MỤC LỤC
1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
2.
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.1.4.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.4.
3.
3.1.
3.2.
Trang
MỞ ĐẦU
1
Lý do chọn đề tài
1
Mục đích nghiên cứu
2
Tổ chức thực hiện
9
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
16
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
16
Kết luận
16
Kiến nghị
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
18
PHẦN PHỤ LỤC MINH HỌA
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Thực trạng giờ dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay nói chung
và trong nhà trường THPT nói riêng còn đơn điệu, tẻ nhạt khiến khá đông học
sinh không có hứng thú học văn dẫn đến chất lượng môn học ngày càng giảm
sút. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó phải kể tới:
khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu tác phẩm, nhiều giáo viên chưa xác định đúng
"chất của loại" trong thể. Xa rời bản chất loại thể của tác phẩm nên khi khai thác
tác phẩm văn học không những không làm cho tác phẩm sống động, giàu sức
hấp dẫn mà ngược lại làm cho tác phẩm khô khan, chết cứng.
Dạy học văn theo thể loại là một trong những yêu cầu cơ bản trong nhà
trường phổ thông hiện nay. Vì "Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thể loại là
một trong những hướng khoa học nhất, hiệu quả nhất, vừa có ý nghĩa về khoa
học cơ bản, vừa thiết thực về khoa học sư phạm, là một công đôi việc, là mũi
trrn đạt được hai đích, là cần thiết với nhà nghiên cứu, đồng thời cần thiết với
đặc trưng thể loại nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy
học sinh làm trung tâm; phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học
sinh; nâng cao chất lượng giờ dạy học, đồng thời tiếp tục rèn luyện cho học sinh
kĩ năng đọc- hiểu các văn bản văn học, nhất là các văn bản thơ Nôm Đường luật
để từ đó nhân rộng ra là nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, chất lượng giáo
dục trong trường THPT nói chung.
- Đề tài này cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp
trong quá trình giảng dạy.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học văn bản thơ Nôm Đường luật “Cảnh ngày hè” theo
đặc trưng thể loại.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thu thập thông tin và xử
lí thông tin; phương pháp thực nghiệm; phương pháp so sánh; phương pháp
thống kê, xử lý số liệu.
- Trao đổi cùng với tổ chuyên môn, lấy ý kiến góp ý, bổ sung từ các đồng
nghiệp để có thể thực hiện tốt hơn đề tài nghiên cứu này.
3
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1 Thể loại và việc dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng
thể loại trong nhà trường
2.1.1.1. Quan niệm chung về thể loại văn học
Lí luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học
thành các loại và các thể. Loại và thể phụ thuộc chặt chẽ với nhau nhưng vẫn có
tính độc lập tương đối. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: Loại tự sự,
loại trữ tình, loại kịch. Mỗi loại gồm một số thể nhỏ.
Việc xác định thể loại có tính chất tương đối. Song vẫn cần thống nhất
loại thơ Nôm Đường luật nói chung và đặc điểm của các bài thơ Nôm Đường
luật cụ thể để từ đó có biện pháp dạy học phù hợp giúp học sinh có thể cảm thụ
được cái hay cái đẹp của thể thơ này.
2.1.3. Những năng lực tiếp nhận văn học
Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn, cố GS Phan Trọng Luận đã
4
rất quan tâm đến việc triển khai quan niệm về năng lực trong dạy học văn
chương. Tác giả cho rằng: có 3 loại năng lực văn chương: năng lực sáng tạo,
năng lực phê bình và năng lực tiếp nhận, trong đó năng lực tiếp nhận là năng lực
cần hình thành cho học sinh [8]
Theo tác giả, những năng lực tiếp nhận bao gồm:
(1) Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật.
(2) Năng lực tái hiện hình tượng.
(3) Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học.
(4) Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp khái quát hóa chi tiết nghệ thuật.
(5) Năng lực nhận biết loại thể định hướng tiếp nhận.
(6) Năng lực cảm xúc thẩm mĩ.
(7) Năng lực tự nhận thức.
(8) Năng lực tự đánh giá.
(9) Năng lực sáng tạo ngôn từ (đối với học sinh năng khiếu).
