Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
Khoa Ngân hàng- Tài
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính quan trọng đối với nền kinh
tế. Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại thì hoạt động tín
dụng là hoạt động mang lạị lợi nhuận lớn và đồng hành theo đó là rủi ro rất cao. Vì
thế ngân hàng thương mại đã tìm mọi biện pháp để hạn chế loại rủi ro này, một
trong các biện pháp để hạn chế rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp là phân
tích tài chính doanh nghiệp. Đây là một biện pháp rất quan trọng và thật sự cần thiết
trong hoạt động cho vay. Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp đạt chất lượng
cao thì hoạt động tín dụng mới đạt kết quả tốt và ngược lại. Vì vậy, chất lượng của
công tác phân tích tài chính doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng cần được các
ngân hàng thương quan tâm.
Sau thời gian thực tập Sở giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương - là nơi đầu tiên thực thi các chính sách của Ngân hàng Ngoại thương, em
thấy chất lượng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại đây chưa cao. Vì thế
em đã quyết định chọn đề tài “Nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh
nghiệp trong hoạt động cho vay tại Sở giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại thương” cho chuyên đề thực tập của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề thực tập là thực trạng công tác phân tích
tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
thương dựa trên lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp, để từ đó đánh
giá chất lượng của công tác này và đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao
chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch.
Em xin gửi lời cảm ơn tới ThS. Đoàn Phương Thảo đã tận tình hướng dẫn để
em hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp, và xin cảm ơn đến các cán bộ Phòng
Quan hệ khách hàng của Sở giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
Thương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình thực tập. Do còn hạn
chế về thời gian thực tập cũng như kinh nghiệm thực tế nên bài viết của em không
tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong sự đóng góp ý kiến của cô giáo để bài viết
được hoàn chỉnh hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
3
Khoa Ngân hàng- Tài
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1.Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1.Khái niệm
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng có nhiều loại trong đó ngân hàng thương mại (NHTM) chiếm tỷ
trọng lớn về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
NHTM là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
chính
4
Khoa Ngân hàng- Tài
Về cơ bản thì huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của
các cá nhân, tổ chức kinh tế xã hội dưới các hình thức huy động khác nhau từ
các nguồn:
Vốn nợ bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, tiền gửi của
các NHTM khác, tiền vay ngân hàng nhà nước (NHNN), tiền vay các tổ chức
tín dụng khác, vay trên thị trường vốn hoặc nguồn ủy thác, nguồn trong thanh
toán, nguồn khác.
Vốn tự có bao gồm: Nguồn vốn hình thành từ ban đầu, nguồn vốn bổ sung
trong quá trình hoạt động và các quỹ.
Trong hoạt động huy động vốn thì hoạt động nhận tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn
nhất và đóng vai trò quan trọng trong tổng nguốn vốn của NHTM. Nhận tiền gửi để
tạo nguồn lực tài chính tài trợ cho vay, hoạt động cho vay là hoạt động mang lại
nhiều lợi nhuận cho NHTM vì thế các NHTM đã có nhiều biện pháp để huy động
được lượng tiền gửi lớn như là khuyến mãi, hạ lãi suất tiền gửi, tiết kiệm trúng
thưởng và đưa ra nhiều hình thức huy động đem lại lợi ích cho khách hàng.
Như vậy, hoạt động huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM là
hoạt động đóng vai trò rất quan trọng, là nguyên liệu đầu vào để kinh doanh của
NHTM. Chất lượng hoạt động này ảnh hưởng rất đến chất lượng hoạt động của
NHTM do nó tác động rất lớn đến chất lượng của các hoạt động khác – là các hoạt
động trực tiếp tạo lợi nhuận.
1.1.2.2. Sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động tạo nên các tài sản khác nhau của
NHTM. NHTM thông qua tìm kiếm các khoản vốn để sử dụng nhằm tạo ra lợi
nhuận. Do là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nên các tài sản của NHTM chủ yếu
gian,hình thức tài trợ, theo hình thức đảm bảo, theo rủi ro và phân loại khác.
Theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành: Cho vay, bảo lãnh, cho thuê,
chiết khấu thương phiếu. Trong đó hoạt động động cho vay rất quan trọng, đó là
việc NHTM đưa tiền cho khách hàng với cam kết phải hoàn trả cả gốc và lãi trong
khoảng thời gian xác định, nó tạo thu nhập chính cho NHTM chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng thu nhập, quyết định đến kết quả kinh doanh cũng như sự tồn tại và phát
triển của NHTM.
