1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh người con ưu tú của dân tộc, là danh nhân văn hóa
của thế giới. Người là kết tinh của tư tưởng “Đại nhân, Đại nghĩa”. Người để
lại cho dân tộc ta một tư tưởng cách mạng, một nhân cách đạo đức cao cả.
Người đã làm “rạng rỡ non sông ta, đất nước ta”. Suốt cuộc đời hi sinh vì sự
nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, việc học tập, rèn luyện tư tưởng,
đạo đức, lối sống và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là việc làm hết
sức cần thiết. Bởi vì tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là nền tảng của xã hội, là
động lực vượt qua khó khăn, thử thách để phát triển kinh tế đất nước, hoàn thiện
nhân cách của mỗi người.
Nhưng hiện nay vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường
đang đứng trước một thách thức không nhỏ. Ảnh hưởng tác động của phim, ảnh,
lối sống hưởng thụ, các trò chơi điện tử mang nặng lối sống bạo lực….. bên
cạnh đó một số phụ huynh lo công việc, ít có thời gian quan tâm đến con cái chỉ
phó mặc cho nhà trường. Một khía cạnh khác là suy nghĩ của một số phụ huynh
và học sinh chỉ quan tâm đến các môn học tự nhiên, coi môn lịch sử là “môn
phụ”. Bộ môn lịch sử đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho
học sinh, giáo dục học sinh lòng yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
lòng biết ơn ông cha ta đổ bao mồ hôi xương máu mới có được cuộc sống tốt
đẹp như ngày hôm nay, giáo dục cho học sinh tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa
xã hội…
Chính vì vậy, bài dạy lịch sử Việt Nam cần phải “giáo dục tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh” để học sinh thấm nhuần tư tưởng đạo đức của Bác. Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức của Bác để sau này trở thành những công dân có
đủ phẩm chất cách mạng, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa,
xây dựng đất nước. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11, 12”.
1. 2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tôi muốn tìm hiểu thực trạng dạy học lịch sử Việt Nam lớp
11,12 ra sao? Trên cơ sở đó tôi lồng ghép giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí
để từ đó các em học tập và làm theo tấm gương của Người.
Hiện nay đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Từng bước hội nhập quốc tế để đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, sánh
vai cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới, thực hiện mục tiêu “xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
chủ nghĩa xã hội”. Học sinh khi ra trường phải là người vừa có tài, có đức “vừa
hồng, vừa chuyên”.
Cùng với các môn Ngữ văn, Giáo dục công dân …. Giáo dục đạo đức cho
học sinh qua tiết học lịch sử là rất quan trọng. Vì môn lịch sử xuyên suốt tiến
trình lịch sử của dân tộc, mỗi thời đại đều xuất hiện những anh hùng dân tộc có
đầy đủ phẩm chất đạo đức để giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc đưa đất nước ta
phát triển. Tiêu biểu trong các vị anh hùng dân tộc đó là chủ tịch Hồ Chí Minh
vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Người đã dâng hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp
cách mạng. Người là kết tinh các phẩm chất cao đẹp của dân tộc ta suốt mấy
nghìn năm dựng nước và giữ nước. Người đã đi xa nhưng Người đã để lại cho
dân tộc một di sản tinh thần hết sức to lớn trên mọi lĩnh vực. Những tư tưởng
của Người là “ kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Đảng và nhà nước ta. Hiện
nay toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang thực hiện học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh. Là giáo viên dạy học lịch sử, qua một số năm
giảng dạy, tôi nhận thấy rằng việc lồng ghép giáo dục đạo đức tư tưởng Hồ Chí
Minh trong các bài giảng là vô cùng cần thiết nhằm nâng cao được tư tưởng đạo
đức cách mạng cho học sinh.
