TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ VI
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ
NGHỆ THUẬT BANG GIAO HẢO THOẠI
CỦA NGÔ THÌ NHẬM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ VI
TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ
NGHỆ THUẬT BANG GIAO HẢO THOẠI
CỦA NGÔ THÌ NHẬM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS. LÊ THỊ HẢI YẾN
HÀ NỘI - 2018
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................2
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..............................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................................3
6. Đóng góp của khóa luận ..........................................................................................4
7. Cấu trúc của khóa luận ............................................................................................4
NỘI DUNG .................................................................................................................5
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ................................................................5
1.1. Tình hình lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng Việt Nam thế kỉ XVIII ..................5
1.1.1. Tình hình kinh tế và đời sống của nhân dân .....................................................5
1.1.2. Phong trào nông dân rầm rộ - thế kỷ “nông dân khởi nghĩa” ...........................7
1.1.3. Về triều đại Tây Sơn .........................................................................................8
1.1.3.1. Sự ra đời của triều đại Tây Sơn ......................................................................8
1.1.3.2. Hoạt động ngoại giao thời Tây Sơn ...............................................................9
1.2. Ngô Thì Nhậm và Bang giao hảo thoại .............................................................12
1.2.1. Cuộc đời, sự nghiệp ........................................................................................12
1.2.1.1. Cuộc đời .......................................................................................................12
1.2.1.2. Sự nghiệp......................................................................................................17
1.2.2. Bang giao hảo thoại .........................................................................................19
Tiểu kết chương 1......................................................................................................20
Chương 2: BANG GIAO HẢO THOẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG ...21
2.1. Khẳng định độc lập chủ quyền đất nước ............................................................21
2.2. Giữ quan hệ hòa hiếu với nước láng giềng ........................................................27
2.3. Hình ảnh vua Quang Trung ................................................................................37
Tiểu kết chương 2......................................................................................................39
Chương 3: BANG GIAO HẢO THOẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT
...................................................................................................................................40
Tìm hiểu, đi sâu nghiên cứu Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm sẽ giúp
chúng ta không chỉ thấy được giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm
mà còn hiểu thêm về một trong những trang sử đáng tự hào nhất của mặt trận ngoại
giao và những bài học lịch sử quý giá mà tác phẩm này để lại cho hậu thế. Đó là
những lí do khoa học mà chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài này.
1.2. Lí do thực tiễn
Thực tế hiện nay tác giả Ngô Thì Nhậm được giới phê bình, nghiên cứu quan
tâm và tìm hiểu trên nhiều bình diện nhưng vẫn còn nhiều điều đáng nói. Các sáng
1
tác của Ngô Thì Nhậm có dung lượng khá lớn, tuy nhiên trong giáo trình văn học
trung đại cũng chưa giới thiệu nhiều đến các tác phẩm của ông, đặc biệt là Bang
giao hảo thoại.
Bản thân là một giáo viên, tôi luôn muốn tìm hiểu sâu sắc các tác giả và tác
phẩm của văn học trung đại để có cái nhìn toàn diện về dòng chảy văn học Việt
Nam. Đặc biệt là những tác giả có tư tưởng và tài năng văn học, chính trị, bang giao
lỗi lạc như Ngô Thì Nhậm.
Đây là lí do mà chúng tôi chọn đề tài: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật
Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm. Nghiên cứu đề tài này phần nào thấy được
giá trị của tác phầm, đồng thời chỉ ra được vị trí của nó trong tiến trình văn chính
luận trung đại Việt Nam cũng như thấy được vị trí của Ngô Thì Nhậm trong dòng
chảy văn học dân tộc.
2. Lịch sử vấn đề
Qua khảo sát, tìm hiểu chúng tôi thấy Bang giao hảo thoại là một đề tài khá
hấp dẫn, tuy nhiên chưa được giới nghiên cứu quan tâm và dụng công phân tích.
