Áp dụng bộ luật dân sự 2015 giải quyết tranh chấp lao động cá nhân - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN

NGUYỄN MINH QUÂN

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN

NGUYỄN MINH QUÂN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TRÍ TUỆ

HÀ NỘI – 2017



động cá nhân và áp dụng quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động
cá nhân. Chương 2: Nội dung của việc áp dụng quy định của BLDS trong việc giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân. Chương 3: Luận văn phân tích thực tiễn thực
hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc áp dụng quy định của BLDS giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Việt Nam hiện nay.
Từ khóa ( Keywords ): Tranh chấp lao động, tranh chấp lao động cá nhân,
giải quyết tranh chấp lao động, Bộ luật dân sự.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
LAO ĐỘNG CÁ NHÂN VÀ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN..................... 7
1.1. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân .......... 7
1.1.1. Tranh chấp lao động cá nhân................................................................ 7
1.1.2. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ............................................. 10
1.2. Sự cần thiết của việc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự trong giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân ............................................................... 12
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ
LUẬT DÂN SỰ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
CÁ NHÂN ............................................................................................................ 18
2.1. Tranh chấp lao động cá nhân có nội dung liên quan đến quyền nhân
thân của người lao động ................................................................................ 18
2.1.1. Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ,
thân thể của người lao động ......................................................................... 18
2.1.2. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của người lao động. 20
2.1.3. Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người
lao động ......................................................................................................... 21
2.2. Tranh chấp lao động cá nhân có nội dung liên quan đến tài sản của

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật Dân sự

BLLĐ

BLLĐ

BLTTDS

BLTTDS

BLHS

Bộ luật Hình sự

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

NLĐ

NLĐ

NSDLĐ

NSDLĐ


đề cần thiết đặt ra nghiên cứu.
BLDS năm 2015 đã có các quy định cụ thể để bảo vệ quyền nhân thân của
NLĐ; bảo vệ tài sản của NLĐ và NSDLĐ; tạo ra cơ sở pháp lý cần thiết để giải
quyết các tranh chấp lao động cá nhân đáp ứng yêu cầu của thực tiễn mà theo đó
quyền và lợi ích của các bên, đặc biệt là bên vi phạm cần có quy định pháp luật cụ
thể để yêu cầu bồi thường, bảo vệ quyền lợi bị xâm phạm của mình. Tuy nhiên, việc
giải quyết tranh chấp lao động cá nhân trong thực tế hiện nay còn gặp một số vướng

1


mắc mà nguyên nhân chính xuất phát từ những thiếu sót, mâu thuẫn của các quy
định pháp luật. Do vậy việc nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn về
tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp lao động cá nhân nói riêng nhằm khắc
phục những điểm yếu, những điểm không phù hợp với tình hình thực tế đã và đang
là mối quan tâm hàng đầu của các bên tham gia quan hệ lao động. Xuất phát từ
những lý do trên, tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Áp dụng quy định của Bộ
luật Dân sự trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Một số công trình nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến vấn đề giải quyết
tranh chấp lao động cá nhân như:
- Đề tài cơ bản cấp Đại học Quốc gia về“Tranh chấp lao động và giải quyết
tranh chấp lao động ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2005 của
tác giả Lê Thị Hoài Thu.
- Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ, “Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi
phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý,
số 1/2005, tr. 26-31: Phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Và khi có vi phạm thì nó được coi là
hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Pháp luật Việt Nam giới hạn tối đa

quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án Việt Nam”là đề tài viết khá chuyên
sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án đồng thời đưa ra
hướng giải quyết những bất cập còn tồn tại trong việc giải quyết tranh chấp lao
động cá nhân tại Tòa án.
- Luận văn thạc sỹ “Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Vũ Thị Thu Hiền năm 2012.
- Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Một số bất cập và hướng hoàn thiện” của tác giả Ngô Thị Tâm năm 2012 tại
trường Đại học Luật Hà Nội.

