Pháp luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ thực tiễn huyện tân sơn, tỉnh phú thọ - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HÀ SƠN BÌNH

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI
HỌC SINH,SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TÂN SƠN,TỈNH PHÚ THỌ

HÀ SƠN BÌNH

2015 - 2017

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI
HỌC SINH,SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TÂN SƠN,TỈNH PHÚ THỌ
HÀ SƠN BÌNH
Chuyên ngành : Luật kinh tế

dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất,
nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự
nhận thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận
văn được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu
của mình.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hà Sơn Bình


MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH

7

VIÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC
SINH, SINH VIÊN

1.1.

Khái quát về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên


1.3.1. Pháp luật bảo hiểm y tế tại Liên bang Nga

14

1.3.2. Pháp luật bảo hiểm y tế ở Trung Quốc

15

1.3.3. Pháp luật bảo hiểm y tế tại Thái Lan

16

1.3.4. Bài học kinh nghiệm về thực thi pháp luật bảo hiểm y tế đối với

17

học sinh, sinh viên cho Việt Nam
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC

20

SINH, SINH VIÊN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN
TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

2.1.

Khái quát đặc điểm địa bàn và cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn

20


2.2.3. Thẻ bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên

37

2.2.4. Thủ tục, chất lượng khám chữa bệnh

40

2.2.5. Cơ sở y tế khám, chữa bệnh

46

2.3.

48

Đánh giá, nhận xét về thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế
đối với học sinh, sinh viên từ thực tiễn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.3.1. Những kết quả đã đạt được trong quá trình thi hành pháp luật về

48

bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ thực tiễn huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ
2.3.2. Những hạn chế, bất cập còn tồn tại cần khắc phục

53

2.3.3

đối với học sinh, sinh viên trong thực tiễn
KẾT LUẬN

75

TÀI LIỆU THAM KHẢO

76


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế

HSSV

: Học sinh, sinh viên


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng


Trang

sơ đồ
2.1

Cơ cấu bộ máy tổ chức của BHXH huyện Tân Sơn

26


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một xã hội phát triển trước hết phải có những con người khỏe mạnh. Có sức
khỏe con người mới có thể thực hiện các hoạt động sống phục vụ cho chính bản
thân mình và cộng đồng. Nhưng không phải lúc nào con người cũng khỏe mạnh và
không phải ai cũng có khả năng chi trả chi phí khám, chữa bệnh khi chẳng may gặp
rủi ro bất ngờ như ốm đau, bệnh tật. Ra đời từ năm 1992, bảo hiểm y tế (BHYT) là
một trong những biện pháp hiệu quả nhất nhằm giúp đỡ mọi người khi gặp rủi ro về
sức khỏe để trang trải phần nào chi phí khám, chữa bệnh, giúp ổn định đời sống góp
phần bảo đảm an toàn xã hội.
Bảo hiểm y tế là sự san sẻ rủi ro của mọi người trong cộng đồng, là giải
pháp hữu hiệu để mọi người vượt qua bệnh tật. Theo đó người khỏe mạnh giúp đỡ
người bị bệnh về mặt tài chính để họ được sử dụng thuốc men, trang thiết bị y tế
sớm bình phục sức khỏe. Trên thế giới, không một quốc gia nào có thể khẳng định
ngân sách nhà nước đủ để chăm lo sức khỏe cho toàn cộng đồng mà không có sự
huy động của các thành viên trong xã hội. Càng ngày BHYT càng khẳng định vai
trò không thể thiếu của mình trong đời sống con người.
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định chính sách BHYT là một trong những
chính sách an sinh xã hội lớn của đất nước, đề ra mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân,

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bên cạnh những kết
quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện chính sách BHYT đã bộc lộ những tồn
tại, hạn chế cần được bổ sung, sửa đổi cả về mặt nội dung luật và việc tổ chức thực
hiện. Ngày 13/6/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII,
kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT (gọi
tắt là Luật BHYT sửa đổi, bổ sung) và có hiệu lực từ 01/01/2015, tạo cơ sở pháp lý
để BHYT khẳng định vị trí trụ cột của chính sách an sinh xã hội.
Trong thực tiễn, việc thực hiện pháp luật về BHYT, nhất là BHYT đối với
HSSV còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người tham gia
BHYT và mục tiêu chăm sóc sức khỏe của HSSV. Trong giai đoạn phát triển mới
của đất nước với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn

2


minh", lấy con người làm trung tâm, tất cả vì con người thì việc nghiên cứu đánh
giá thực hiện Luật BHYT có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển
bền vững xã hội, góp phần bảo đảm an sinh cho đất nước.
Thiết nghĩ đề tài nghiên cứu pháp luật về BHYT đối với HSSV từ thực tiễn
huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có giá trị góp phần triển khai và hoàn thiện chính sách
BHYT trên địa bàn. Để thực hiện tốt BHYT toàn dân thì việc phát triển pháp luật về
BHYT đối với HSSV là việc làm cần thiết và được xem là một trong những nhóm
giải pháp để thực hiện BHYT toàn dân. Thông qua hình thức BHYT đối với HSSV
sẽ tạo điều kiện cho các em được chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất... Sau khi
nghiên cứu, xem xét, tổng hợp, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật BHYT đối
với HSSV trong thực tiễn, chúng ta có thể chỉ ra được những ưu điểm và nhược
điểm của loại hình bảo hiểm này đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý
báu, để từ đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật BHYT đối với
HSSV trong lộ trình tiến tới BHYT toàn dân ở tương lai. Với những lý do trên, tác
giả xin chọn đề tài: "Pháp luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ thực

đó có tham khảo một số vùng, địa phương cụ thể để so sánh.
Về thời gian: Nghiên cứu trong vòng 3 năm từ 2014 đến 2016, là khoảng
thời gian bắt đầu Luật BHYT sửa đổi năm 2014 có hiệu lực thi hành. Việc luận văn
giới hạn thời điểm nghiên cứu từ 1/1/2014 là bởi đây là mốc đánh dấu việc BHYT
HSSV chuyển từ hình thức BHYT tự nguyện sang hình thức BHYT bắt buộc.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh.
Ngoài ra còn kế thừa và phân tích các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước; các bài viết trên báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan đến đề tài
nghiên cứu; các báo cáo, thống kê số liệu hàng năm của Bảo hiểm xã hội (BHXH)
huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên và pháp
luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh
viên và thực tiễn thực hiện tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

5


Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và biện pháp nâng cao hiệu quả
pháp luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh sinh viên từ thực tiễn thi hành tại huyện
Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

6


Chương 1

hiện từ năm 1992 và trong suốt hơn 20 năm qua, BHYT đã khẳng định tính đúng đắn
của một chính sách xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước.
Thứ nhất, BHYT chính là biện pháp để xóa đi sự bất công giữa người giàu
và người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị với điều kiện họ có tham
gia BHYT, mọi người sẽ được bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh. BHYT mang
tính nhân đạo cao cả và được xã hội hóa theo nguyên tắc "số đông bù số ít". Số
đông người tham gia để hình thành quỹ và quỹ này được dùng để chi trả chi phí
khám chữa bệnh cho một số ít người không may gặp rủi ro bệnh tật, điều này vừa có
lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội.
Thứ hai, BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng như ổn
định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau. Nhờ có BHYT, người
dân sẽ yên tâm phần nào về sức khỏe cũng như kinh tế, bởi vì họ đã có một phần
như là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khỏe, đặc biệt
với những người nghèo chẳng may mắc bệnh. Do đó, BHYT có tác dụng khắc phục
hậu quả và kịp thời ổn định được cuộc sống cho người dân khi họ bị ốm đau, tạo
cho họ một niềm lạc quan trong cuộc sống, yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải
vật chất cho chính bản thân và cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của xã hội.
Thứ ba, BHYT ra đời còn góp phần giáo dục cho người dân trong xã hội về
tính nhân đạo theo phương châm "lá lành đùm lá rách", đặc biệt là với trẻ em.
Thứ tư, BHYT tăng chất lượng khám chữa bệnh và quản lý y tế thông qua
hoạt động quỹ BHYT đầu tư. Lúc đó trang thiết bị sẽ hiện đại hơn, có kinh phí để
sản xuất các loại thuốc đặc trị chữa bệnh hiểm nghèo, có điều kiện nâng cấp các cơ
sở khám chữa bệnh một cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, giúp người dân đi
khám chữa bệnh được thuận lợi. Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt
hơn, các y, bác sĩ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích lũy kinh nghiệm, có trách
nhiệm với công việc, dẫn đến sự quản lý dễ dáng và chặt chẽ hơn.
Thứ năm, BHYT còn góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà
nước. Hiện nay kinh phí cho y tế được cấu thành chủ yếu từ bốn nguồn: ngân sách