Như vậy, trong hoạt động tiếp nhận văn học thì năng lực nhận biết loại thể
sẽ dẫn dắt người đọc đến những định hướng đúng đắn trong việc lĩnh hội tác
phẩm. Mỗi thể loại có một thi pháp riêng nên nếu không ý thức sự khác biệt của
mỗi loại thể văn học người đọc sẽ dễ lạc hướng. Chẳng hạn như đối với thơ trữ
tình mà lại loay hoay phân tích cốt truyện, nhân vật, biến thơ thành tác phẩm
văn xuôi. Đến với thơ trữ tình mà coi nhẹ, bỏ qua hình tượng cảm xúc, nhân vật
trữ tình thì nhất định người đọc không thể tiếp nhận được sáng tác của nhà thơ.
Do đó, nhận biết được thể loại của tác phẩm văn học và nắm được những đặc
chú trọng dạy theo thể loại. Dạy thơ trữ tình phải dạy cho ra được tâm trạng,
cảm xúc, ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh chứa đựng trong tác phẩm. Dạy tác
phẩm tự sự phải quan tâm tới nhân vật, cốt truyện, chi tiết đặc sắc. Dạy tác phẩm
kịch phải chú ý tới xung đột kịch thể hiện qua mâu thuẫn trong ngôn ngữ, hành
động của từng nhân vật.
Đến với bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi được làm theo thể thơ
Nôm Đường luật (phá cách) thì giáo viên cũng cảm thấy khó khăn trong việc đổi
mới phương pháp, tổ chức giờ dạy để học sinh có thể phát huy hết tính tích cực
chủ động của mình khi tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức bài học (Đa số mới chỉ
chú trọng đến nội dung tư tưởng chứ chưa thực sự quan tâm đến phương diện
thể loại. Do đó, bản thân tôi nghĩ rằng việc dạy học bài thơ “Cảnh ngày hè” cần
được chú trọng đúng đắn hơn nữa về phương diện thể loại.
2.2.3. Thực trạng đối với học sinh
Khi học đến "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi, học sinh còn lúng túng và
ngại học bài này vì đây lầ phần văn khô và khó, đặc biệt là hệ thống ngôn ngữ
với một số từ cổ, ngôn ngữ hàm súc, ý tứ sâu xa và việc đưa vào bài các tư liệu
Hán học- điển tích điển cố cũng gây khó khăn cho các em trong việc tiếp nhận,
khó lĩnh hội đầy đủ được nội dung, ý nghĩa của bài thơ mà tác giả muốn gửi gắm
qua đó.
Trước thực trạng này, chúng ta cần phải tìm cách làm xích lại gần hơn nữa
giữa đối tượng khám phá với đối tượng tiếp nhận. Vì vậy trong tiết dạy, tôi đã
làm nổi bật lên cảm xúc tinh tế của một tâm hồn thi sĩ trước vẻ đẹp thiên nhiên
cuộc sống (khác với các tác phẩm thơ trung đại thường thể hiện quan niệm “Thi
dĩ ngôn chí”- thiên về giáo huấn, khuyên răn) qua hình thức nghệ thuật thơ Nôm
độc đáo của tác giả: bình dị, tự nhiên, đan xen câu lục ngôn vào thơ thất ngôn.
2.3. Các giải pháp thực hiện
2.3.1. Giải pháp
2.3.1.1. Hướng dẫn học sinh nắm được đặc trưng của thể loại thơ Nôm
Đường luật
Theo PGS Lã Nhâm Thìn trong Phân tích tác phẩm văn học Trung đại
bình dị của làng quê Việt Nam. Đó là bài học đạo đức nhân sinh mang tinh thần
dân tộc, tư tưởng nhân dân: coi trọng tình nghĩa, thương yêu đoàn kết, cần cù,
giản dị, chân thành… ngay cả khi viết về các phạm trù đạo đức Nho gia như “ái
ưu”, “trung hiếu”, các tác giả thơ Nôm Đường luật cũng thổi vào đó linh hồn
dân tộc và hơi thở thời đại, khiến các khái niệm này trở nên gần gũi hơn với tâm
thức dân tộc, nhân dân.
Về phương diện nghệ thuật: Khi xem xét các yếu tố hình thức biểu hiện
của thơ Nôm Đường luật. bao gồm hệ thống hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật và
kết cấu, chúng ta cũng nhận thấy sự kết hợp giữa yếu tố Nôm và yếu tố Đường
luật trong chỉnh thể bài thơ. Hệ thống hình tượng của thơ Nôm Đường luật bao
gồm hai bộ phận nhỏ: những hình tượng ước lệ nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống
dân tộc, dân dã và là sản phẩm sáng tạo mới mẻ của các thi nhân.
