BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH GIAO
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ
VỀ TIÊM NGỪA VIÊM GAN SIÊU VI B
VÀ TỶ LỆ TRẺ CÓ KHÁNG THỂ SAU TIÊM NGỪA
Ngành: Nhi khoa
Mã số: 9720106
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018
1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm vi rút viêm gan B (HBV) là một vấn đề sức khỏe trên
toàn thế giới. Năm 2002 có khoảng 600 ngàn người, đến năm 2015
có 887.000 người tử vong liên quan đến HBV. Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) khuyến cáo tất cả các quốc gia cần thực hiện chương trình
tiêm ngừa vắc-xin viêm gan B (VGSVB) để làm giảm tỷ lệ nhiễm
HBV. Các nghiên cứu cho thấy đáp ứng miễn dịch giảm theo thời
gian và còn tồn tại nhiều kiến thức không đúng về bệnh và tiêm ngừa
viêm gan B. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực
Đo lường được tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng, thái độ đúng và
thực hành đúng về tiêm ngừa viêm gan B bằng bộ công cụ đo lường
vừa xây dựng và xác định được các yếu tố liê quan giữa kiến thức,
thái độ, thực hành và các đặc điểm dân số của đối tượng nghiên cứu.
Xác định được tỷ lệ trẻ từ 12 tháng đến 24 tháng có đủ kháng thể
bảo vệ sau tiêm ngừa.
BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án có 144 trang, được bố cục thành 4 chương, gồm: Đặt vấn đề
và Mục tiêu nghiên cứu (4 trang) Tổng quan tài liệu (44 trang), Đối
tượng và phương pháp nghiên cứu (21 trang), Kết quả nghiên cứu
(41 trang), Bàn luận (31 trang), Kết luận và kiến nghị (3 trang). Luận
án có 33 bảng, 3 biểu đồ, 2 sơ đồ, 160 tài liệu tham khảo: 35 tài liệu
tiếng Việt, 125 tài liệu tiếng Anh và 7 phụ lục.
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Sự nguy hiểm của bệnh viêm gan siêu vi B
Khả năng nhiễm vi rút viêm gan B trở thành mạn tính phụ thuộc vào
độ tuổi bị nhiễm. Khoảng 80-90% trẻ sơ sinh bị nhiễm sẽ tiến triển
mạn tính. Khoảng 15-25% người lớn bị nhiễm HBV mạn tính trong
thời thơ ấu tử vong vì ung thư gan hoặc xơ gan. Thuốc chủng ngừa
VGSVB giữ vai trò chính trong công tác phòng bệnh.
1.2. Lịch tiêm chủng vắc-xin viêm gan siêu vi B
Theo WHO, liều đầu vắc- xin viêm gan B được cho càng sớm càng
tốt (
Maxwell A về can thiệp phù hợp văn hóa để nâng cao sức khỏe về
viêm gan B dựa theo mô hình Niềm tin sức khỏe, kết quả nhận thấy
truyền thông đại chúng phù hợp với cộng đồng người Việt.
Nghiên cứu định lƣợng: dựa theo mô hình Niềm tin sức khỏe
5
(HBM), đa số các nghiêu cứu về thái độ, nghiên cứu kiến thức các
tác giả không dựa vào HBM.
- Thái độ về khả năng mắc bệnh: có tỷ lệ thấp hơn ở những bà mẹ
trì hoãn hay từ chối so với bà mẹ chấp nhận tiêm ngừa cho trẻ.
- Thái độ về sự nghiêm trọng của bệnh: tỷ lệ cao từ 53,4% đến
95% bà mẹ cho rằng HBV là bệnh nguy hiểm
- Thái độ về lợi ích tiêm chủng: có 70,1% - 82% bà mẹ nghĩ rằng
“tiêm ngừa phòng được bệnh”, 68% cho rằng tiêm ngừa, không lây
bệnh cho người khác.
- Rào cản tiêm ngừa: gây đau, sợ kim tiêm, không thuận lợi cho trẻ
đi tiêm, tác dụng phụ, không có thời gian, không biết nơi xét nghiệm.
- Tín hiệu hành động bao gồm: điều dưỡng, bác sĩ khuyên tiêm
ngừa, con của bạn bè/hàng xóm đều tiêm, gia đình có người mang
HBV, tham gia hội thảo về HBV.