3


Các bài viết được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau vì vậy khi lựa chọn
đề tài này để nghiên cứu tác giả mong muốn sẽ có cái nhìn hoàn thiện, đầy đủ hơn
về cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, qua đó nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật về nội dung này
Các nghiên cứu nêu trên đã đi sâu phân tích các yếu tố về giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân, bảo vệ quyền sở hữu của con người; cũng như đã đưa ra các
giải pháp để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Tuy
nhiên, BLDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập, hạn chế trong
thực tiễn thi hành, nhất là đã tạo cơ sở pháp lý hữu hiệu để công nhận, tôn trọng,
bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong bảo
vệ quyền, lợi ích của bên yếu thế, bên thiện chí trong quan hệ dân sự; hạn chế đến
mức tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào việc xác lập, thay đổi chấm dứt
các quan hệ dân sự; điều đó đã thay đổi quan niệm, biện pháp trong giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân. Vì thế, trong luận văn này, tác giả tiếp tục kế thừa có chọn
lọc những nghiên cứu trước đó và tập trung vào vấn đề cơ bản quy định của BLDS
trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tranh
chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Đồng thời Luận

pháp bổ trợ khác… Đồng thời, thực hiện việc kết hợp giữa các nhóm phương pháp
để nghiên cứu, giải quyết những yêu cầu mà đề tài đặt ra.
5. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tiếp tục làm rõ một số vấn đề lý luận
về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Đánh giá
các quy định của BLDSvề giải quyết tranh chấp lao động cá nhân qua đó thấy được
những điểm đã đạt được và những điểm còn tồn tại, hạn chế để có thể kiến nghị hoàn
thiện các quy định của pháp luật đối với giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định
của BLDS, BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, đặt trong mối quan hệ
với các quy định pháp luật trước đó. Ngoài ra, luận văn cũng đề cập tới những quy

5


định khác có liên quan trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân để có thể áp
dụng những quy định phù hợp với thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật áp dụng
quy định của BLDStrong việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
6. Cơ cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
và áp dụng quy định của BLDS trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Chương 2: Nội dung của việc áp dụng quy định của BLDStrong việc giải
quyết tranh chấp lao động cá nhân
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong việc
áp dụng quy định của BLDSgiải quyết tranh chấp lao động cá nhân.

6


- NSDLĐ bỏ tiền ra mua sức lao động của NLĐ, muốn sử dụng sức lao động
đó hiệu quả nhất buộc NSDLĐ phải quản lý cho hợp lý, không để bị lãng phí;
- Do mục tiêu sinh lợi nhuận, năng suất, hiệu quả, chất lượng trong kinh
doanh. Tuy NLĐ phụ thuộc vào NSDLĐ nhưng pháp luật quy định hai bên được tự
do thỏa thuận trên cơ sở hợp đồng lao động.
Thứ hai, về mặt lợi ích kinh tế, giữa NLĐ và NSDLĐ vừa có mâu thuẫn, vừa
có thống nhất phụ thuộc vào nhau. Trong quan hệ lao động, NSDLĐ có quyền quy
định cơ chế phân phối trong đơn vị, có quyền quyết định các mức lương đối với
từng vị trí công việc, có nghĩa vụ trả lương cho NLĐ….NSDLĐ luôn muốn giảm
tới mức thấp nhất các khoản chi phí.
Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa NLĐ
với NSDLĐ không phải lúc nào cũng diễn biến một cách ổn định bình thường theo
đúng những thỏa thuận. Giữa họ có thể sẽ xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi
ích trong lao động. Có những bất đồng được các bên thỏa thuận và giải quyết được
song cũng có thể có những bất đồng mà sự thương lượng của hai bên không thể giải
quyết được. Những bất đồng, xung đột nếu được giải quyết tốt thì sẽ không trở
thành mâu thuẫn, ngược lại, nếu không được giải quyết thì dễ trở thành những mâu
thuẫn gay gắt. Lúc này, họ phải cần đến một trung gian (người thứ thứ ba hoặc một
cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định) để giải quyết.
Quá trình xác lập, thực hiện quan hệ lao động có thể phát sinh những tranh
chấp giữa NLĐ và NSDLĐ hoặc giữa NLĐ, NSDLĐ và chủ thể khác nhưng chỉ
tranh chấp nào phát sinh từ quan hệ lao động, tức là về mặt pháp lý là tranh chấp
giữa NLĐ và NSDLĐ thì mới được coi là tranh chấp lao động. Như vậy, ta chỉ coi
những tranh chấp có nguồn gốc phát sinh từ những mâu thuẫn phải giải quyết trong
phạm vi quan hệ lao động là tranh chấp lao động. Chủ thể và nội dung tranh chấp là
hai dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất, thể hiện bản chất của tranh chấp lao động cá
nhân so với các tranh chấp khác trong lĩnh vực dân sự.