Như vậy qua khảo sát sơ bộ hai phương diện nội dung và nghệ thuật của
thơ Nôm Đường luật ta có thể khẳng định bản chất của thể loại này là sự thống
nhất biện chứng sâu sắc giữa hai mặt đối lập “Nôm” và “Đường luật”. Có thể
nói, với xu hướng dân tộc hóa, các nhà thơ trung đại đã có sự sáng tạo, cách tân
từ việc sử dụng ngôn ngữ thể hiện tính cách người Việt Nam, để khu biệt giữa
thơ Đường luật Nôm và Đường luật Hán. Và một trong những sáng tạo của các
nhà thơ Dường luật Nôm là sử dụng một cách hiệu quả lớp từ, ngữ thuộc phong
cách hội thoại vào trong thơ. Cũng từ đó, thơ Nôm Đường luật dần dần phá vỡ
tính quy phạm của văn học Trung đại bằng việc “Tăng cường khai thác kho
tàng ngôn ngữ dân gian, bằng việc phát triển ý thức phản ánh cuộc sống”.
(Theo SGK Văn học lớp 10 (chỉnh lý hợp nhất năm 2000), trình bày trong
bài Khái quát văn học Việt Nam từ TK X – hết TK XIX).
2.3.1.2. Đọc kĩ bài thơ, phần chú giải và cắt nghĩa từ khó
Đọc văn là một hoạt động có tính chất đặc thù của quá trình thâm nhập và
tiếp nhận một tác phẩm văn học. Với tác phẩm thơ Nôm Đường luật, việc đọc
càng giữ một vai trò quan trọng. Trong quá trình đọc thơ Nôm Đường luật,
người đọc phải tìm cho được mạch cảm xúc chủ đạo, ngon ngữ, giọng điệu, nhạc
7
làm cho học sinh sống trong bầu không khí nghệ thuật lắng đọng, biết rung cảm,
biết thổn thức với nỗi niềm tâm trạng của nhân vật trữ tình trong thơ thì thông
điệp thẩm mĩ sẽ được truyền đi một cách hiệu quả.
2.3.1.3. Hướng dẫn học sinh phân tích tác phẩm thơ Nôm Đường luật
bằng hệ thống câu hỏi hợp lí
Nêu câu hỏi là cách tốt nhất để hiểu biết những điều đã biết và cả những
điều chưa biết ở học sinh và về học sinh. Đây là một trong những phương pháp
dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Nhận thức rõ
tầm quan trọng của câu hỏi trong dạy học văn chương, chúng ta cần đặc biệt lưu
ý đến việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong bài:
- Nội dung câu hỏi phải rõ ràng, ngắn gọn, chính xác và trực tiếp. Tránh
những câu hỏi đánh đố học sinh. Câu hỏi không được rối rắm, tối nghĩa và có
cấu trúc phức tạp dễ làm học sinh nhàm lẫn.
- Các câu hỏi có chất lượng ngoài tính chất xác định rõ ràng, phải có màu
sắc văn học, có khả năng khêu gợi tình cảm, xúc động thẩm mĩ cho học sinh.
- Câu hỏi có tác dụng kích thích hứng thú và khơi gợi khả năng tìm tòi
sáng tạo của học sinh.
8
- Câu hỏi phải vừa sức học sinh, thích hợp với khuôn khổ một giờ học
trên lớp.
- Cần có sự kết hợp cân đối giữa các loại câu hỏi cụ thể và loại cau hỏi
tổng hợp gợi vấn đề. Câu hỏi có khi theo lối diễn dịch, có khi theo lối quy nạp
nhưng đều nhằm cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vững chắc.
Khi đặt câu hỏi, giáo viên có thể thực hiện một số giải pháp:
- Suy nghĩ thật kĩ vấn đề mình sắp dạy.
- Tham khảo các câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa, sách giáo viên, sách
tham khảo. Xây dựng hệ thống câu hỏi riêng của mình cho bài soạn.
- Cố gắng sử dụng nhiều hình thức diễn đạt khác nhau để hỏi cùng một
Nôm Đường luật một cách cụ thể và sâu sắc hơn. Hơn nữa các em cũng đóng vai
trò quan trọng trong việc đồng sáng tạo tác phẩm văn học.