1.6. Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành tiêm ngừa viêm
gan B theo mô hình Niềm tin sức khỏe tại Việt Nam
Chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu định tính về vấn đề này,
nghiên cứu định lượng về kiến thức, thái độ và thực hành viêm gan B
tại Việt Nam với tất cả bộ câu hỏi khảo sát đều do tác giả tự thiết kế,
không dựa trên nền tảng mô hình lý thuyết nào và không đánh giá độ tin
cậy của bộ công cụ đo lường.
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã chọn p=50% để có cỡ mẫu lớn nhất. Với d=0,05 và Z
=1,96, cỡ mẫu tính theo công thức là n = 384 bà mẹ. Vì mẫu nghiên
cứu thực hiện trong cộng đồng nên chúng tôi chọn hệ số thiết kế là
C=2. Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu là n = 768 bà mẹ.
7
- Mục tiêu 4: chọn p = 76,7% (tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể sau khi
hoàn tất lịch tiêm ngừa viêm gan B) và d= 0,06. Như vậy, cỡ mẫu
cần thiết cho mục tiêu 4 là n = 191 trẻ.
2.5. Phƣơng pháp chọn mẫu
2.5.1.
Kỹ thuật chọn mẫu
- Mục tiêu 1: Chọn tất cả các bà mẹ (người chăm sóc) đến tiêm
ngừa tại các trạm y tế tại Quận 2.
- Mục tiêu 2 và 3: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn nhiều bậc, chọn ngẫu
nhiên 8 trong số 24 quận/huyện TPHCM, chọn ngẫu nhiên 2 trạm y
tế phường, xã, thị trấn trong mỗi quận/huyện. Chọn mẫu thuận tiện
48 bà mẹ có trẻ 12 tháng đến 24 tháng đưa trẻ đến tiêm ngừa tại trạm.
- Mục tiêu 4: Chọn toàn bộ 191 trẻ đã tiêm ngừa đầy đủ và đúng
lịch, con của các bà mẹ tại các quận/ huyện của mục tiêu 2 đồng ý
tham gia, để xét nghiệm anti-HBs, HBsAg.
2.6. Thu thập dữ kiện
2.6.1.
Phƣơng pháp thu thập dữ kiện
Giai đoạn I (mục tiêu 1): Xây dựng và đánh giá công cụ đo
thái độ, thực hành
1/2017
GIAI ĐOẠN II
Mục tiêu 1
Hình thành bộ câu hỏi
khảo sát
Thu thập dữ liệu bộ câu
hỏi KAP (N=768)
Tiêm ngừa đầy
đủ
Anti – HBs, HBsAg
Tiêm ngừa đúng
lịch
Xác định độ
tin cậy của bộ
câu hỏi bằng
chỉ số
cronbach’s
alpha
Mục tiêu 2
Bà mẹ có kiến thức đúng, thái độ đúng khi đạt ≥ 50% tổng điểm
các biến khảo sát kiến thức, thái độ. Thực hành đúng khi tiêm đủ liều
và đúng thời điểm. Rào cản khi có ít nhất 1 trong 3 biến số rào cản.
Biến số về đáp ứng miễn dịch gồm 3 biến đơn: đủ kháng thể bảo vệ
(anti- HBs ≥ 10 mUI/mL), mức kháng thể và HBsAg.
Đặc điểm dân số: phần thông tin của trẻ gồm 10 biến đơn và thông
tin bà mẹ gồm 14 biến đơn.
2.6.3.
Phƣơng pháp xử lý dữ liệu
Mục tiêu 1: Sử dụng phần mềm NVIVO 10 để tìm các từ khóa
Mục tiêu 2 - 4: phân tích bằng phần mềm Stata 13.
2.7. Vấn đề y đức:
Đề cương được xét duyệt qua Hội đồng Y đức của ĐH Y Dược
TP.HCM. Nghiên cứu được thực hiện đúng theo các qui định về đạo
đức khi tiến hành nghiên cứu y sinh.
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ
2.1. Xây dựng và đánh giá công cụ đo lƣờng kiến thức, thái độ,
thực hành về tiêm ngừa viêm gan B
Thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu: kết quả phỏng vấn sâu 20 bà
mẹ và 10 thảo luận nhóm bà mẹ (70 người).
10
Tiến hành giải băng, tìm từ khóa và bộ câu hỏi nháp I gồm 37 câu có
5 đề mục chính như trong mô hình Niềm tin sức khỏe.