Tác phẩm này mới được đề cập đến trong cái nhìn khái quát về ngoại giao thời Tây
Sơn nói chung, hay những đánh giá về tư tưởng ngoại giao của vua Quang Trung,
hoặc những nghiên cứu về thể loại văn chính luận trung đại Việt Nam.
Nhậm trong tiến trình văn chính luận trung đại Việt Nam.
3. Mục đích ngiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến mục đích sau:
- Góp phần tìm hiểu thêm một tác phẩm thộc thể loại văn chính luận trung đại
Việt Nam, chỉ ra được đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tập Bang giao hảo thoại.
- Qua nhưng đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Bang giao hảo thoại,
khẳng định vì trí, vai trò của tác phẩm nói riêng và của Ngô Thì Nhậm nói chung
trong ngoại giao thời Tây Sơn.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Bang giao hảo thoại trong sách Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3 do Lâm Giang Nguyễn Công Việt (chủ biên) (2005), NXB Khoa học Xã hội, từ trang 395 - 853.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
văn bản văn học, phương pháp nghiên cứu văn học sử. Ngoài ra, luận văn còn sử
3
dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để khai thác tài liệu liên quan đến lịch sử
bang giao thời Tây Sơn, cuộc đời và sự nghiệp của vua Quang Trung và trí sĩ Ngô
Thì Nhậm; phương pháp phân tích tác phẩm để thấy được giá trị nội dung và nghệ
thuật của Bang giao hảo thoại.
6. Đóng góp của khóa luận
Qua việc khảo sát về tác phẩm Bang giao hảo thoại, luận văn góp thêm một
cái nhìn mới về ngoại giao thời Tây Sơn, vua Quang Trung trên mặt trận ngoại giao
cũng như đánh giá đúng tài năng và công lao của mưu sĩ Ngỗ Thì Nhậm - cận thần
trung thành, trợ thủ đắc lực, tri âm tri kỷ của vua Quang Trung. Đồng thời, ông
cũng được coi là mắt xích quan trọng trong ngoại giao giữa Đại Việt và Trung Quốc
dưới triều Tây Sơn.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm
hơn một thế kỉ sau khi nhà Lê sụp đổ đã tạo điều kiện cho các làng xã, địa phương
xa trung ương tách khỏi sự quản lý trực tiếp từ nhà nước và nâng cao tính tự trị.
Trước tình hình đó, năm 1664 nhà nước phải ban hành phép “Bình lệ” để có thể thu
thuế. Tuy nhiên, do bấy giờ nhà nước chỉ đánh thuế ruộng công, nên số hộ tăng
giảm thất thường, ruộng đất dần lọt vào tay các nhà hào phú. Cường hào địa chủ thi
nhau vơ vét, chiếm đoạt ruộng đất của dân và còn làm lũng đoạn ruộng đất công
vốn đã bị nhà nước cắt xén nhiều.
5
Vì lý do trên, trong mấy chục năm cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII đã
diễn ra 9-10 trận đói lớn, cùng với đó hình thành những địa chủ lớn có hàng nghìn
mẫu ruộng. Tình hình nghiêm trọng đến mức, năm 1728, chúa Trịnh Cương đã phải
kêu lên “Ruộng đất rơi hết vào các nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có một
miếng đất cắm dùi.” [25, 393-394]. Tình trạng này không chỉ diễn ra ở đồng bằng
mà còn diễn ra ở cả những miền thượng du, bọn quyền thế làm văn khế giả để
chiếm đoạt ruộng đất của dân cày, buộc người dân phải bỏ đi lưu tán, cuộc sống vô
cùng khổ cực.
Một tình trạng nổi bật nữa có thể kể đến là: do hậu quả của các cuộc chiến
tranh phong kiến, cát cứ, nhiều người đã tình nguyện cúng ruộng đất tư của mình cho
làng xã hay cho chùa, với hi vọng được thờ cúng sau khi qua đời (gọi là ruộng hậu).
