vòng 3 năm từ năm 2013 đến năm 2015 được thực hiện theo Kế hoạch
hành động Quốc gia REDD+ ở 6 tỉnh Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Bình
Thuận, Lâm Đồng, Cà Mau, với khoản ngân sách tài trợ không hoàn lại
khoảng 100 triệu USD.
Một loạt các văn bản pháp lý như Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày
28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp định giá các loại
rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí
điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP
ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quyết định
158/QĐ-TT ngày 02/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chương trình
2
mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó việc giảm lượng
CO2 phát thải . Mặc dù hành lang pháp lý cho việc thực hiện chi trả dịch vụ
môi trường rừng bao gồm cả khả năng lưu trữ các bon là đã có cơ sở ở
nước ta , nhưng việc thực thi còn rất nhiều cản trở do chúng ta chưa có đủ
cơ sở khoa học cũng như thực tiễn cho việc xác định khả năng lưu trữ các
bon của từng loại rừng.
Ở Việt Nam hiện nay các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung
nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu trữ các bon của một số dạng rừng trồng.
Rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng vầu , tre nứa là đối tượng có cấu trúc rất phức
tạp, do vậy việc nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu trữ các bon cho đối
tượng rừng này là rất khó khăn và cho tới nay chưa được tiến hành hoặc tiến
hành nhỏ lẻ thiếu hệ thống.
Rừng Vầu đắng là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng gỗ
nguyên sinh bị phá hoại. Vầu đắng là loài tre không gai, thân ngầm dạng
roi, thân tre mọc phân tán từng cây, phát triển rất tốt dưới tán thưa của rừng
cây gỗ nhất là ở các khe hẻm, thung lũng. Vầu đắng là loài điển hình cho
Cung cấp thêm những kết quả nghiên cứu về sinh khối của rừng Vầu
đắng tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Là tài liệu học tập và những nghiên cứu tiếp theo là cơ sở cho những đề
tài nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan.
Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, biết vận dụng vào thực tiễn
nghiên cứu khoa học phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đưa ra các giải pháp quản lý bền vững, bảo vệ và phát triển rừng
Vầu đắng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các
cấp, các ngành trong việc xác định cấu trúc sinh khối trong thực tiễn sản
xuất rừng vầu đắng tại địa phương nói riêng và cho tất cả các địa phương
có rừng Vầu đắng nói chung.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Đó là hiệp định LHQ làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở
một mức mà có thể ngăn chặn và hạn chế những biến đổi xấu của khí hậu.
Công ước LHQ về biến đổi khí hậu đó được thông qua trong hội nghị thượng
đỉnh về trái đất được tổ chức tại Rio de Janerio, 1992. Để đưa công ước này
vào hoạt động, tháng 12/1997 Nghị định thư Kyoto đã được đưa ra bàn về
giới hạn khí gây hiệu ứng nhà kính, và hiện nay công ước này đang được cụ
thể hoá.
Nghị định thư Kyoto cho phép các nước phát triển đạt được mục
tiêu/chỉ tiêu phát thải thông qua 3 cơ chế linh hoạt, gồm: Buôn bán lượng chi
dạng sinh học (Phạm Xuân Hoàn, 2005) [11].
Tại Ấn Độ, một dự án nâng cao cố định cacbon đang được thực hiện
trong thời gian 50 năm, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố định được
từ 0,4-0,6 Mt cacbon, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được 25,44
tấn, sau 12 năm có thể cố định được 41,2 tấn và sau 50 năm có thể cố định
được 8,8 tấn (tương đương khoảng 3 tấn C/ha). Tây Phi thông qua việc tăng
cường khả năng cố định cacbon của tràng cỏ Savannah (FAO, 2004) [26].
Nhìn chung, mục tiêu của các dự án về khả năng cố định cacbon biến
động rất lớn, từ 7 tấn/ha trong dự án tại vườn quốc gia Noel Kempf Mercado
ở Bolivia đến 129 tấn/ha trong dự án thực hiện tại vùng Andean ở Ecuador
(FAO, 2004) [26].
2.1.2. Quá trình quang hợp ở thực vật
Quang hợp là quá trình biến đổi chất vô cơ thành chất hữu cơ cấu thực
vật có diệp lục. Dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời. Phương trình quang hợp
của thực vật như sau: 6CO2 + 6H2O = C6H12O6 + 6O2 + Q. Đây chính là
6
phương trình chứng minh khả năng hấp thụ khí CO2 của thực vật có chứa
diệp lục.
Quang hợp là quá trình mà cơ thể thực vật biến đổi năng lượng ánh
sáng mặt trời thành năng lượng hóa học dưới dạng hợp chất hữu cơ. Bản chất
của quá trình quang hợp là sự khử khí CO2 đến Hydratcacbon với sự tham gia
của năng lượng ánh sáng mặt trời do sắc tố của thực vật hấp thu.
Ý nghĩa cơ bản của quá trình quang hợp là lấy năng lượng tự do từ môi
trường xung quanh rồi tích lũy nó dưới dạng các phân tử hữu cơ bền vững.