Bảng 3.1. Kết quả thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu (n1= 70)
Câu hỏi
VGSVB sẽ chuyển thành
VGC, gây xơ gan.
Biểu hiện bệnh như Vàng da, phù, bụng to.
Sự trầm trọng thế nào?
Không biểu hiện gì
của bệnh
Gây xơ gan, ung thư gan , tử
Hậu quả bệnh là gì?
vong, chuyển thành VGC,
viêm gan mạn tính.
Điều trị bệnh như thế Thuốc nam, điều trị khỏi nếu
nào?
phát hiện sớm
Không có thuốc điều trị
Lợi ích tiêm Cách phòng bệnh cho Tiêm ngừa
ngừa
trẻ
Rửa tay sạch sẽ trước ăn
hàng
xóm, nhân viên y tế ở trạm,
cộng tác viên y tế, loa phóng
Tín hiệu
thanh trước ngày tiêm chủng
hành động
sổ sức khỏe, tờ rơi của bệnh
viện, trang web bệnh viện,
tổng đài 1080.
Lịch tiêm ngừa như Mới sinh, 2, 3 và 4 tháng
thế nào?
Mới sinh, 2, 4 và 6 tháng
Lúc 2, 3 và 4 tháng
12
Bộ câu hỏi nháp II: chúng tôi gởi bộ câu hỏi nháp I đến các nhân
viên y tế chuyên về tiêm chủng tại trạm y tế và Trung tâm y tế dự
phòng góp ý. Tất cả họ đều đồng thuận về vấn đề nghiên cứu. chúng
tôi tiến hành nghiên cứu thử 30 bà mẹ (người chăm sóc trẻ) đến tiêm
ngừa tại trạm y tế. Kết quả cho thấy bộ câu hỏi khảo sát của chúng tôi
đã rõ ràng, không cần điều chỉnh thêm.
Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn: sử dụng bộ câu hỏi nháp II để
phỏng vấn 768 bà mẹ, sau khi nhập liệu và xử lý số liệu, chúng tôi
thông tin tiêm ngừa từ tivi chiếm cao nhất 48%; sách báo, internet
chiếm 39%; từ nhân viên y tế thấp chiếm 26,7%.
3.1.2.
Kiến thức, thái độ, thực hành đúng về tiêm ngừa VGSVB
3.1.2.1. Kiến thức đúng của bà mẹ về VGSVB
Bảng 3.4. Kiến thức đúng của bà mẹ về VGSVB (n=768)
Tần số (%)
Nguyên nhân gây bệnh VGSVB
334 (43,5)
Những người có thể mắc bệnh VGSVB
505 (66)
Con Anh/chị có thể mắc bệnh VGSVB
369 (48,1)
Trẻ khỏe mạnh có thể bệnh VGSVB
419 (54,5)
Đường lây bệnh VGSVB
538 (70,1)
Bệnh VGSVB nguy hiểm
Lịch tiêm ngừa đầy đủ bệnh VGSVB
118 (15,5)
Lịch tiêm ngừa VGSVB tại trạm y tế
118 (15,5)
Kiến thức chung đúng
534 (69,5)
Điểm trung bình kiến thức (TB ± ĐLC)
8,8 ± 2,9 (0-15)
14
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có 69,5% đối tượng có kiến thức
chung đúng về VGSVB và điểm trung bình là 8,8 ±2,9.
3.1.2.2. Thái độ đúng của bà mẹ về tiêm ngừa VGSVB
Bảng 3.5. Thái độ đúng đối với tiêm ngừa (n=768)
Thái độ
Tần số (%)
Con họ có thể mắc bệnh
389 (50,7)
633 (82,4)
Thời gian thuận tiện
621 (80,7)
Địa điểm thuận tiện
637 (82,9)
Cần tiêm đủ 4 mũi VGSVB
476 (62)
Cần tiêm đúng lịch
691 (90)
Thái độ chung
358 (46,6)
Điểm trung bình thái độ (TB ± ĐLC)
49,7 ± 4,8 (35 – 65)
Thái độ đúng của bà mẹ về tiêm ngừa VGSVB chỉ đạt mức trung
bình 46,6%. Điểm trung bình 49,7 ± 4,8.