Thông qua hoạt động tín dụng các NHTM cung cấp tín dụng cho cá nhân, tổ
chức kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh nói riêng thúc đẩy phát triển
nền kinh tế nói chung. Khi hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển các cá nhân,
các doanh nghiệp lại gửi tiền tạo nguồn vốn cho NHTM.
Tài sản uỷ thác: Tài sản được hình thành theo sự uỷ thác của khách hàng.
NHTM làm dịch vụ uỷ thác cho vay cho các ngân hàng khác, các tổ chức chính phủ
hoặc phi chính phủ. Tài sản này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng tài sản song ít
rủi ro và mang lại thu nhập tương đối cho NHTM.
Phần hùn vốn: NHTM có thể tham gia góp vốn vào các tổ chức khác
(không thể hiện dưới hình thức nắm giữ chứng khoán) như là tham gia góp vốn vào
các ngân hàng liên doanh và các công ty vv…
Các tài sản khác: Nhà cửa và trang thiết bị của NHTM phục vụ cho quá
trình kinh doanh của NHTM và cho thuê. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản
song các tài sản này ảnh hưởng tới vị thế và năng suất của NHTM
Các tài sản ngoại bảng: NHTM đưa ra cam kết của mình đối với khách
hàng hình thành nên một loại tài sản là hợp đồng cam kết ví dụ như hợp đồng bảo
lãnh, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai…NHTM có thể quản lý hộ tài sản cho
khách hàng, cất giữ hộ vv...Đây là những tài sản ngoại bảng do không được hình
thành trực tiếp từ nguồn vốn của NHTM.
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
năng trong việc thu ngân các NHTM đồng ý quản lý việc thu và chi cho một
công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các
chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt
để thanh toán.
Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn : NHTM sẽ quản lý tài sản và quản lý tài
chính hộ cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ ủy thác được mở rộng ra như là ủy thác
vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư vv…Ngoài ra NHTM
còn được ủy thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời vv…
Nhiều khách hàng xem NHTM như chuyên gia tư vấn tài chính về các lĩnh vực như
về đầu tư, quản lý tài chính, về thành lập mua bán sát nhập doanh nghiệp.
Bên cạnh những dịch vụ tài chính nêu trên các NHTM còn cung cấp các dịch
vụ về môi giới và đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý vv…
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
7
Khoa Ngân hàng- Tài
Ba lĩnh vực hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn, trung gian
cung cấp dịch vụ tài chính là các hoạt động cơ bản của NHTM. Ba dịch vụ đó có
quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển, tạo uy tín cho NHTM.
Có huy động vốn thì mới có hoạt động sử dụng vốn, sử dụng vốn có hiệu qủa phát
triển kinh tế thì mới có nguồn vốn để huy động vào. Đồng thời muốn sử dụng vốn
và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt vai trò trung gian, chính sự kết hợp
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
8
Khoa Ngân hàng- Tài
nghiệp trong những năm gần đây. Nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả
và có khả năng trả nợ tốt thì NHTM sẽ cho vay với hạn mức cho vay nhất định và
ngược lại. Nếu không có công tác PTTCDN ở giai đoạn trước khi cho vay thì rủi ro
cho NHTM sẽ rất cao vì không có một căn cứ chính xác nào để ra quyết định cho
vay, NHTM sẽ không thu hồi được nợ nếu doanh nghiệp được vay vốn làm ăn kém,
phá sản không có khả năng trả nợ.
Thứ hai là PTTCDN trong khi cho vay: PTTCDN trong giai đoạn này giúp
NHTM đánh giá sự biến động tình hình tài chính doanh nghiệp trong một khoảng
thời gian, xem nó biến động theo chiều hướng nào để đánh giá được các khoản nợ,
nhằm kịp thời có các biện pháp ứng phó trong trường hợp chiều hướng xấu thuộc về
mình. Công tác PTTCDN trong khi cho vay nên thực hiện theo định kỳ để có thể
theo dõi tình hình tài chính doanh nghiệp vay vốn một cách thường xuyên.