Trước những biến động phức tạp của thế giới một bộ phận cán bộ, đảng viên
có lối sống thiếu mẫu mực, thậm chí biểu hiện suy thoái về đạo đức. Lối sống đã
ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân. Vì vậy để
giáo dục thế hệ trẻ tin tưởng vào bản chất, truyền thống tốt đẹp của Đảng, tin
2
bị của giáo viên là vô cùng cần thiết. Ngoài việc xác định mục đích, yêu cầu, đồ
dùng dạy học liên quan đến bài dạy. Giáo viên còn dự kiến cho bài dạy, dạy mục
nào, chuẩn bị đồ dùng dạy học gì, kiến thức cho mục đó ra sao… Đối với những
bài dạy liên quan đến việc giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thì giáo viên
phải xác định nội dung cần giáo dục, giáo dục thời điểm , cách giáo dục như thế
nào cho phù hợp với bài dạy… dùng hình ảnh tư liệu, nội dung tài liệu liên quan
đến chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi vì tư tưởng đạo đức của Bác là rộng, trên nhiều
lĩnh vực… Cần phải chọn lọc, linh hoạt vận dụng một tư tưởng nào đó để lồng
ghép vào bài dạy. Khi áp dụng phải chú ý đến thời gian phân bố trong tiết học.
Không được “tham” kiến thức, sa đà, không được biến giờ dạy lịch sử thành tiết
kể chuyện đạo đức Hồ Chí Minh.
2.3.2. Tiến hành giáo dục trong giờ học
Đối với việc giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử
có thể thông qua nhiều hình thức. Trong một bài dạy có thể dùng hình ảnh tư
liệu, phim tư liệu, kể chuyện đạo đức Hồ Chí Minh, trích dẫn những câu nói của
3
Bác hoặc trích dẫn những tư liệu văn học về Bác để giáo dục tư tưởng của
Người đối với học sinh. Tôi đã giáo dục cho học sinh một số tư tưởng đạo đức
của Bác Hồ thông qua một số bài học như sau:
Bài học thứ nhất: Giáo dục cho học sinh tinh thần cứu nước, quyết
tâm ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc.
Khi dạy Bài 24 - Việt nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918), phần III – Sự xuất hiện khuynh hướng cứu nước mới ta giáo dục
cho học sinh tinh thần cứu nước, quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước cho dân
tộc của Nguyễn Ái Quốc.
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi. Người thiếu niên
ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy
giờ anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia
Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu, đã dừng chân lại tỉnh Bình Định một thời gian
đáng kể. Khoảng thời gian đó nếu tính đến đầu tháng 8-1910 là hơn 12 tháng, từ
18-5-1909 đến 30-7-1910).
4
Vào một ngày đầu thu tháng 8-1910, Nguyễn Tất Thành tạm biệt Quy Nhơn,
đi vào Sài Gòn. Phong cảnh tươi đẹp, đất đai màu mỡ, rừng vàng biển bạc,
nhưng đâu đâu cũng thấy có những con người lam lũ, rách rưới. Lần theo ven
biển đi đến Phan Rang, anh thấy một cảnh tượng đau lòng mà mấy năm sau, anh
còn nhắc lại với một người bạn: Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là tốt,
song có những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở đâu chúng nó
cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười
sặc sụa trong khi đồng bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân, tính
mạng của người thuộc địa da vàng hay da đen cũng không đáng một đồng xu.
Từ nửa sau tháng 9-1910 đến trước tháng 2-1911, Nguyễn Tất Thành dạy
học ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết). Thời gian đầu, thầy Thành ở nhờ nhà cụ
Hồ Tá Bang, sau chuyển ra ở cùng với học sinh nội trú của trường tại nhà Ngư
trong vườn cụ Nguyễn Thông. Thầy Thành được phân công dạy chữ Hán và chữ
quốc ngữ cho học sinh lớp nhì. Thầy dạy rất tận tâm, hết lòng thương yêu, chăm
sóc học sinh. Thầy đã trao đổi tâm tư về thân phận người dân mất nước nhiệm
vụ cứu nước của mỗi người dân Việt Nam, trước hết là thanh niên có học thức
với các thầy giáo và học sinh. Vấn đề thầy Thành đặt ra cũng là nỗi băn khoăn
chung của thầy và trò, nên đã có ngay được sự đồng cảm sâu sắc, cùng nhau đào
sâu chí căm thù và bồi dưỡng lòng tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc,
bày mưu tính kế đánh đuổi quân thù.