3.1.2.3. Thực hành đúng của bà mẹ về tiêm ngừa VGSVB
Bảng 3.6. Thực hành của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan B (n=768)
Tỷ lệ bà mẹ có rào cản tiêm ngừa chiếm 46,2%, tỷ lệ thực
hành đúng chỉ đạt 33,9%.
3.2. Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành về tiêm
ngừa VGSVB và các đặc điểm dân số của bà mẹ
Liên quan kiến thức, thái độ và thực hành: đối tượng có kiến
thức đúng thì có thái độ đúng cao gấp 1,43 lần đối tượng có kiến thức
không đúng (p
nhiên, tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ thấp chiếm 68,3%.
Có mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng với tỷ lệ trẻ có đủ
kháng thể (p
độ tin cậy chấp nhận được, thể hiện qua Cronbach’s alpha 0,72,
chúng tôi tìm thấy có 3 nghiên cứu KAP viêm gan B theo mô hình
Niềm tin sức khỏe ở nước ngoài có đánh giá độ tin cậy công cụ đo
lường với Cronbach’s alpha trong nghiên cứu Yousafzai (0,75), Ma
GX (0,81), Rhodes (0,67).
Đánh giá thực hành: có thể bằng cách phỏng vấn và quan sát.
Chúng tôi quan sát và đánh giá thực hành đúng theo sổ tiêm ngừa
của trẻ sẽ thu được kết quả chính xác hơn.
4.2. Kiến thức, thái độ và thực hành đúng về tiêm ngừa viêm gan
siêu vi B
4.2.1.
Đặc điểm dân số của nhóm đối tƣợng phỏng vấn
Nhận thấy, thấy đa số mẹ đưa trẻ đi tiêm ngừa chiếm 79,9%, cho
thấy phù hợp với văn hóa Việt Nam, phụ nữ là người chính trong gia
đình chăm sóc con và nội trợ, phù hợp với nhóm nghề nghiệp nội trợ
chiếm tỷ lệ cao nhất 34,5%. Đối tượng có thu nhập xếp vào hộ nghèo
- cận nghèo chỉ chiếm 4,9%. Kết quả tương đương với điều tra của
TP.HCM năm 2015 có 5,7% hộ nghèo, cận nghèo, cho thấy dân số
nghiên cứu của chúng tôi có thể đại diện cho dân số chung ở
TP.HCM. Chỉ có 11,7% đã từng tham gia buổi giáo dục sức khỏe về
bệnh VGSVB, cho thấy thông tin sức khỏe về bệnh VGSVB rất ít hoặc
chưa hấp dẫn để lôi cuốn người dân tham gia.
19
Nguồn thông tin về tiêm ngừa từ tivi chiếm tỷ lệ cao nhất 48%;
sách báo, internet chiếm 39%; thông tin từ nhân viên y tế thấp hơn
chỉ chiếm 26,7%. Kết quả này cũng cho thấy phù hợp với nghiên cứu
Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng là 69,5%, trong đó kiến thức lây
truyền bệnh qua đường từ mẹ sang con chiếm tỷ dưới trung bình
(47%), ở người Mỹ gốc Việt là 59-85%, tại bệnh viện Hùng Vương
37,3%, sinh viên điều dưỡng ĐHYD 39,5%. Kết quả cho thấy kiến
thức đúng của nhóm bà mẹ trong nghiên cứu của chúng tôi tương
đương với nhóm sinh viên điều dưỡng và nhóm thai phụ bệnh viện
Hùng Vương. Vẫn còn nhiều kiến thức sai lầm về đường lây trong
nghiên cứu chúng tôi như: ăn uống chung 20,5%, di truyền 25,2%.
Nghiên cứu trên sinh viên điều dưỡng ĐHYD có 44,6% và 52,8%
cho rằng do ăn uống chung và do di truyền, sinh viên y ĐHYD với
24,1% và 16%. Các kiến thức sai lầm về đường lây có thể gây tăng
sự kỳ thị với người bệnh VGSVB trong cộng đồng.