Từ đó, làng xã trở thành chủ một số ruộng đáng kể. Với tình trạng như vậy, năm
1722, chúa Trịnh đã thực hiện một cuộc cải cách về chế độ tô thuế, bắt đầu đánh thuế
ruộng tư. Tuy nhiên, khi thực hiện, nhà nước lại quy định miễn thuế ruộng tư cho
quan lại theo thứ bậc, thành ra ruộng đất của quan lại, địa chủ lại ngày càng tăng lên.
Cuộc sống của nhân dân vốn không được cải thiện mà ngày càng khổ cực.
Mâu thuẫn, đối kháng giai cấp trở lên quyết liệt hơn, năm 1740 Trịnh Doanh
thực hiện chính sách “tỉnh điền” với hi vọng “quân bình giàu nghèo”, “san đều thuế
dịch”. Tuy nhiên, việc làm đó không cải thiện được tình hình là bao, bởi việc khám
nhân đến thảm cảnh đói khổ. Chính chính sách thuế khóa nặng nề của nhà nước mới
là nguyên nhân lớn gây ra sự cực khổ của người dân. Khắp nơi làng xóm điêu tàn,
kinh tế suy sụp, người nông dân lưu tán hoặc chết đói, tha phương cầu thực hoặc
dùng chút lực tàn cuối cùng để khai phá đất hoang hay canh tác trên các thửa ruộng
bỏ hóa của các hộ lân cận.
Cuối cùng, khi tình hình không thể cứu vãn được nữa, “tức nước vỡ bờ”, họ
đành nổi dậy chống phá, lật đổ giai cấp cường hào ác bá và nhà nước phong kiến.
Phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp mọi miền, trở thành xu thế thời đại này.
1.1.2. Phong trào nông dân rầm rộ - thế kỷ “nông dân khởi nghĩa”
Bước sang thế kỷ XVIII, đặc biệt là giữa thế kỷ XVIII, phong trào nổi dậy
của nhân dân diễn ra ở khắp nơi. Năm 1737, có cuộc nổi dậy của nhà sư Nguyễn
Dương Hưng ở vùng Sơn Tây. Năm 1738, có cuộc khởi nghĩa do Lê Duy Mật ở
Thanh Hoá, cuộc khởi nghĩa này duy trì được đến năm 1770. Năm 1740 - 1741 có
cuộc khởi nghĩa do thủ lĩnh Thoan, thủ lĩnh Thiều lãnh đạo ở Hưng Hoá. Ở Sơn Tây
có cuộc khởi nghĩa của thủ lĩnh Tương từ năm 1741 đến năm 1752. Hay Toản Cơ
7
lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Lạng Sơn từ năm 1740 đến 1742. Ngoài ra còn có các
cuộc khởi nghĩa khác ở vùng trung tâm đồng bằng bắc bộ như: Nguyễn Tuyển,
Nguyễn Cừ, Vĩ Trác Oánh, Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao, Nguyễn
Danh Phương (1741 - 1751), Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), Hoàng Công Chất
(1739 - 1769). Mặc dù hầu hết các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại, nhưng ít nhiều
nó đã góp phần làm cho bộ máy chính tri ̣ của chúa Trịnh ngày một suy tàn và sau
đó bi ̣ kết thúc bởi cuộc Bắc tiến của Nguyễn Huệ.
1.1.3. Về triều đại Tây Sơn
1.1.3.1. Sự ra đời của triều đại Tây Sơn
Nhà Tây Sơn được ra đời trong bối cảnh hết sức đặc biệt. Ở Đàng Ngoài thế
lực họ Trịnh ngày một suy yếu, mệt mỏi bởi các cuộc khởi nghĩa liên miên, bản thân
nhà Lê chẳng bao lâu, năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Huệ một lần nữa phải kéo
quân ra Bắc để dẹp loạn. Lúc này để giữ yên Đàng Ngoài vì bộ máy chính quyền
nhà Lê thực sự đã suy yếu không còn sức để vực dậy được nữa, nên Nguyễn Huệ đã
cho Ngô Văn Sở trấn giữ Thăng Long, đồng thời chiêu mời các sĩ phu tài giỏi ở Bắc
Hà như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, Phan Huy Ích, Trần Bá Lãm… giúp
mình giữ yên đất nước trên các mặt trận ngoại giao cũng như chiến trận.