8


9


bệnh cho nhân dân. Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận
quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với
cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm
phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau,
bệnh tật.
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc
sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối
tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật, BHYT là một trong những
chính sách an sinh xã hội quan trọng.
Theo Khoản 2 Điều 1 Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014, BHYT
là hình thức bảo hiểm bắt buộc để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận.
Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi
cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm
giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở
cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khi người tham gia không may ốm đau phải
sử dụng các dịch vụ đó, mà không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh. Cơ
quan BHXH sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT.
Xét về bản chất xã hội, BHYT là tập hợp có tổ chức của các thành viên xã
hội nhằm chống lại những biến cố, rủi ro, bất hạnh của mỗi cá nhân. Nhờ sự hợp
sức, đoàn kết trên tinh thần tương thân tương trợ này mà những rủi ro, biến cố khó
khăn của các cá nhân sẽ được dàn trải trên phạm vi rộng, giúp họ giảm gánh nặng
tài chính, nhanh chóng khắc phục khó khăn. BHYT mang trong mình bản chất xã
hội sâu sắc nhưng cũng cần hiểu rõ rằng BHYT không phải là sự ban ơn, sự chiếu
cố của xã hội mà đó là cộng đồng trách nhiệm của xã hội đối với thành viên của
mình. Điều đó vừa thể hiện trình độ văn minh, tính tổ chức xã hội, vừa thể hiện bản
chất nhân văn, tính người của mỗi cá nhân.

chăm sóc sức khỏe cho nhân dân theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng
làm", dựa trên nguyên tắc "lấy số đông bù số ít". Ngày 26/10/1990, Hội đồng Bộ
trưởng đã có Công văn số 3504/KG đồng ý để một số địa phương thực hiện thí
điểm BHYT.

11


Giai đoạn từ năm 1992 đến 1998: Trong giai đoạn này, Nhằm tăng cường
công tác bảo vệ, chăm sóc giáo dục sức khỏe cho học sinh và để thực hiện Nghị
định 299-HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), ban
hành Điều lệ BHYT, Quyết định 241/TTg ngày 24/5/1993 của Thủ tướng Chính
phủ "Về việc thu và sử dụng học phí" trong đó cho phép thu BHYT học sinh. Liên
Bộ Giáo dục, Đào tạo - Y tế đã có Thông tư 14/TTLB-BGD&ĐT-BYT ngày
19/9/1994 về hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho học sinh (gọi tắt là BHYT
học sinh) trên phạm vi cả nước.
Giai đoạn từ 1998 đến năm 2007: Giai đoạn chính sách BHYT được thực
hiện theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ, Thông tư
40/1998/TTLT-BGD&ĐT-BYT và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác quy
định về pháp luật BHYT đối với học sinh sinh viên.
Giai đoạn từ 2008 đến 2013: Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008
ra đời cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn quy định chi tiết về đối tượng, mức đóng,
quyền lợi và chế độ chính sách về BHYT đối với HSSV. Nghị quyết số 21-NQ/TW
ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020"; đây là giai đoạn tiền
đề triển khai thực hiện BHYT toàn dân và chuyển dần hình thức BHYT đối với
HSSV từ tự nguyện sang bắt buộc.
Giai đoạn từ 2014 đến nay: Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT; Nghị định 105/2014/NĐ-CP
ngày 15/11/2014 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT

đạt hiệu quả cao nhất.
Thứ tư, pháp luật BHYT đối với HSSV góp phần cùng với các loại hình bảo
hiểm con người khác nhằm khắc phục nhanh chóng những hậu quả xảy ra với con
người. Đó cũng là lý do mà Chính phủ các nước luôn quan tâm đến pháp luật BHYT
HSSV hay các chính sách chăm sóc sức khỏe cộng đồng nói chung.
Thứ năm, pháp luật BHYT đối với HSSV cũng góp phần nâng cao chất
lượng khám chữa bệnh và điều trị, nâng cấp các cơ sở y tế, từ đó làm chất lượng

13


ngành y tế không ngừng được nâng cao. Trong khi nguồn ngân sách nhà nước đầu
tư cho ngành y tế còn eo hẹp thì việc huy động các nguồn vốn khác cho chi tiêu của
ngành còn chậm và thiếu đồng bộ. Thu viện phí khối lượng rất ít song lại tạo rất
nhiều khe hở cho các tiêu cực phát triển dẫn tới một thực tế bệnh nhân phải tăng phí
tổn khám chữa bệnh, đầu tư cho ngân sách không hề bị giảm bớt mà bệnh viện vẫn
bị xuống cấp. Bên cạnh đó các nguồn khai thác của dân, các tổ chức kinh tế, các
nguồn viện trợ trực tiếp chậm được thể chế hóa và chưa dung hòa chung vào ngân
sách y tế, làm hạn chế phát huy các nguồn vốn quan trọng này. Do đó, khi thực hiện
pháp luật BHYT sẽ tạo ra nguồn kinh phí hỗ trợ cho ngành y tế nhằm góp phần
nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị, nâng cấp các cơ sở y tế ngày càng
tốt hơn, đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe nhân dân.
1.3. Pháp luật về bảo hiểm y tế của một số nước trên thế giới và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam
Các mô hình BHYT xuất hiện trước hàng thế kỷ nay là vào thế kỷ 18, 19 tại
Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Mỹ… và đến nay tại các nước trong khu vực Châu Á
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… cũng đang phát triển BHYT theo nhiều
hướng. Tuy nhiên, mô hình tổ chức BHYT và tác dụng của mô hình đó với mỗi nước là
rất khác nhau. Trên thế giới, phần lớn các nước thực hiện hình thức BHYT nhằm bổ
sung thêm quyền lợi cho người tham gia ngoài gói quyền lợi cơ bản khi tham gia