Sau mấy tháng dạy học ở Trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Thành rời
trường đi vào Sài Gòn, thực hiện hoài bão từng nung nấu là tìm cách đi sang
Pháp và các nước phương Tây để xem "họ làm như thế nào rồi trở về giúp
đồng bào chúng ta". Khi nhiều người đang ngoảnh nhìn về phương Đông với
nói thế và từ thuở ấy, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem
những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Một lần khác, trả lời nhà văn Mỹ Anna
luy Xtirông, Người nói: Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi,
lúc này thường hỏi nhau ai là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp.
Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi
thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ
trở về giúp đồng bào tôi. Nguyễn Ái Quốc là một trong số rất hiếm hoi thành
viên của Đảng Xã hội Pháp khi đó là người dân của một xứ thuộc địa. Trong
mùa hè năm 1919, người ta thấy Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong các cuộc họp
của Đảng Xã hội, trong các cuộc họp của Tổng công hội, Hội Nhân quyền...
Bài học thứ hai: Giáo dục tư tưởng tinh thần đoàn kết quốc tế, “Bốn
phương vô sản đều là anh em” của Bác.
Khi dạy Bài 24 - Việt nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918) lớp 11, phần III – Sự xuất hiện khuynh hướng cứu nước mới ta giáo
dục cho học sinh tư tưởng tinh thần đoàn kết quốc tế, “Bốn phương vô sản đều
là anh em” của Bác.Từ năm 1911-1917 Bác đi khắp thế giới Bác từng đi thăm
khu phố Hac-lem nơi ở của người da đen ở Mĩ, Người hiểu rõ được bản chất tàn
bạo của chủ nghĩa thực dân. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh
đã đến nhiều nước trên thế giới, các nước tư bản cũng như thuộc địa. Sau khi
sang Pháp Người nhận xét: “Người Pháp ở Pháp tốt hơn người Pháp ở Đông
Dương”. Người đã chứng kiến cảnh cùng cực của giai cấp công nhân và nhân
6
dân lao động, đồng thời cũng thấy rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản. Thực tế
sinh động đã giúp Người đồng cảm và nhận thức rõ: Nơi đâu cũng có người
nghèo như ở xứ mình, dù ở các nước thuộc địa hay chính quốc, họ đều bị áp
bức, bóc lột tàn nhẫn bởi chủ nghĩa thực dân tàn ác. Người đi tới kết luận: "Dù
màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc
lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà
trình qua các nước giúp Hồ Chí Minh nhận thấy rằng phải có được quan hệ hợp
tác giúp đỡ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa. Ngay từ năm
1921, Người khẳng định thực dân đế quốc là kẻ thù của nhân dân thuộc địa và
cũng là kẻ thù của nhân dân lao động chính quốc. Bởi vậy, để chống lại kẻ thù
chung, đạt tới mục tiêu giải phóng thân phận nô lệ và bị bóc lột, đòi hỏi sự đoàn
kết liên minh chặt chẽ nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc. Điểm mới
và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người đã chứng minh được bọn đế
quốc không chỉ áp bức bóc lột nhân dân các nước thuộc địa, mà còn thống trị
nhân dân lao động và giai cấp vô sản chính quốc.