2.3.1.6. Liên hệ, so sánh về ý nghĩa của cái tôi trữ tình trong xã hội
hiện đại
9
Cùng với việc khám phá văn bản thơ, giáo viên có thể thông qua bài học
để giáo dục tư tưởng, tình cảm, nhân cách sống cho học sinh. Chẳng hạn, có thể
đưa ra những vấn đề thảo luận như sau:
- Em có suy nghĩ gì về những rung cảm tinh tế của tác giả Nguyễn Trãi
trước khung cảnh thiên nhiên cũng như nỗi niềm chân thành, tình yêu tha thiết
của nhà thơ với nhân dân, đất nước với tình cảm, tình yêu quê hương, đất nước,
con người của các bạn trẻ thời nay?
- Muốn có được những tình cảm chân thành như Nguyễn Trãi, tuổi trẻ
ngày nay cần có ý thức và hành động ra sao?
Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh cũng rất hứng thú với phần
liên hệ, so sánh với thực tiễn như vậy. Bài học cũng vì thế mà hứng thú, bổ ích
hơn.
2.3.2. Tổ chức thực hiện
2.3.2.1. Bước 1: Tạo tâm thế hứng khởi cho học sinh
Nhằm tạo tâm thế nhập cuộc và không khí cho lớp học, giáo viên cần thực
hiện tốt ngay từ khâu hỏi bài cũ và lời giới thiệu vào bài mới.
- Hoạt động Hỏi bài cũ không đơn thuần là việc ôn luyện bài cũ, không
chỉ là “thiết chế” buộc học sinh phải thuộc bài… mà Hỏi bài cũ còn nhằm mục
đích chuẩn bị tâm thế, gây hứng thú cho học sinh bước vào bài mới. Vì vậy, hoạt
động hỏi bài cũ được thiết kế dạy học với ý tưởng: Vừa ôn luyện kiến thức liên
quan đến phần khái quát Văn học Việt nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Văn
học Trung đại) vừa gây hứng thú, vừa chuẩn bị tâm thế để HS có ý thức liên hệ
với bài mới. Để tạo tâm thế hứng khởi cho học sinh, giáo viên có thể tiến hành
(8) Văn học Trung đại Việt Nam phát triển qua mấy giai đoạn?
Và một gợi ý cho ô chữ bí mật là: Một đề tài phổ biến, quen thuộc trong
thơ Trung đại Việt Nam? (Học sinh sử dụng dữ liệu này kết hợp với các chữ cái
có được sau khi giải các ô hàng ngang để tìm ra ô chữ bí mật).
Đáp án của trò chơi sẽ là:
V Ă N H Ọ C T R U N G Đ Ạ I
H I
Ệ N T H Ự C
H A I
B À C H Ú A T H Ơ N Ô M
N G U Y Ễ N T R Ã I
Đ Ư Ờ N G L U Ậ T
Y Ê U N Ư Ớ C
B Ố N
Ô CHỮ BÍ MẬT
T H I
Ê N N H I
Ê N
Sau phần khởi động tạo tâm thế, giáo viên giới thiệu bài mới. Phần này
giáo viên cũng cần chú trọng, bởi lẽ về tâm lí, con người thường bị thu hút, lôi
cuốn bởi những lời nói hay, những cách dẫn dắt khéo léo và ấn tượng. Do đó, lời
giới thiệu vào bài mới chính là một trong những nghệ thuật sư phạm của giáo
viên. Với bài “Cảnh ngày hè”, GV có thể giới thiệu từ đề tài “Thiên nhiên” vừa
tìm được trong phần chơi giải ô chữ, ví dụ như:
Ô chữ bí mật chúng ta vừa tìm được là ô chữ “Thiên nhiên”. Với các nhà
thơ trung đại thì thiên nhiên quả là một đề tài rất quen thuộc, phổ biến. Tiêu biểu
như Nguyễn Trãi trong bài tự thán 4 đã tự nhận “Non nước cùng ta đã có
duyên”, thi nhân đến với thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh: Thời chiến, thời bình,
lúc buồn, lúc vui, lúc bận rộn, khi thư nhàn. Và ẩn đằng sau đó là nỗi niềm tâm
sự là vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ. Bài học hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu
+ Kết cấu: chia thành 4 phần: vô đề, môn thì lệnh, môn hoa mộc, môn
cầm thú.