1.1.3.2. Hoạt động ngoại giao thời Tây Sơn
Trong lịch sử Việt Nam, nhà Tây Sơn tuy tồn tại ngắn ngủi nhưng để lại một
vết son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cả về quân sự
lẫn nghệ thuật ngoại giao. Ngay từ những buổi đầu trứng nước, dưới sự lãnh đạo tài
tình và khéo léo của Nguyễn Huệ, nhà Tây Sơn đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Điều đáng chú ý hơn cả, với vai trò là một người lãnh đạo đất nước, vấn đề
mà Nguyễn Huệ luôn quan tâm, đó là việc tránh cho dân không bị rơi vào cảnh
chiến tranh, tận dụng cơ hội, tranh thủ xây dựng đất nước vững mạnh. Chính vì thế
ông đã có chính sách ngoại giao khôn khéo với nhà Thanh. Quan điểm này đã được
thể hiện rất rõ trong lời nói của Nguyễn Huệ như sau: “Chẳng qua 10 ngày là có thể
đuổi được người Thanh, nhưng nghĩ nó là nước lớn gấp 10 nước mình, sau khi thua
trận ắt lấy làm hổ thẹn mà cố báo thù. Như thế việc binh đao không bao giờ dứt, thật
9
không phải phúc cho dân, lòng ta không nỡ làm vậy. Tới lúc đó chỉ có một cách nói
thật khéo thì mới ngăn được cái ngòi chiến tranh” [22, 372].
Qua đây ta thấy thêm tình cảm yêu quý dân của Nguyễn Huệ, đồng thời thấy
được cả trách nhiệm của ông trong việc xác định phương thức ngoại giao. Đối với
nhà Thanh, một kẻ thù mạnh nhất lúc bấy giờ, việc khôn khéo trong xử lý khi nước
nhà vẫn còn đang chìm trong thù trong giặc ngoài là một điều hết sức khôn ngoan.
Để có thể có một chiến lược lâu dài ra sức củng cố xây dựng đất nước, ông cho rằng
chỉ có sức mạnh nội lực mới thực sự là chỗ dựa của đất nước. Chính sách ngoại giao
sang gặp Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp là Tả Giang Binh bị đạo để mở
đường cho cuộc giảng hòa. Về phía nhà Thanh sau cuộc bại trận của Tôn Sỹ Nghị,
các quan tướng nhà Thanh cũng rất e ngại thế mạnh của Đại Việt, đặc biệt là Phúc
Khang An và Thang Hùng Nghiệp cũng không muốn gây chiến với Đại Việt nữa.
Nên khi đoàn sứ giả của Đại Việt sang đã rất vui mừng và tận tình giúp đỡ. Thậm
chí ngay cả sau này mọi thuận lợi của Nguyễn Huệ có được cũng do sự giúp đỡ của
Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp.
Ngoài việc cho sứ giả sang gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng để dọn đường cho
công việc giải hòa và cầu phong vương, ở trong nước Nguyễn Huệ cũng thực thi
những chính sách tạo nên uy tín và thể hiện thiện chí hòa hữu với nhà Thanh. Cụ thể
đối với đám tàn quân của nhà Thanh, Nguyễn Huệ đã nghiêm cấm quân lính và
người dân truy giết, đồng thời cho phép quân Thanh được ra đầu thú. Đối với những
binh lính nhà Thanh sau khi ra đầu thú còn được cấp lương ăn, quần áo mặc chờ
ngày trao trả về nước.