7
Từ năm 1924, Người đã trở thành một trong những cán bộ Châu Á đầu
tiên thực thi nhiệm vụ liên kết giữa các dân tộc Châu Á với phong trào vô sản
thế giới. Trong những năm tháng nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập và
bảo vệ nền độc lập của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm chăm lo
phát triển tình hữu nghị giữa Việt Nam với các nước Châu Á, Châu Phi, Châu
Mỹ Latinh để mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam và khẳng định sự ủng hộ
cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Đồng
thời, Người còn luôn nhấn mạnh những nhiệm vụ đối với cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc của nhân dân các nước này. Kết luận này cho thấy nhận thức của
Hồ Chí Minh về ý thức dân tộc và ý thức giai cấp đã từ tầm nhìn quốc gia tới
tầm nhìn quốc tế. Kết luận trên cũng là sự khởi đầu của tư tưởng đoàn kết quốc
tế Hồ Chí Minh - đoàn kết với những người lao khổ, cần lao trên thế giới, luôn
gắn liền lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc
tế.
Bài học thứ ba: Giáo dục tư tưởng: Suốt cuộc đời hoạt động của Bác
là giải phóng giai cấp, giải phóng loài người xây dựng một xã hội tốt đẹp
không còn người bóc lột người.
Khi dạy Bài 12 - Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam từ 1919 đến năm
cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn
Ái Quốc.
Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có
hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học
phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở
Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của
nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách
mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế
quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền
cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận
điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành
Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một
mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh
dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư
tưởng và lập trường chính trị của Người - từ một nhà yêu nước chân chính trở
thành một chiến sĩ cộng sản.
Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây,
Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng
lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển
lực lượng cách mạng… Việc Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn
tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư
tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành
cơ bản. Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước
để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc
đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc Việt Nam.
Bài học thứ tư: Giáo dục tư tưởng: Chăm lo, bồi dưỡng cho các thế hệ
cách mạng đời sau.
Khi dạy Bài 13 - Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt nam từ 1925 đến năm
hoài bão, có nghị lực, có văn hóa….. Từ việc giáo dục tư tưởng này để cho học
sinh nhận thức được vài trò của thế hệ thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc từ đó ra sức học tập, chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức nhân loại góp
phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khi dạy Bài 17 lớp 12 - Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền
dân chủ nhân dân (1945-1946) ta giáo dục tư tưởng: chăm lo, bồi dưỡng cho
các thế hệ cách mạng đời sau của Người.
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, tháng 9 - 1945, Bác đã viết thư
gửi học sinh, sinh viên toàn quốc. Trong thư có đoạn viết: “Non sông Việt Nam
có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang
để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một
phần lớn ở công học tập của các em”.
Bác khuyên nhủ thanh thiếu niên phải ra sức học tập, rèn luyện để tự mình
có đủ sức mạnh để tham gia kháng chiến, kiến quốc, gìn giữ hòa bình, xây dựng
đất nước mạnh giầu, phồn vinh. Bác rất tin tưởng thanh niên, tin vào ý chí, nghị
lực và quyết tâm đánh thắng “giặc ngoại xâm”, “giặc đói”, “giặc dốt”; làm
rạng danh dân tộc, giống nòi Việt Nam. Với tuổi trẻ, óc sáng tạo và sự dồi dào
sức lực, thanh niên có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành trách
nhiệm vẻ vang mà cả dân tộc giao phó. Bác viết: “Không có việc gì khó; chỉ sợ
lòng không bền; đào núi và lấp biển; quyết chí ắt làm nên”.Bác không chỉ
chăm lo bồi dưỡng tư tưởng cách mạng cho thế hệ thanh niên mà Người còn
quan tâm đến các cháu thiếu niên nhi đồng. Để làm tốt công tác giáo dục đào
tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Bác đề cao vai trò, trách nhiệm, sự
nêu gương, mẫu mực, mẫn cán của đội ngũ cán bộ và các thế hệ cha, anh, những
người đi trước. Theo Bác, thế hệ đi sau phải tiến bộ hơn thế hệ đi trước mới tốt,
nếu thế hệ đi sau không bằng thế hệ đi trước, như thế là thụt lùi, là đáng phê
bình. Và đó cũng là khuyết điểm của người lớn tuổi, thế hệ cha anh. Vì vậy, dù
bận trăm công ngàn việc, Bác đều dành thời gian quan tâm đến các cơ sở giáo
dục và đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác giáo dục đào tạo; coi đó là một
trong những nhiệm vụ quan trọng, chiếm vị trí hàng đầu của việc phát huy nhân
tương lai đó”.