Thứ ba là PTTCDN ở giai đoạn thu nợ : PTTCDN ở giai đoạn này giúp
NHTM đưa ra được các cách giải quyết: thu nợ luôn hay tiếp tục cho khách hàng sử
dụng vốn, có cho vay thêm hay không, có cho gia hạn nợ hay không. Trong trường
hợp doanh nghiệp vay vốn có tình hình tài chính tốt, khả năng trả nợ ở giai đoạn thu
nợ cao mà muốn tiếp tục sử dụng nợ vay hoặc muốn vay thêm thì sẽ được NHTM
cân nhắc.
Như vậy PTTCDN thật sự cần thiết và quan trọng trong hoạt động cho vay,
công tác này giúp các NHTM đưa ra được các quyết định tài chính đúng đắn nhằm
Thứ hai, những thông tin về ngành, lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp cụ
thể là: các thông tin về chỉ số trung bình ngành, thông tin về triển vọng phát triển
của ngành, tầm quan trọng của ngành trong nền kinh tế, độ lớn của thị trường và
triển vọng phát triển, cơ cấu ngành (mức độ tập trung hóa ,các tập đoàn chủ yếu
vv...) và độ nhạy của ngành trước những biến động của cơ hội ..
Thứ ba, NHTM thu thập thông tin bên ngoài từ người thân, internet, báo,
trung tâm thông tin CIC, nhưng cần kiểm tra mức độ chính xác của nguồn thông tin.
Thông tin nội bộ doanh nghiệp
Để đánh giá một cách căn bản nhất tình hình tài chính doanh nghiệp có thể
sử dụng thông tin kế toán như nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Các báo cáo tài
chính bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu
chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính, chúng phản ánh khá đầy đủ thông tin
kế toán. Độ chính xác của nguồn thông tin này phụ thuộc vào tính minh bạch của
các báo cáo tài chính. Hầu hết các báo cáo tài chính trước khi công khai đều đã
được kiểm toán nhưng chỉ hạn chế được phần nào sai phạm chứ không hạn chế
được tất cả và do các báo cáo tài chính đã bị các nhà quản lý công ty làm đẹp hơn.
Việc báo cáo tài chính không trung thực và hợp lý sẽ làm cho NHTM đưa ra một
quyết định hoàn toàn khác .
Nguồn thông tin và độ chính xác của nguồn thông tin là những yếu tố quan
trọng quyết định đến chất lượng PTTCDN.
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
Khoa Ngân hàng- Tài
trong hệ thống các phương pháp PTTCDN. Những phương pháp sử dụng phổ biến
là: phương pháp so sánh, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp tỷ số,
phương pháp phân tích tổng hợp Dupont, phương pháp hồi quy vv… Tuy nhiên
hiện nay phân tích tài chính có thể sử dụng một số phương pháp cơ bản sau.
Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính
là phương pháp tỷ số. Đây là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để so
sánh, phân tích và nhận xét. Tỷ số được thiết lập giữa chỉ tiêu này và chỉ tiêu khác
và là những tỷ số đơn. Tỷ số tài chính được thiết lập cần so sánh với một mức chuẩn
thì mới có thể đánh giá được một cách toàn diện tình hình tài chính.
Trong PTTCDN các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng
theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp và tùy vào góc độ phân tích nhà phân
tích sẽ lựa chọn những nhóm chỉ tiêu phù hợp với mục đích của mình. Đó là các
nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, khả năng hoạt động, khả năng cân đối vốn và
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
11
Khoa Ngân hàng- Tài
khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ từng bộ
phận của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau.
Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
12
Khoa Ngân hàng- Tài
Thứ nhất, phân tích khái quát tình hình tài chính
a, Phân tích bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp mô tả tình hình tài chính
của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Bảng cân đối thường được
trình bày dưới dạng cân đối số dư các tài khoản kế toán: một bên là phần tài sản,
một bên là phần nguồn vốn.
Nhìn vào bên tài sản người phân tích sẽ thấy được quy mô và kết cấu các loại
tài sản hiện có của doanh nghiệp. Điều này rất quan trọng đối với người cho vay,
một phần là do có một số tài sản là tài sản đảm bảo nợ vay. Người phân tích đánh
giá các khoản mục trong tài sản như ngân quỹ, các chứng khoán có giá, hàng tồn
kho và tài sản cố định bằng cách so sánh các số đầu kỳ và cuối kỳ để xem các khoản
mục này tăng hay giảm qua các năm và tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự tăng giảm
đó. Đồng thời người phân tích xác định cơ cấu các loại tài sản xem đã phù hợp hay
chưa. Đối với ngân hàng họ chú trọng xem xét kỹ các khoản phải thu của doanh
nghiệp để loại trừ những khoản không có khả năng thu hồi, xem xét chứng khoán có
giá vì chúng làm tăng các nguồn thu và có tính thanh khoản khá cao có thể bán
được để chi trả các khoản nợ đến hạn, xem xét số lượng chất lượng ,giá cả hàng hóa
do có nhiều món vay ngắn hạn với mục tiêu tăng dự trữ hàng hóa vv ...