+ Phần vô đề được sắp xếp thành các mục: ngôn chí, mạn thuận, tự thán,
tự thuật, bảo kính cảnh giới….
- Về bài thơ “Cảnh ngày hè”:
Giáo viên kiểm tra kiến thức hiểu biết của học sinh sau đó bổ sung và
hoàn chỉnh kiến thức: Em hiểu biết gì về xuất xứ và hoàn cảnh ra đời bài thơ?
+ Xuất xứ: Bài số 43, mục “Bảo kính cảnh giới”, phần “Vô đề”, tên nhan
đề “Cảnh ngày hè” do người biên soạn đặt.
+ Hoàn cảnh ra đời: Bài thơ được đoán định được nhà thơ sáng tác trong
khoảng thời gian tác giả ở ẩn tại Côn Sơn.
2.3.2.3. Bước 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tác phẩm cụ thể
Trong phần này, trước hết cần cho học sinh đọc và nắm được bố cục bài
thơ:
- Đọc bài thơ: Đây là một bài thơ có một số từ cổ, từ láy nên cần đọc cho
lưu loát. Chú ý đọc diễn cảm, thể hiện đúng tâm trạng thanh thản, vui vẻ, sảng
khoái của Nguyễn Trãi.[9]
Giáo viên lưu ý cho học sinh:
+ Mạch cảm xúc: Từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần
chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn đó là mạch cảm xúc của “Cảnh ngày hè”.
+ Nhịp điệu: Đa dạng hơn về nhịp điệu:
. Câu 1: 1/2/3
. Câu 2: 4/3
. Câu 3: 3/4
. Câu 4: 3/4
. Câu 5: 2/2/3
. Câu 6: 2/2/3
. Câu 7: 4/3
. Câu 8: 3/3.
12
ngôn). Có nhiều cách chia bố cục bài thơ:
+ Theo kết cấu:
. Bốn phần: đề, thực luận, kết
. Hai phần: bốn câu đầu, bốn câu cuối (tiền giả, hậu giải).
+ Theo nội dung: sáu câu đầu, hai câu cuối (bức tranh ngày hè, vẻ đẹp tâm
hồn tác giả)
Từ đó, giáo viên định hướng cho học sinh chia bố cục theo nội dung.
* Cảm nhận chung:
Bài thơ “Cảnh ngày hè” thể hiện vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và
vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn
Trãi. Bài thơ mang vẻ đẹp bình dị, tự nhiên, có sự đan xen câu lục ngôn (sáu
chữ) vào bài thơ thất ngôn (bảy chữ).
Từ đây, giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài thơ qua hình thức thể
loại:
1. Sáu câu đầu: Bức tranh ngày hè
- Giáo viên đặt câu hỏi: em hãy đọc câu thơ đầu tiên và thử hình dung về
hình ảnh thi nhân hiện lên ở đây có đặc điểm gì? (Chú ý từ ngữ, cách ngắt nhịp)
13
- Sau khi học sinh trả lời, giáo viên bổ sung và hoàn chỉnh kiến thức: câu
thơ mở đầu với cách sử dụng các từ ngữ “rồi”, “hóng mát” kết hợp với lối ngắt
nhịp 1/2/3 tạo nên một tâm thế thư thái, thanh thản rất đặc biệt, rất hiếm hoi của
nhà thơ khi đến với thiên nhiên.
- Giáo viên đặt vấn đề bằng câu hỏi: Bức tranh ngày hè được tác giả miêu
tả như thế nào? (hình ảnh, âm thanh, màu sắc, thời gian, trạng thái cảnh vật- GV
kết hợp giới thiệu một số hình ảnh minh họa trên máy chiếu)?
- Học sinh trả lời và giáo viên nhận xét, bổ sung và chốt lại kiến thức:
+ Hình ảnh: Hòe, Thạch lựu, sen, làng ngư phủ, lầu tịch dương.
+ Âm thanh: lao xao chợ cá, dắng dỏi cầm ve.
hồn nhà thơ với cảnh vật.