Giáo viên liên hệ thực tế để giáo dục học sinh. Ngày nay đất nước hòa
bình.Cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì mỗi học sinh
phải ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, chiếm lĩnh đỉnh cao
của tri thức. Để sau này góp phần xây dựng đất nước.
Bài học thứ năm: Giáo dục cho học sinh tinh thần vì dân vì nước của
Bác.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, là
kết quả của sự kết hợp giữa tư tưởng lấy "dân làm gốc" ra đời trong truyền
thống dựng nước, giữ nước của dân tộc và học thuyết Mác- Lênin về vai trò của
quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng. Kết hợp giữa truyền thống và
hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn - Chủ tich Hồ Chí Minh đã nâng tư
tưởng “Nước lấy dân làm gốc” lên một tầm cao mới vừa mang tính khoa học,
vừa mang tính nhân văn sâu sắc.
Quan điểm cơ bản trong tư tưởng của Người về vai trò quần chúng nhân dân
là: "Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc". Đây chính là chân lý
mà Người đúc kết được sau bao năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài và tổng kết
từ thực tiễn cách mạng trong nước. Bác khẳng định:“Cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào.
Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng
cách mạng vô tận của nhân dân” . “Trong cuộc kháng chiến kiến quốc lực
11
lượng chính là ở dân”. “Cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần
của dân, để gây hạnh phúc cho dân” . "Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu
thắng lợi trên nền nhân dân" .
Tư tưởng này xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động của Bác, thể hiện qua
nhiều bài dạy. Suốt cuộc đời của chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ khi ra đi tìm đường
cứu nước đến khi vĩnh biệt chúng ta Người chỉ có một ham muốn “Ham muốn
mạn trong kiến thức, góp phần quan trọng hoàn thiện nhân cách học sinh.
Kết quả giảng dạy bộ môn của tôi trong nhiều năm liền luôn đạt ở mức
cao: 75% khá giỏi, 25% trung bình, Không có học sinh yếu kém, học sinh hứng
thú học tập môn sử hơn.
12
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Dạy học là việc làm sáng tạo. Giáo viên được mệnh danh là “kĩ sư tâm hồn,
là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa”. Vì vậy để dạy tốt gây hứng thú cho học
sinh, góp phần giáo dục đạo đức cho học sinh qua tiết học lịch sử thì mỗi giáo
viên cần phải sử dụng các phương pháp dạy học. Tùy theo nội dung bài học, tùy
theo đối tượng học của từng khối, lớp. Đối với việc lồng ghép giáo dục đạo đức
cho học sinh thông qua việc lồng ghép giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh
trong tiết học lịch sử, thì giáo viên phải biết linh hoạt, phân bố thời gian, kiến
thức cho phù hợp với từng bài. Tránh tình trạng giáo viên quá sa đà dẫn đến việc
biến tiết học lịch sử thành tiết kể chuyện đạo đức Hồ Chí Minh. Không truyền
thụ hết nội dung trong bài học.
Bản thân tiếp tục vận dụng lồng ghép giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh trong dạy học lịch sử để tích hợp, củng cố, nâng cao kiến thức, hiểu biết
về Hồ Chí Minh nhằm góp phần quan trọng trong lĩnh vực đào tạo thế hệ trẻ
trong giai đoạn hiện nay mà môn lịch sử là một phần quan trọng trong việc hình
thành nhân cách thế hệ trẻ.
Tư tưởng của Bác vô cùng rộng lớn, trên nhiều lĩnh vực là “Kim chỉ nam”
cho mọi hoạt động của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong công cuộc đổi mới hiện nay. Trên đây là một số giải pháp để
lồng ghép giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử Việt
Nam lớp11, 12 chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong sự trao đổi, đóng góp
của đồng nghiệp để nhiệm vụ dạy- học được tốt hơn.
3.2. Kiến nghị