Vai trò có một không hai của quang hợp là làm cho CO2 (sản phẩm cuối cùng
của sự phân giải các hợp chất hữu cơ) quay trở lại đi vào chu trình các chất
trong tự nhiên tạo thành chất hữu cơ ban đầu. Không có điều đó thì không tồn
tả rừng ở trạng thái tĩnh, trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động
Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự
biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau
trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng. Nghiên cứu này đã chỉ rõ các
biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng cũng cần tiến hành theo các
giai đoạn khác nhau tùy theo sự biến đổi cấu trúc nội tại của rừng.
Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả đã có
ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng,
kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi. Richards (1952) phân rừng ở
Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24
m, 24 - 30 m, 30 - 36 m và 36 - 42 m. Thực chất việc phân tầng này chỉ là
phân chia rừng thành các lớp chiều cao khác nhau một cách cơ giới (mỗi
tầng cách nhau 6 m). Odum E. P (1971) chưa thống nhất với ý kiến cho
rằng có sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và
cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả.
Li Yiqing (1929), đã nghiên cứu dự đoán động thái cấu trúc đường kính
loài Pinus yunnaensis trên những ô mẫu định vị và cho biết: Theo điều kiện
sinh trưởng của các cây cá thể được chia ra 4 loại như tăng trưởng đường kính
8
2 cm/năm, 1 cm/năm, đình trệ sinh trưởng và chết. Hai chỉ số độ lệch đường
kính bình quân và mật độ được sử dụng để mô hình hóa phân bố đường kính,
tác giả cũng đã đưa ra mô hình phỏng theo phân bố đường kính của loài với
đối tượng rừng tự nhiên [27].
Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/Di) là quy luật cấu trúc cơ
bản và quan trọng nhất của lâm phần. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu mô tả quy
luật này, có thể dẫn ra một số tác giả với các công trình nghiên cứu sau đây.
Roemisch (1975) (theo Phạm Ngọc Giao), 1996) [8] đã nghiên cứu
9
H = a + b1.D + b2.D2;
H = a + b1.D + b2.D 2 + b3.D 3
H = a + b.logD;
H = a + b1.logD + b2.logD; H = k.Db
Khi nghiên cứu sự biến đổi theo tuổi của quan hệ giữa chiều cao và
đường kính ngang ngực, tác giả Vagui, A.B (1955) khẳng định “đường cong
chiều cao thay đổi và luôn dịch chuyển lên phía trên khi tuổi tăng lên”, và
Tiurin, A.V (1972) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan (1986), cũng đưa ra kết luận
tương tự. Prodan, M (1965); Haller, K.E (1973) cũng phát hiện ra quy luật:
“Độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên”.
Curis, R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ giữa chiều cao với đường kính và
theo tuổi theo dạng phương trình:
LogH = D + b1.
1
1
1
+ b2 . + b 3 .
D
A
D. A
nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn liệu mang tính thực tiễn và có sức
thuyết phục cao. Hệ thống lại có 3 cách tiếp cận để xác định sinh khối rừng
như sau:
Tiếp cận thứ hai để xác định sinh khối rừng là đo trực tiếp quá trình
sinh lý điều khiển cân bằng Carbon trong hệ sinh thái. Cách này bao gồm việc
đo cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái
rừng (lá, cành, thân, rễ), sau đó suy ra lượng CO2 tích luỹ trong toàn bộ hệ
sinh thái (Woodwell và Botkin, 1970) [36].
Tiếp cận thứ ba được phát triển trong những năm gần đây với sự hỗ trợ
của kỹ thuật vi khí tượng học (micrometeological techniques). Phương pháp
phân tích hiệp phương sai dòng xoáy đã cho phép định lượng sự thay đổi của
lượng CO2 theo mặt phẳng đứng của tán rừng. Căn cứ vào tốc độ gió, hướng
gió, nhiệt độ, số liệu CO2 theo mặt phẳng đứng sẽ được sử dụng để dự đoán
lượng Carbon đi vào và đi ra khỏi hệ sinh thái rừng theo định kỳ từng giờ, từng
ngày, từng năm. Kỹ thuật này đã áp dụng thành công ở rừng thứ sinh Harward
- Massachusetts. Tổng lượng Carbon tích luỹ dự đoán theo phương pháp phân
tích hiệp phương sai dòng xoáy là 3,7 megagram/ha/năm. Tổng lượng Carbon
11
hô hấp của toàn bộ hệ sinh thái vào ban đêm là 7,4 megagram/ha/năm, điều đó
nói lên rằng tổng lượng Carbon đi vào hệ sinh thái là 11,1 megagram/ha/năm
(Wofsy và cs, 1993) [35].
Lieth (1964) [28] đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ
năng suất,đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP”
(1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh
mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập
trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh.
Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “Sinh khối và năng suất sơ cấp
số măng bị thoái hóa và chết sẽ cao dẫn tới tỉ lệ mọc thành cây thấp. Tác giá
đã giải thích nguyên nhân của sự thoái hóa trên chính là do không gian dinh
dưỡng không đủ. Trong rừng tự nhiên, tuổi quẩn thể có kết cấu tăng trưởng
tăng lên nhưng theo xu thế ổn định.