2. Hai câu cuối: vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi
- GV vừa dẫn dắt vừa đặt câu hỏi: Qua sự cảm nhận bức tranh cảnh vật
sinh động, đáng yêu, đầy sức sống ở những câu thơ trên đã cho ta thấy tâm hồn
yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết của tác giả. Đọc hai câu thơ cuối, em có
14
nhận xét gì về tấm lòng của Nguyễn Trãi? (GV kết hợp giới thiệu hình ảnh minh
họa trên máy chiếu)
- Học sinh phát biểu, giáo viên củng cố, mở rộng thêm: Hai câu cuối:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
mạch thơ từ hướng ngoại sang hướng nội. Từ miêu tả sang biểu cảm, khách thể
sang chủ thể. Nguyễn Trãi đã trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mình trong hai câu thơ
kết. Ấy là một giấc mơ, và cả một học thuyết nhân sinh ấp ủ bật ra thành lời.
Giấc mơ, đó là giấc mơ Nghiêu Thuấn. Giấc mơ ngàn đời của những con người
Phương Đông sống trong thời trung đại. Mong sao có một bậc vua hiền để được
yên ổn ấm no hạnh phúc. Trước hơn bốn trăm năm, thời Tiền Lê, Pháp Thuận đã
phát biểu:
"Vận nước như mây cuốn,
Trời Nam mở thái bình.
Vô vi trên điện các,
Xứ xứ dứt đao binh".[1]
Vận nước có rối ren thế nào cũng mong hai chữ thái bình, nhà vua đừng làm
điều gì nhiễu nhương thì khắp nơi đều hết nạn binh đao. Sau mấy mươi năm, vị
vua hiền minh Lê Thánh Tông cố sức mình cũng chỉ để thỏa lòng mong muốn:
Nhà nam nhà bắc đều có mặt
Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình.
Bây giờ đây, ưu tư thế cuộc, nhìn đời- từ cỏ cây, vạn vật đến sinh linh vui sống
+ Hình ảnh đặc sắc, tiêu biểu.
+ Cảnh sáng tạo bằng nhiều giác quan.
+ Nghệ thuật việt hóa thơ Đường.
- Như vậy, góp phần làm nên nghệ thuật đặc sắc của bài thơ phải kể tới
thể thơ. Thể thơ Nôm Đường luật (phá cách) được thể hiện cụ thể như thế nào
trong bài thơ?
- Học sinh suy nghĩ, trả lời, giáo viên củng cố, mở rộng thêm:
Với đặc điểm về số câu (8 câu), cách gieo vần (cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8),
lối đối ngẫu ở hai liên giữa (cặp câu 3- 4, 5- 6) thì vẫn thấy đây là bài thơ thất
ngôn bát cú. Nhưng bài thơ có một số điểm khác so với thơ thất ngôn bát cú
Đường luật:
+ Xen câu lục ngôn vào thơ thất ngôn: Câu 1 và câu 8 chỉ có sáu tiếng nên
chúng thành những câu độc lập, không gắn với câu 2 và câu 7 thành liên như thể
thơ Đường luật.
+ Đa dạng hơn về nhịp điệu.
+ Bố cục linh hoạt: có thể chia theo nhiều cách.
2.3.2.5. Bước 5: Giáo viên tổ chức cho học sinh liên hệ, so sánh về ý
nghĩa của cái tôi trữ tình trong xã hội hiện đại
- Em có suy nghĩ gì về những rung cảm tinh tế của tác giả Nguyễn Trãi
trước khung cảnh thiên nhiên cũng như nỗi niềm chân thành, tình yêu tha thiết
của nhà thơ với nhân dân, đất nước với tình cảm, tình yêu quê hương, đất nước,
con người của các bạn trẻ thời nay? Muốn có được những tình cảm chân thành
như Nguyễn Trãi, tuổi trẻ ngày nay cần có ý thức và hành động ra sao?
Nguyễn Trãi- nhà quân sự, nhà chính trị, danh nhân văn hóa thế giới, một
công dân của nước Việt: yêu nước, thương dân. Còn tình yêu, niềm tự hào về
quê hương đất nước của giới trẻ ngày nay đôi lúc cũng mãnh liệt, dữ dội nhưng
đôi lúc cũng tẻ nhạt, hời hợt chứ không sâu sắc, chân thành. Tình cảm đó đôi khi
còn bị lu mờ bởi nền kinh tế thị trường, bởi những tham vọng cá nhân mà quên
đi lợi ích của đất nước.