bình ngành, ngân hàng đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp là tốt
hay xấu so với các doanh nghiệp khác, đồng thời nhận biết xu hướng biến động của
kết quả hoạt động kinh doanh.
c, Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh các dòng
tiền nhập quỹ và các dòng tiền xuất quỹ tại thời điểm phát sinh các dòng tiền trong
một thời kỳ nhất định.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết số tiền thực tế xuất quỹ và số tiền thực tế
nhập quỹ, để từ đó căn cứ vào số đầu kỳ, tính ra số dư tiền mặt cuối kỳ. Nhìn vào đó
người phân tích sẽ biết được mức ngân quỹ tối thiểu của doanh nghiệp để đảm bảo
nhu cầu chi trả, đánh giá được khả năng tạo luồng tiền trong tương lai, phân tích
khả năng thanh toán, khả năng trả cổ tức vv...của doanh nghiệp
Người phân tích kết hợp phân tích giữa báo cáo kết quả kinh doanh và báo
cáo lưu chuyển tiền tệ để so sánh doanh thu với số thu thực tế, tổng chi phí với số
chi thực tế để đánh giá chính sách tín dụng và khả năng chiếm dụng vốn của doanh
nghiệp.
Thứ hai, phân tích các tỷ số tài chính
Phân tích tỷ số tài chính là kỹ thuật phân tích căn bản và quan trọng nhất của
phân tích báo cáo tài chính. Việc sử dụng các tỷ số tài chính giúp người phân tích
đo lường và đánh giá tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Các tỷ lệ tài
chính chủ yếu thường được phân thành 4 nhóm chính. Đó là: nhóm tỷ lệ về khả
năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt
động, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lãi. Tùy theo mục đích phân tích mà các nhà
phân tích tài chính tập trung phân tích nhóm tỷ số nào nhiều hơn, đối với các chủ nợ
ngắn hạn thì họ quan tâm nhiều đến nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, đặc biệt là
tỷ số về khả năng thanh toán nhanh. Còn đối với các chủ nợ dài hạn họ quan tâm
hơn đến khả năng thanh toán hiện thời, tỷ số khả năng sinh lãi.
Phan Thị Nhung
Nợ ngắn hạn
Tỷ lệ này cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn phải trả của doanh nghiệp có bao
nhiêu đồng tài sản ngắn hạn quay vòng nhanh có thể sử dụng thanh toán. Cũng
giống như tỷ lệ thanh toán hiện hành để đánh giá tỷ lệ thanh toán nhanh là tốt hay
xấu thì người phân tích còn phải căn cứ vào đặc điểm và ngành nghề kinh doanh
của doanh nghiệp.
Hệ số thanh toán tức thời
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số thanh toán tức thời
=
Nợ ngắn hạn
Tỷ lệ này cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn phải trả của doanh nghiệp có bao
nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương tiền có thể sử dụng thanh toán. Tỷ lệ
này mà cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp cao có lợi cho ngân hàng
nhưng cũng không nên cao quá vì tiền và các khoản tương đương sinh lời thấp,
lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm như thế sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ
của doanh nghiệp.
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
15
Khoa Ngân hàng- Tài
khả năng trả lãi hay không. Khả năng trả lãi của doanh nghiệp cao hay thấp phụ
thuộc vào khả năng sinh lời và mức độ sử dụng nợ. Tỷ số này lớn hơn 1 chứng tỏ
lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp dương, doanh nghiệp có khả năng sử dụng
lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trả lãi vay. Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1
thì có thể là do doanh nghiệp vay nợ quá nhiều và sử dụng nợ vay kém hiệu quả
khiến cho lợi nhuận làm ra không đủ trang trả lãi vay hoặc là khả năng sinh lời của
doanh nghiệp quá thấp khiến cho lợi nhuận làm ra quá thấp không đủ trả lãi vay.