8


1.1.2. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là việc áp dụng các quy định pháp luật
về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết, trình tự của pháp luật để giải quyết tranh chấp

10


lao động cá nhân. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là việc các cá nhân, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết
những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ về việc thực hiện quyền
nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động, khôi phục các quyền và lợi
ích hợp pháp đã bị xâm hại; xóa bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa NLĐ và
NSDLĐ, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất.
Thông qua giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của NLĐ, NSDLĐ. Đối với NLĐ, việc đảm bảo quyền nhân thân
trong quan hệ lao động là vấn đề luôn được quan tâm, nên khi phát sinh tranh chấp
về quyền nhân thân của NLĐ mà không được giải quyết kịp thời sẽ đem lại nhiều
bất lợi cho NLĐ, khiến cuộc sống của chính bản thân và gia đình họ gặp không ít
khó khăn. Thông qua việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, những yêu cầu,
nguyện vọng chính đáng của NLĐ sẽ được đáp ứng, quyền, lợi ích hợp pháp của
NLĐ được đảm bảo.
Bên cạnh đó, việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân còn nhằm mục
đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ. Bởi lẽ, trong nhiều trường hợp,
không phải mọi yêu cầu của NLĐ đều hợp lý, chính đáng, thậm chí nó có thể xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của NSDLĐ. Do đó, bảo vệ lợi ích của NSDLĐ
cũng là mục đích của giải quyết tranh chấp lao động cá nhân.
Quan hệ lao động hài hòa, ổn định là một trong những yếu tố quan trọng để
đảm bảo lợi ích cho cả NLĐ và NSDLĐ. Để đảm bảo điều đó đòi hỏi phải có sự
dung hòa lợi ích của cả hai bên. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nhằm mục
đích giúp các bên cùng nhau tiến hành thương lượng, thỏa thuận giải quyết mâu

theo quy định của BLLĐ hiện hành chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưa thực
sự triệt để, thấu đáo. Có thể lấy ví dụ như, những trường hợp NSDLĐ xâm phạm
quyền sở hữu tài sản của NLĐ trong quá trình làm việc một cách trái phép như yêu
cầu NLĐ chuyển giao tài sản, thực hiện các biện pháp bảo đảm khi giao kết và thực
hiện HĐLĐ. Đây được coi là những hành vi trái pháp luật theo BLLĐ. Tuy nhiên
nếu NSDLĐ trong quá trình cầm giữ tài sản mà NLĐ chuyển giao để bảo đảm và
thực hiện hợp đồng mà gây ra mất mát, thiệt hại về tài sản của NLĐ thì trách nhiệm
bồi thường sẽ được xử lý như thế nào để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của

12


bên bị thiệt hại? Rõ ràng quy định pháp luật lao động hiện hành chưa giải quyết
được vấn đề này.
Hay thực tế quan hệ lao động xuất hiện những hành vi xâm phạm quyền nhân
thân của NLĐ, quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, thân thể, danh dự và nhân
phẩm của NLĐ khi bị NSDLĐ có hành vi đánh đập, cưỡng bức1…Khi NLĐ rơi vào
tình trạng như vậy, nhu cầu cần được bảo vệ luôn đặt lên hàng đầu, tuy nhiên quy
định pháp luật lao động hiện hành cũng chưa giải quyết được vấn đề đó. Hoặc một ví
dụ khác liên quan tới những vấn đề mang yếu tố đặc trưng trong quan hệ lao động đó
là yếu tố quản lý của NSDLĐ, tuy nhiên giới hạn của quyền quản lý lao động này liệu
có được xác định rõ ràng, thậm chí có sự đan xen với ngành luật dân sự, bởi lẽ quyền
riêng tư cá nhân NLĐ BLLĐ hiện hành không trực tiếp điều chỉnh2…
Thông qua các ví dụ thực tiễn, nhu cầu đòi hỏi của việc áp dụng quy định
của Bộ luật Dân sự trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là hết sức cần thiết,
một mặt bảo đảm quyền và lợi ích cho NLĐ, một mặt cũng bảo đảm rằng NSDLĐ
cần có ý thức pháp luật cao hơn, tôn trọng đối tác NLĐ trong quá trình thực hiện
công việc. Có thể nói rằng, trong hai nhóm quyền nhân thân và quyền tài sản của
NLĐ khi tham gia vào quan hệ lao động, quyền nhân thân là nhóm quyền tiếp cận
tương đối rộng hơn, phức tạp hơn và cũng phát sinh nhiều vấn đề trên thực tiễn hơn.