Tuổi trẻ hôm nay muốn phát huy phẩm chất, năng lực của người xưa cần
Lớp
Tổng số Có hứng thú
Không hứng thú
học
Số học sinh
Tỉ lệ %
Số học sinh
Tỉ lệ %
sinh
10A2
48
45
93,75 %
3
6,25 %
* Kết quả kiểm tra
Đánh giá qua câu hỏi kiểm tra kiến thức, kĩ năng: Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn
Trãi qua bài thơ “Cảnh ngày hè”? [6]
Cách thức: cùng một đề bài, tôi tiến hành kiểm tra, đối sánh giữa hai lớp
mà bản thân trực tiếp giảng dạy là 10A2 và 10A11- Năm học 2017- 2018 (Trong
đó, lớp 10A11 là lớp mà tôi vẫn dạy theo cách thông thường còn lớp 10A2 là lớp
tôi đã vận tiến hành dạy bài “Cảnh ngày hè” theo đặc trưng thể loại với một số
biện pháp cụ thể đã nêu ở trên). Kết quả như sau:
Lớp
Tổng Giỏi
Khá
TB
Yếu
số học Số
Tỉ lệ Số
quả hơn trong việc tiếp nhận và lĩnh hội ý nghĩa tác phẩm.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
- Phương pháp dạy học văn theo loại thể đã đem lại hiệu quả tốt hơn, đáp
ứng được yêu cầu của đổi mới dạy học: học sinh là trung tâm trên con đường
khám phá và lĩnh hội tri thức. Các em học sinh đã có được niềm hứng thú trong
quá trình tiếp cận tác phẩm, thầy cô giáo tránh được giờ học mang tính chất
thuyết trình, truyền thụ kiến thức một cách thụ động cho học sinh. Sau bài học
này, học sinh sẽ có phương pháp tốt hơn khi học tác phẩm cùng thể loại.
17
- Mặt khác, để việc tiếp thu của học trò có chất lượng và hứng thú hơn
nữa, mỗi bài học cũng cần tìm ra mối liên hệ với cuộc sống hôm nay. Bởi lẽ, mỗi
tác phẩm văn học ở thời kì nào đều chứa đựng một thông điệp thẩm mĩ giàu tính
hiện đại. Nhiệm vụ của giáo viên là phải xích gần khoảng cách giữa tác phẩm
với người học. Có như vậy mỗi giờ học văn sẽ không còn là sự thờ ơ đón
nhận của học trò.
3.2. Kiến nghị
Qua thực nghiệm giảng dạy, tôi có một vài kiến nghị sau:
Đối với giáo viên: Thơ Nôm Đường luật là một thể thơ đặc sắc của dân
tộc, để giờ dạy tác phẩm thơ Nôm Đường luật đạt hiệu quả cao đòi hỏi thầy cô
giáo cần nắm vững loại thể này một cách cụ thể, sâu sắc hơn; vận dụng các biện
pháp một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng học sinh, với từng bài dạy;
tích cực đọc, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để có cái nhìn sâu rộng về tác phẩm,
trên cơ sở đó tổ chức các giờ dạy có hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh trong việc cảm thụ, đi tìm cái đẹp, cái hay của tác
phẩm văn học.
Đối với học sinh: Các em học sinh cần nghiêm túc trong học tập và chủ
động trang bị cho bản thân những kiến thức còn thiếu. Tích cực trao đổi đề nghị
1. Ngữ văn 10 - Tập 1 (NXB Giáo dục, 2006)
2. Ngữ văn 10 - Tập 1 (NXB Giáo dục, 2006)
3. Kiến thức cơ bản Ngữ Văn 10 (Thái Quang Vinh- Lê Lương TâmNguyễn Lan Thanh- NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh,
2006)
4. Tư liệu Ngữ Văn 10 (Lã Nhâm Thìn- Bùi Minh Toán- NXB Giáo dục)
5. Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông (Phan
Trọng Luận- NXB Giáo dục)
6. Kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kì môn Ngữ Văn lớp 10, tập 1,
NXB Giáo dục)
7. Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại (Lã
Nhâm Thìn- Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2009)
8. Phương pháp dạy học văn tập 1 (Phan Trọng Luận (chủ biên)- Trương
Dĩnh (2012) NXB ĐHSP, Hà Nội)
9. Kĩ năng đọc- hiểu Ngữ Văn 10 (Nguyễn kim Phong (chủ biên)- NXB
Giáo dục)
10. Ngoài ra còn tham khảo một số SKKN của đồng nghiệp.
19