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
16
Khoa Ngân hàng- Tài
Tỷ số khả năng trả nợ
Tỷ số khả năng trả nợ
=
Giá vốn hàng bán + Khấu hao+ EBIT
Nợ gốc + Chi phí lãi vay
Tỷ số khả năng trả nợ đo lường khả năng trả nợ cả gốc và lãi của doanh
nghiệp từ các nguồn doanh thu, khấu hao, EBIT. Tỷ số này cho biết mỗi đồng nợ
Vòng quay khoản
Doanh thu thuần
=
Khoản phải thu bình quân
phải thu
Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau (đơn vị của công thức
này là ngày):
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
Kỳ thu tiền bình quân
17
=
Khoa Ngân hàng- Tài
Số ngày trong năm
Vòng quay khoản phải thu
Trong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng
thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp, nó cho biết bình quân doanh nghiệp
mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu. Vòng quay khoản phải thu càng cao thì
kỳ thu tiền bình quân càng thấp và ngược lại.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Doanh thu thuần
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
18
Khoa Ngân hàng- Tài
d, Các tỷ lệ về khả năng sinh lời
Tỷ lệ về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh
doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
trả nợ và lãi, vì vậy ngân hàng cần quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh
nghiệp. Để đánh giá khả năng sinh lời người ta dùng các chỉ tiêu sau:
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Lợi nhuận trước thuế
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
=
Doanh thu thuần
Tỷ lệ này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu, nhằm cho biết một
đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này phụ thuộc rất nhiều
vào đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh. Ngành ăn uống, dịch vụ, du lịch vv…
có tỷ số này cao. Ngành có tỷ số này rất thấp như là kinh doanh vàng bạc, kinh
doanh ngoại tệ. Để đánh giá chính xác người phân tích cần phải so sánh chỉ số này
với bình quân ngành hoặc so sánh với doanh nghiệp tương tự trong cùng một ngành.
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản
Tỷ suất lợi
Lợi nhuận trước thuế
nhuận trước thuế
=
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
19
Khoa Ngân hàng- Tài
Vì vậy, khi xem xét sự biến động của tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn
chủ sở hữu ngân hàng cần phân tích sự thay đổi của cả ba yếu tố trên để đưa ra
những kết luận đúng đắn.
1.2.3.5. Đánh giá tình hình doanh nghiệp vay vốn
Sau khi tính toán xong các nội dung phân tích thì ngân hàng cần so sánh các
chỉ tiêu đã tính toán với một số căn cứ để đưa ra đánh giá về tình hình tài chính
doanh nghiệp ra các quyết định tài chính.
Một số căn cứ cần so sánh như là: tỷ số trung bình ngành mà doanh nghiệp
hoạt động, các tỷ số của thời kỳ trước đấy, mức độ tin cậy của nguồn thông tin đưa
vào phân tích, các doanh nghiệp khác có hoàn cảnh tương đồng.Dựa vào từng
trường hợp cụ thể mà mà cán bộ tín dụng lựa chọn căn cứ để so sánh.
1.3. Chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay
1.3.1. Khái niệm
Chất lượng PTTCDN là toàn bộ các đặc tính của phân tích đáp ứng được yêu
cầu của người sử dụng kết quả phân tích. Những đặc điểm quan trọng của chất
lượng PTTCDN là thông tin và phương pháp xử lý thông tin, sự phù hợp của chỉ
tiêu phân tích.
Chất lượng PTTCDN là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới
định của ngân hàng có chính xác hay không thường phải khi đi đến kết quả cuối
cùng là thu được cả gốc và lãi thì mới có thể đánh giá được.
Thứ hai, sự thỏa mãn của khách hàng
Doanh nghiệp khi vay vốn đều mong là sẽ nhận được kết quả sớm từ phía
ngân hàng duyệt là được vay hay không? Bởi vì nếu chờ đợi quá lâu thì sẽ tuột mất
cơ hội kinh doanh hoặc tiến trình của dự án sẽ bị chậm lại. Khi ngân hàng đưa ra
quyết định có cho hay không thì ngân hàng phải cho lời giải thích đối với doanh
nghiệp. PTTCDN có chất lượng tốt thì mọi thông tin đưa ra phải đủ để giải thích tại
sao không được vay hoặc tại sao lại được vay trong thời gian đó, thời hạn trả nợ và
kỳ hạn trả nợ là bao lâu. Ngược lại PTTCDN chất lượng chưa tốt nếu ngân hàng
giải thích chưa thuyết phục, hoặc là không thể giải thích được.