Liu Jiming cũng đã nghiên cứu những đặc trưng sinh thái của quần xã
như: thành phần loài cây gỗ, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi,kết cấu tầng thứ,
chỉ số đa dạng sinh học và nhận định môi trường từng khu vực có ảnh hưởng
rõ rệt đến quần xã.
2.2.2. Những nghiên cứu ở trong nước
2.2.2.1.Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [13] thì cấu trúc rừng là một khái niệm
dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã
thực vật rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc
sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
Nghiên cứu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta, Thái
Văn Trừng (1963, 1970, 1978) (Nguyễn Tuấn Dũng 2005) đã đưa ra mô hình
cấu trúc tầng thứ như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng
dưới tán (A3), tầng cây bụi (B), tầng cỏ quyết (C). Ông đã vận dụng và cải
tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên
13
cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi thảm tươi được phóng đại
với tỷ lệ nhỏ hơn và ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những
đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình. Bên
cạnh đó tác giả này còn dựa vào tiêu chuẩn để phân chia các kiểu thảm thực
vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của thực vật trong tầng cây lập
quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng
thái mùa của tán lá. Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia
thiên nhiên và trên cơ sở khắc phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của
thiên nhiên mang lại [20].
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên cho thấy trong thời gian qua,
việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh
chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu
quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng. Tuy nhiên, các
nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy
luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng
thường thiếu yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh
rừng ổn định lâu dài.
2.2.2.2. Nghiên cứu về sinh khối
Ở Việt Nam, mặc dù là người đi sau trong lĩnh vực nghiên cứu về sinh khối
và khả năng tích lũy carbon nhưng chúng ta đã có những thành công nhất định.
Với quan điểm kế thừa có chọn lọc các phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa
học đi trước chúng ta đã vận dụng linh hoạt những phương pháp nghiên cứu đó
vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Một số nghiên cứu điển hình gồm:
Sử dụng phương pháp “cây mẫu” của Newboul D.J (1967), Hà Văn Tuế
(1994) đã nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên
liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phúc. Lê Hồng Phúc (1996), khi Đánh giá
sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất rừng Thông ba lá (Pinus
keysia Royle ex Gordon) vùng Đà Lạt - Lâm Đồng đã tìm ra quy luật tăng
15
trưởng sinh khối, cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây, tỷ lệ
sinh khối tươi/khô của các bộ phận thân, cành, lá, rễ, lượng rơi rụng, tổng
sinh khối cá thể và quần thể rừng Thông ba lá [15].
Vũ Văn Thông (1998) đã nghiên cứu cơ sở xác định sinh khối cây cá thể
và lâm phần Keo lá tràm (Acacia auriculiformis Cunn) tại tỉnh Thái Nguyên
rừng trồng cho kết quả: Rừng trồng Thông mã vĩ từ 5 - 30 tuổi sinh khối từ
21,12 - 315,05 tấn/ha; rừng trồng Thông nhựa từ 5 - 45 tuổi có sinh khối từ
20,79 - 174,72 tấn/ha; rừng trồng Keo lai từ 1 - 7 tuổi có sinh khối từ 4,09 138,13 tấn/ha; rừng trồng Bạch đàn urophylla từ 1-7 tuổi có sinh khối từ 5,67
- 117,92 tấn/ha; rừng trồng Mỡ từ 6-18 tuổi có sinh khối từ 35,08 - 110,44
tấn/ha; rừng trồng Keo lá tràm từ 2 - 12 tuổi có sinh khối từ 7,29 - 113,56
tấn/ha. Bên cạnh đó tác giả thiết lập các phương trình tương quan giữa sinh
khối với các nhân tố điều tra lâm phần: đường kính D1.3, Hvn, N/ha, tuổi lâm
phần, mối quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô, sinh khối trên mặt đất
và dưới mặt đất theo các cấp đất [10].
2.2.3. Nghiên cứu về cây Vầu đắng
Sau đây là một số nghiên cứu cụ thể về cây Vầu đắng:
* Phân loại:
Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) Vầu đắng có tên khoa
học là Indosasa sinica C.D. Chu & C.S. Chao thuộc họ Hòa Thảo Poace
Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầu đắng Indosasa.
Vũ Dũng sau khi thu nhập mẫu mô tả, đối chiếu với tài liệu và trao đổi
với chuyên gia Trung Quốc đã đề nghị thống nhất và sửa lại tên là Indosasa
angustata McClure (2001) [5].
* Đặc điểm hình thái:
Vầu đắng là loài Tre mọc tản, thân ngầm lan rộng trong đất, đường kính
1 - 3 cm. Thân khí sinh cao 17 - 20m, đường kính 10 - 12cm; cây to nhất có
thể tới 20 cm; thân non màu lục nhạt, phủ lông mềm, thưa, màu trắng, sau