hơn, khi quyền dân sự của cá nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ
theo quy định của BLDS, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền thực hiện các biện pháp theo quy định của luật, trong đó: Trường hợp
cá nhân, pháp nhân lựa chọn phương thức tự bảo vệ quyền dân sự thì việc tự bảo vệ
quyền phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không
được trái với các nguyên tắc cơ bản pháp luật dân sự (Điều 3 BLDSnăm 2015); Cá
nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.Các quyền
nhân thân được ghi nhận và bảo đảm thực hiện tại BLDS được quy định theo hướng
chọn lọc, phân biệt rõ ràng hơn giữa những quyền mang tính dân sự, có ý nghĩa
trong quan hệ dân sự đã được lựa chọn một cách hợp lý những quyền con người,
quyền công dân mang bản chất dân sự.
Theo đó, Điều 25 BLDSnăm 2015 đã quy định “Quyền nhân thân được quy
định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển
giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

14


Quy định này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ
bản là: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch.
BLDS 2015 đã cụ thể hóa các dấu hiệu về nhân thân trong xác định tư cách
chủ thể của cá nhân và đã nêu rõ những quyền nhân thân gắn liền với lợi ích tinh
thần của cá nhân (từ Điều 25 đến Điều 39). Các quyền nhân thân này có thể được
phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, mỗi tiêu chí thể hiện một khía cạnh pháp lý
đặc thù. Thông qua các phân loại này chúng ta sẽ hiểu được rõ nét hơn bản chất
pháp lý của từng loại quyền nhân thân, từ đó nhận diện được chính xác các hành vi
xâm phạm và đề ra được phương thức bảo vệ thích hợp nhất. Trong phạm vi luận
văn, tác giả dựa vào căn cứ phát sinh mà các quyền nhân thân có thể phân thành
nhóm các quyền nhân thân không gắn với tài sản và nhóm các quyền nhân thân gắn

chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có
quyền khác đối với tài sản đó.
Việc phân loại này giúp chúng ta định hình rõ căn cứ và thời điểm xác lập
các quyền nhân thân. Mỗi một chủ thể đều được công nhận một cách vô điều kiện
các quyền nhân thân không gắn với tài sản. Tuy nhiên, để được thừa nhận các quyền
nhân thân gắn với tài sản thì chủ thể đó phải chứng minh đươc sự tồn tại của loại tài
sản thuộc quyền của mình. Nếu không có tài sản đó thì không phát sinh các quyền
nhân thân của chủ thể có liên quan.

16


KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong quá trình làm việc diễn ra liên tục giữa NLĐ và NSDLĐ sẽ phát sinh
những vấn đề, thậm chí phát sinh nhiều vấn đề mà theo quy định của BLLĐ hiện
hành chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưa thực sự triệt để, thấu đáo, đặc biệt
là những vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi cơ bản về tài sản và nhân thân của các
bên trong quan hệ lao động. Chính vì vậy, trong Chương 1, Luận văn đã làm rõ
những vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp lao động cá nhân, vấn đề giải quyết tranh
chấp lao động cá nhân và chỉ rõ sự cần thiết của việc áp dụng quy định của BLDS
trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Vì phạm vi giới hạn của Luận văn nên
tác giả tập trung vào những quyền dân sự cơ bản cần áp dụng quy định của BLDS
trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân giữa các chủ thể.

17


Chương 2
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG QUY ĐỊNH
CỦABỘ LUẬTDÂN SỰ TRONG VIỆC GIẢI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status