Với những chính sách nhân đạo của Nguyễn Huệ và được sự giúp đỡ của
Tổng đốc Lưỡng Quảng, nhà Thanh đã chấp nhận phong vương cho Nguyễn Huệ,
đồng nghĩa với việc nhà Thanh công nhận Đại Việt chính thức có một vương chủ
mới. Đây được coi là một trong những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao của
nhà Tây Sơn với nhà Thanh. Điều đáng chú ý hơn nữa, khi Nguyễn Huệ từ chối
sang Trung Quốc nhận phong vương theo thông lệ thì nhà Thanh đã cho sứ thần
sang Đại Việt để thực hiện việc phong vương cho Nguyễn Huệ. Lần thứ hai Nguyễn
Huệ từ chối ra Thăng Long nhận phong vương với lý do sức khỏe không tốt, thì nhà
Thanh lại một lần nữa nhún mình đến tận Phú Xuân để phong vương cho Nguyễn
Huệ. Có thể nói, mặc dù Nguyễn Huệ trên danh nghĩa chấp nhận triều kiến nhà
Thanh, nhưng trên thực tế, nhà Thanh luôn bị động trước những mưu tính khôn
11
khéo của Nguyễn Hụê. Chính vì thế mà nhà Thanh hết lần này đến lần khác phải
12
huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội). Thuở nhỏ có tên là Phó, sau đổi thành
Nhậm, tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên (khi nghiên cứu Thiền học ông lấy đạo hiệu
Hải Lượng).
Ngô Thì Nhậm đỗ Tiến sĩ năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), làm quan tới Đốc
đồng Kinh Bắc, rồi thăng tới chức Công bộ Hữu thị lang. Năm 29 tuổi - 1775 Ngô
Thì Nhậm ra phụng sự nhà Tây Sơn và được Nguyễn Huệ trọng dụng, trao cho chức
Thị lang Bộ Công, tước Tình Phái hầu, sau thăng đến chức Thượng thư Bộ Binh.
Ông mất ngày 16 tháng 2 năm Quý Hợi (tức ngày 9 tháng 3 năm 1803).
Cuộc đời của Ngô Thì Nhậm có những nét cơ bản như sau:
Ngô Thì Nhậm là con trưởng của Ngô Thì Sỹ (1726-1780), tên tự là Thế
Lộc, hiệu Ngọ Phong, biệt hiệu Nhị Thanh cư sỹ. Ngô Thì Sỹ có tài, từ chương lại
nổi tiếng nhưng nhiều năm thi không đỗ, vì vậy gia cảnh đã nghèo túng lại càng
nghèo túng hơn. Đến khoa thi năm Nhâm Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 12 (1752),
ông lại thi trượt, tuy nhiên được Minh Đô Vương Trịnh Doanh mến tài cho làm một
chức nhỏ Thiêm sai tri Công phiên ở Phủ Chúa. Nếu như người cha Ngô Thì Sỹ 7
tuổi đi học, 8 tuổi làm được văn, 9 tuổi biết làm thơ, 11 tuổi mồ côi cha phải theo
học ông nội Đan Nhạc công (tức Ngô Trân), thì Ngô Thì Nhậm 7 tuổi cũng đi học
và đến năm 11 tuổi cũng được cụ nội Đan Nhạc công dạy bảo. Chỉ 2 năm sau đó,
Ngô Thì Nhậm đã đọc thông các loại sách Kinh, Truyện, Sử và Tính lý; đến năm 16
tuổi (tức năm Tân Tỵ - 1761) cụ nội Đan Nhạc qua đời thì Ngô Thì Nhậm mới học
với phụ thân Ngô Thì Sỹ. Vốn thiên tư thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên mới
16 tuổi Ngô Thì Nhậm đã soạn sách Nhị thập thất sử toát yếu (đây là sách chủ yếu
dùng trong học tập). Năm 17 tuổi, Ngô Thì Nhậm trải qua 2 lần sát hạch ở trường
đều đạt loại ưu. Cùng năm này, mẹ ông qua đời ở tuổi 33, để lại 5 người con.