Thứ ba, tính khoa học và hợp lý của quá trình phân tích
Đây là yếu tố khá quan trọng phản ánh chất lượng PTTCDN mà ta cần xem
xét. Chất lượng phân tích hiệu quả khi một quá trình phân tích khoa học, có hệ
thống, việc phân tích chuyên nghiệp và đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp,
đồng thời phải phân tích đầy đủ thông tin về tài chính doanh nghiệp. Nguồn thông
tin là yếu tố đầu vào của quá trình phân tích, thông tin có đầy đủ, chính xác, kết hợp
với quy trình chặt chẽ, hợp lý thì việc phân tích mới có hiệu quả cao.
1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng
Thứ nhất, thời gian phân tích
Quá trình phân tích tài chính là quá trình chiếm phần lớn thời gian trong giai
đoạn xét duyệt cho vay và xuyên suốt trong quá trình cho vay. Cùng với sự hoàn
thiện và phát triển của hệ thống phân tích, việc càng rút ngắn được thời gian dành
cho phân tích thì doanh nghiệp càng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với nguồn vốn
ngân hàng. Ngân hàng cũng tiết kiệm được chi phí thời gian, năng suất làm việc cao
thì lợi nhuận của ngân hàng cũng tăng lên. Thời gian phân tích ngắn kèm theo sự
thỏa mãn của khách hàng cao. Nếu thời gian phân tích một khoản cho vay quá lâu
thì khách hàng có thể bị trì trệ trong việc thực hiện dự án hoặc lỡ mất cơ hội kinh
doanh, uy tín của ngân hàng sẽ giảm sút.
Thứ hai, chi phí cho việc phân tích
Ta biết rằng lợi nhuận từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi
nhuận của ngân hàng, nó là nguồn thu nhập chính của ngân hàng. Sự ổn định của lợi
nhuận từ hoạt động cho vay là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng PTTCDN. Chất
lượng PTTCDN có tốt thì ngân hàng giảm thiểu được rủi ro trong cho vay, hay nói
cách khác là ngân hàng sẽ có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi cao. Như thế lợi nhuận
của ngân hàng mới gia tăng. Lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay cũng là biểu
hiện bên ngoài của chất lượng PTTCDN. Nếu chất lượng PTTCDN thấp thì lợi
nhuận từ hoạt động cho vay không cao và ngược lại.
1.3.3. Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp
trong hoạt động cho vay
Chất lượng PTTCDN trong hoạt động cho vay chịu sự tác động của nhiều
nhân tố. Những nhân tố đó được chia thành các nhóm sau: nhân tố khách quan,
nhân tố từ ngân hàng, nhân tố từ khách hàng.
1.3.3.1. Nhân tố khách quan
Thứ nhất, môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế ổn định và nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp làm ăn tốt hơn, các doanh nghiệp càng đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh đòi hỏi phải tìm kiếm nguồn tài trợ từ ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay được
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
22
Khoa Ngân hàng- Tài
sách này là yếu tố dẫn dắt mọi hoạt động cho vay của NHTM và các cán bộ liên
quan phải thực thi theo đúng quy định trong đó. Chính sách cho vay đúng đắn, khoa
học sẽ xác định cho cán bộ tín dụng một phương hướng đúng đắn khi thực hiện
nhiệm vụ của mình. Ngược lại một chính sách cho vay không hợp lý, không đầy đủ,
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính
23
Khoa Ngân hàng- Tài
không khoa học thì tạo ra các quyết định cho vay bị lệch lạc, dẫn đến cho vay không
đúng đối tượng, không đúng mục đích gây thất thoát vốn cho ngân hàng và tỷ số nợ
quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao. Chất lượng PTTCDN theo đó cũng bị
ảnh hưởng.
Thứ hai, phương pháp phân tích của ngân hàng
Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tài
chính. Sử dụng phương pháp phân tích không linh hoạt, không phù hợp với thông
tin sử dụng thì kết quả phân tích sẽ bị ảnh hưởng, ngân hàng sẽ không có được cái
nhìn tổng quát về tình hình tài chính doanh nghiệp vay vốn do việc phân tích không
tổng quát. Có thể một phương pháp phân tích phù hợp với doanh nghiệp này nhưng
không thích hợp với doanh nghiệp khác vì thế đối với mỗi doanh nghiệp khác nhau
thì linh hoạt sử dụng những phương pháp phân tích phù hợp với ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp. Nên sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích để
mang lại kết quả phân tích cao hơn.