thể mua BHYT tại các chi nhánh của "Bưu chính Nga", dự án này hiện được triển
khai tại một số tỉnh thành lớn của Liên bang Nga như thành phố Matxcơva và tỉnh
Matxcơva, tỉnh Novosibirsk, tỉnh Rostov, tỉnh Chelyabinsk, vùng Perm, Cộng hòa
Tatarstan. Bất kỳ người nước ngoài nào ở độ tuổi từ 18 đến 65 đều có thể sử dụng
dịch vụ mới này. Người mua BHYT được chi trả các chi phí về nghiên cứu chuẩn
đoán, phẫu thuật và tiền thuốc, các chi phí liên quan đến chữa trị khi bị chấn thương
các loại, bị bỏng, khi mô bị lạnh hỏng, bị ngộ độc và khi bị hồi hương. Mức bồi
thường tối đa của bảo hiểm này là 100 nghìn rúp, giá bán bảo hiểm là 599 rúp với
thời hạn hiệu lực là 3 tháng. Để mua BHYT nói trên tại các chi nhánh của "Bưu
chính Nga", người nước ngoài chỉ cần xuất trình thẻ nhập cảnh.
1.3.2. Pháp luật bảo hiểm y tế ở Trung Quốc
Trung Quốc là đất nước có số dân cư đứng hàng đầu thế giới song nhiều
năm qua BHYT của Trung Quốc chưa tìm được những hướng đi phù hợp để thu hút

15


được cộng đồng tham gia BHYT. Tuy nhiên giai đoạn trước năm 1999 với mô hình
BHYT cho khu vực nông thôn dựa trên cơ sở hệ thống y tế các hợp tác xã làm nòng
cốt, cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho đối tượng
tham gia BHYT của Trung Quốc đã đưa tỷ lệ người tham gia BHYT lên đến 90%
dân số, tương ứng với trên 1 tỷ dân vào những năm của thập kỷ 70. Số người tham
gia BHYT bắt buộc tập trung tại các khu vực đô thị trong đó có cả người ăn theo
được chi trả 50% chi phí. Trong quá trình đổi mới các thành phần kinh tế của Trung
Quốc dẫn đến sự tan rã của hệ thống y tế hợp tác xã kèm theo sự yếu kém về mặt
quản lý quỹ BHYT, sự thiếu thống nhất trong các chế độ BHYT dẫn đến khả năng
chia sẻ rủi ro thấp, BHYT cho khu vực nông thôn không thể tồn tại. Mặc dù đã có
sự cải tổ trong chính sách BHYT, đó là năm 1999 thành lập hệ thống BHYT mới
với 4 nguyên tắc hoạt động là: phí thấp, diện bao phủ rộng, hai bên cùng đóng góp,
phối hợp quỹ chung và tài khoản cá nhân, BHYT chỉ được coi như loại hình BHYT

tuyên bố đạt mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân. Nội dung của "Thẻ vàng 30 bạt
chữa mọi bệnh" đó là: trả 30 bạt/1lần khám, đăng ký khám chữa bệnh tại một cơ sở
y tế; đầu mối khám chữa bệnh ở nông thôn là bệnh viện các tuyến huyện và các văn
phòng khám tại khu vực, ở thành thị là các bệnh viện tỉnh, bệnh viện trung ương,
các phòng khám; khi khám chữa bệnh ngoại trú được thanh toán theo khoán định
xuất, khám chữa bệnh nội trú được thanh toán theo nhóm chẩn đoán.
Hệ thống BHYT Thái Lan là một trong những hệ thống BHYT phức tạp
trong khu vực Đông Nam Á. Mặc dù là quốc gia thực hiện BHYT nhanh nhất trong
khi vực nhưng hệ thống BHYT Thái Lan đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức
do chịu ảnh hưởng của sự bất ổn về hệ thống chính trị cũng như trong công tác quản
lý và thực hiện BHYT như tình trạng lạm dụng BHYT, chi phí gia tăng, hệ thống
quản lý bị phân tán.
1.3.4. Bài học kinh nghiệm về thực thi pháp luật bảo hiểm y tế và bảo
hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên cho Việt Nam
Từ những kết quả mang lại của mô hình BHYT đối với HSSV tại các nước
khác nhau, có thể thấy muốn đảm bảo thực hiện tốt pháp luật BHYT đối với HSSV,
Việt Nam cần lưu ý những điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, chủ động triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
BHYT: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được thông qua tại kỳ

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status