Năm 1763 (năm Quý Mùi), Ngô Thì Nhậm 18 tuổi, người cha Ngô Thì Sỹ
được chúa Ân Vương Trịnh Doanh, đặc cách cho tiến triều, trao cho chức Cấp sự
trung Bộ Công. Đến năm sau, 1764 (năm Giáp Thân) trao cho chức Giám sát Ngự
Kinh Bắc. Chức Đốc đồng một trấn, dưới chức Trấn thủ một bậc, là chức phó, có
nhiệm vụ tra xét ngục tụng. Năm đó phụ thân ông cũng nhậm chức Đốc trấn Lạng
Sơn. Hai cha con cùng đi nhậm chức một ngày (Ngô gia thế phả). Cùng năm đó,
Ngô Thì Nhậm còn kiêm giữ chức Đốc đồng Thái Nguyên. Tại đây, ông đã cùng
cha phối hợp với Trấn thủ Tuân Vãng hầu, đánh dẹp tại vùng Vũ Nhai, và cũng năm
đó ông soạn xong tập Công vụ thành thư. Năm 1779 (năm Kỷ Hợi), Ngô Thì Nhậm
14
được thăng chức Đông các hiệu thư, phụng mệnh hiệp đồng với Trấn thủ Tuyên,
Thái đánh dẹp các cuộc nổi dậy của Hoàng Văn Đồng ở Tuyên Quang. Ít lâu sau
ông lại được phái đi kinh lược ở mỏ bạc Tống Tinh. Năm 1780 (năm Canh Tý) trở
về, ông dâng sớ về phương sách thu thuế ở xưởng bạc, được chúa Trịnh Sâm khen
ngợi, ban thưởng rất hậu. Gần cuối năm đó xảy ra vụ án tranh đoạt ngôi chúa, người
đời sau gọi là “vụ án năm Canh Tý”. Cuối tháng 9 cùng năm đó, phụ thân ông bị
cảm tại động Nhị Thanh (Lạng Sơn) và không lâu sau thì qua đời.
Năm 1782 (năm Nhâm Dần), trong kinh có biến, Trịnh Sâm qua đời, những
người có liên quan ít nhiều đến vụ án năm Canh Tý hoặc bị giết, hoặc bị bắt giam, tịch
thu gia sản… Ngô Thì Nhậm vì bị dư luận ghép cho đã dính líu đến vụ án năm Canh
Tý, đồng thời lại là thầy dạy của Trịnh Tông nên lo lắng không bảo toàn được tính
mạng. Vì vậy ông phải lánh về quê vợ am Lê Trạch, xã Đội Trạch, trấn Sơn Nam (nay
là Vũ Thư, Thái Bình). Tai đậy, ông nương nhờ tại nhà người em vợ là Đồng Lạc thị
trong gần 4 năm trời (1782-1786).
Nhà Lê sụp đổ, năm 1788 (năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai,
xuống lệnh tìm kiếm quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh ra giúp việc nước. Ngô
Thì Nhậm đã đón nhận ngay chính sách trọng dụng này của Nguyễn Huệ - thái độ
trái ngược hẳn với các cựu thần nhà Lê khác như các Tiến sĩ: Nguyễn Nha, Trần
Danh Án, Ninh Tốn… Ngô Thì Nhậm được Nguyễn Huệ giao cho chức Hữu Thị
lang Bộ Công, tước Tình phái hầu, cùng với Võ Văn Ước giám sát tất cả các quan
trọng này, vừa thuyết phục được nhà Thanh không “hổ thẹn” mà báo thù để tránh
được nạn binh đao, lại tạo điều kiện cho quân ta có thời gian củng cố về mặt quân
sự ngày càng hùng mạnh.
Với những đóng góp to lớn về mặt ngoại giao như vậy, Ngô Thì Nhậm được
phong chức Binh bộ Thượng thư. Năm sau, năm Tân Hợi (1791), ông lại được
thăng làm Thị lang đại học sỹ, ban Dực vận công thần.