Khoa Ngân hàng- Tài
lộ từ phía khách hàng để bỏ qua một số bước trong quá trình phân tích nhằm làm sai
lệch kết quả phân tích, điều này làm chất lượng phân tích sụt giảm. Vì thế cán bộ tín
dụng phải là những người có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn sâu, có
trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc thì chất lượng PTTCDN mới tốt.
Cán bộ tín dụng phải tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình hình tài chính
và thông tin liên quan đến phương án vay, phải phản ánh đúng những thông tin này
để đưa ra phán quyết tài chính một cách chính xác, khách quan và tư vấn cho lãnh
đạo để có được quyết định tốt nhất. Cán bộ tín dụng cần tìm hiểu nguyên nhân, bản
chất của những yếu tố chưa tốt của khách hàng thông qua việc trực tiếp tiếp xúc với
doanh nghiệp, phỏng vấn, tham quan nhà xưởng vv...để tư vấn cho doanh nghiệp
nhằm khắc phục những điểm yếu kém. Từ đó nâng cao năng lực tài chính doanh
nghiệp ,việc trả nợ cho ngân hàng cũng được đảm bảo .
1.3.3.3. Nhân tố từ khách hàng
Thứ nhất, thông tin do khách hàng cung cấp
Nguồn thông tin ngân hàng sử dụng để PTTCDN chủ yếu là các báo cáo tài
chính của doanh nghiệp do chính doanh nghiệp cung cấp trong hồ sơ vay vốn. Liệu
nguồn thông tin này có đáng tin cậy không? Doanh nghiệp thường làm đẹp các con
số trong các báo cáo tài chính nhằm đánh lừa ngân hàng, cụ thể là tăng giảm các
con số một cách tùy ý để tình hình tài chính được tốt hơn. Như thế khả năng tiếp
cận nguồn vốn ngân hàng của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn. Điều này gây rủi ro lớn
cho ngân hàng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng PTTCDN. Ngân hàng sẽ có quyết
định tài chính sai lầm, khả năng thu hồi nợ sẽ thấp vì thế cần kiểm tra chặt chẽ tính
chính xác của nguồn thông tin mà doanh nghiệp cung cấp.
Thứ hai, đạo đức của khách hàng trong việc trả nợ
Đây là cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng PTTCDN. Việc trả
nợ hay không không chỉ phụ thuộc vào khả năng chi trả của doanh nghiệp tại thời
điểm trả nợ mà còn phụ thuộc vào đạo đức của doanh nghiệp đó trong việc trả nợ.
Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp đến hạn trả nợ nhưng không trả, cố tình
thuộc Ngân hàng Ngoại thương có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động của NHTMCP
Ngoại thương Trung ương. Sở giao dịch là chi nhánh cấp I, là nơi thực thi đầu tiên các
chính sách, chiến lược phát triển sản phẩm, dịch vụ của Hội sở chính với các khách
hàng. Cùng với sự phát triển của NHNT thì Sở giao dịch cùng ngày càng mở rộng và
phát triển.
Theo QĐ số 1215 QĐ/NHNN ngày 1/1/2006 Sở giao dịch chính thức được
tách ra khỏi Hội sở chính, hoạt động như một chi nhánh độc lập có tư cách pháp nhân,
thực hiện tất cả các nhiệm vụ của NHNT. Hội sở chính quản lí toàn bộ giao dịch của
ngân hàng, còn giao dịch của toàn bộ khách hàng khác nhau, doanh nghiệp ,cá nhân
đều do Sở giao dịch thực hiện .
Ngày 30/10/2008 Sở giao dịch đã chính thức khai trương trụ sở hoạt động mới
tại địa chỉ 31/33 Ngô Quyền –Hàng Bài- Hoàn Kiếm – Hà Nội. Trụ sở mới nằm ở
trung tâm thành phố - là nơi tập trung nhiều tổ chức tài chính và đông dân cư tạo điều
kiện thuận lợi cho các hoạt động của Sở giao dịch ngày càng lớn mạnh.
2.1.2. Hoạt động cơ bản của sở giao dịch
Hoạt động huy động vốn
Nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế
Nhận tiền gửi của dân cư
Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng
Phan Thị Nhung
Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B