Năm Nhâm Tý (1792), Ngô Thì Nhậm kiêm chức Quốc sử thự Tổng tài,
nhưng vẫn tiếp tục các công việc về ngoại giao. Cùng năm đó, ngày 29 tháng 7
(nhuận), Quang Trung lâm bệnh đột ngột qua đời.
Tháng 2 năm sau (1793) Ngô Thì Nhậm lãnh chức Chánh sứ sang nhà Thanh
báo tang và cầu phong cho vua mới Quang Toản. Quang Trung mất, từ đây Ngô Thì
Nhậm mất đi người hiểu mình, biết đến tài năng và tin dùng mình. Quang Toản lên
ngôi khi mới 15 tuổi, vì vậy triều đình không tránh khỏi những lục đục trong nội bộ,
dần lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng bởi sự lộng hành của người cậu của vua
16
Quang Toản - Bùi Đắc Tuyên. Trước tình hình rối ren của triều đình Quang Toản,
Nguyễn Ánh tận dung thời cơ, cấu kết với các địa chủ phản động, dựa vào thế lực tư
bản nước ngoài đã liên tiếp phản công, điều này làm cho triều đình Quang Toản
ngày càng suy yếu.
Trong hoàn cảnh như vậy, Ngô Thì Nhậm không thể phát huy được tài năng
của mình. Ông cùng một số bầy tôi cũ của nhà Lê được tin dùng như Phan Huy Ích,
Ninh Tốn, Nguyễn Huy Lượng… chỉ còn là những quan soạn sách, trông coi việc lễ
nghi… ví như năm Đinh Tỵ (1797) Ngô Thì Nhậm phụng mệnh trông coi việc tu
sửa Quốc sử. Ngô Thì Nhậm không thể đóng góp được gì trong hoàn cảnh triều
đình Quang Toản ngày một rối loạn, ông âm thầm ôm niềm đau xót, tìm lối thoát
trong Thiền học.
Nhà Tây Sơn nhanh chóng sụp đổ trước sự công kích, dượt đuổi của Nguyễn
trong tùng thư Ngô gia văn phái.
9. Xuân thu quản kiến. Soạn năm 1782 - 1786, hiện có 3 dị bản chép trong
tùng thư Ngô gia văn phái.
10. Kim mã hành dư. Sáng tác năm 1775 - 1788, hiện có 13 dị bản chép trong
tùng thư Ngô gia văn phái.
11. Ngọc đường xuân khiếu. Sáng tác năm 1789 - 1792, hiện có 3 dị bản chép
trong tùng thư Ngô gia văn phái.
12. Hoàng hoa đổ phả. Sáng tác năm 1793, hiện có 7 dị bản chép trong tùng
thư Ngô gia văn phái.
13. Cúc học thi trận. Sáng tác khoảng năm 1796, hiện có 7 dị bản chép trong
tùng thư Ngô gia văn phái.
14. Cẩm đường nhàn thoại. Sáng tác khoảng năm 1785 - 1797, hiện có 4 dị
bản chép trong tùng thư Ngô gia văn phái.
15. Thu cận dương ngôn. Sáng tác khoảng năm 1797 - 1798, hiện có 4 dị bản
chép trong tùng thư Ngô gia văn phái.
16. Hào mân ai lục. Sáng tác khoảng năm 1780 - 1800, hiện có 5 dị bản chép
trong tùng thư Ngô gia văn phái.
17. Bang giao hảo thoại. Sáng tác khoảng năm 1789 - 1800, hiện có 11 dị
bản chép trong tùng thư Ngô gia văn phái.
18. Hàn các anh hoa. Sáng tác khoảng năm 1789 - 1801, hiện có 8 dị bản
chép trong tùng thư Ngô gia văn phái.
18
19. Liên hạ thi minh. Sáng tác năm 1800, đã mất, hiện chỉ còn bài thuyết
chép trong tùng thư Ngô gia văn phái.
20. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh. Không chép trong tùng thư Ngô gia văn
phái mà có sách in riêng.
Vua Quang Trung qua đời, Ngô Thì Nhậm mất đi người tri kỉ, một người