Tỷ lệ bà mẹ có thái độ đúng là 45,6%, trong đó chỉ có 50,7% đối
tượng có thái độ đúng khi cho rằng con của họ có thể mắc bệnh và
78,4% đồng ý rằng trẻ sẽ mắc bệnh nếu không tiêm ngừa. Kết quả
này thấp hơn nghiên cứu của Smith trên người Mỹ với 90% trên các
bà mẹ đã cho trẻ tiêm ngừa đầy đủ, đúng lịch. Do mẫu nghiên cứu
của Smith trên đối tượng đã tiêm ngừa đầy đủ và đúng lịch, nghiên
cứu chúng tôi trên cả đối tượng tiêm không đầy đủ và không đúng
lịch. Chúng tôi chưa tìm thấy các tác giả trong nước nghiên cứu về vấn
đề này.
Tỷ lệ bà mẹ có thực hành tiêm ngừa đầy đủ và đúng lịch cho trẻ
chỉ chiếm 33,9%, thấp hơn nghiên cứu của Bigham có 78% trẻ được
nhận đủ 3 liều VGSVB, do chúng tôi đánh giá thực hành đúng là tiêm
đủ 4 mũi bao gồm mũi sơ sinh và đúng lịch tiêm, trong khi nghiên cứu
của Bigham chỉ đánh giá tiêm đủ 3 liều mà không quan tâm lịch tiêm.
Tỷ lệ đối tượng có rào cản thực hành tiêm ngừa cao 46,2%. Vấn đề
này chúng tôi chưa tìm thấy ở các nghiên cứu trong nước.
22
tính liều sơ sinh; Cỡ mẫu trong nghiên cứu chúng tôi là 199 trẻ, cũng
không có sự khác biệt nhiều với các nghiên cứu trong và ngoài nước
với cỡ mẫu từ 114 – 360 trẻ; Địa điểm nghiên cứu trong các nghiên
cứu khác nhau: nghiên cứu chúng tôi tại các trạm y tế TP.HCM cũng
không có sự khác biệt nhiều so với nghiên cứu của Tran N.H tại
Long An, là tỉnh giáp ranh với TP.HCM, các nghiên cứu nước ngoài
cho thấy có 2 nghiên cứu trên người châu Á, hai nghiên cứu trên
người châu Phi, một nghiên cứu trên Mỹ La tinh; Các yếu tố liên
quan: nghiên cứu chúng tôi cho thấy tình trạng dinh dưỡng hiện tại
của trẻ có liên quan đến tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể, cụ thể những trẻ
gầy còm có tỷ lệ đủ kháng thể thấp bằng 0,55 lần những trẻ không bị
gầy còm và những trẻ thừa cân, béo phì có tỷ lệ đủ kháng thể thấp
bằng 0,50 lần những trẻ không bị thừa cân, béo phì. Như vậy, tỷ lệ
trẻ có đủ kháng thể trong nghiên cứu chúng tôi thấp hơn các nghiên
cứu khác có thể do: thời điểm xét nghiệm, địa điểm nghiên cứu và
tình trạng dinh dưỡng.
Nghiên cứu chúng tôi cho thấy không có trường hợp nào bị nhiễm
bệnh VGSVB, nghiên cứu của Hồ Vĩnh Thắng tại Kiên Giang cho
thấy tỷ lệ trẻ mang HBsAg là 4%, có thể do chúng tôi chọn những trẻ
tiêm đủ 4 mũi VGSVB bao gồm liều sơ sinh, 2, 3 và 4 tháng, Hồ
Vĩnh Thắng chọn đối tượng xét nghiệm dựa vào lịch tiêm 2,3,4 tháng
mà không quan tâm đến liều sơ sinh. Điều này cho thấy hiệu quả
phòng ngừa lây truyền bệnh VGSVB giai đoạn chu sinh trong
chương trình TCMR có hiệu quả tốt, những trẻ có tiêm ngừa mũi sơ
sinh trong nghiên cứu chúng tôi thì hầu như không có trẻ nào bị
nhiễm HBV.
24
4) Tỷ lệ trẻ từ 12 tháng đến 24 tháng có đủ kháng thể bảo vệ (anti – HBs
≥ 10 mUI/mL) là 68,3%, thời điểm xét nghiệm trung bình 13,3 tháng
sau mũi tiêm viêm gan B thứ ba và không có trẻ bị nhiễm HBV. Có mối
liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng: gầy còm và thừa cân, béo phì
làm giảm tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ.
KIẾN NGHỊ
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy tiêm ngừa vắc-xin
viêm gan B cho trẻ em là vấn đề cần được quan tâm đúng mức và xin
có một số kiến nghị:
- Cần áp dụng công cụ đo lường vừa xây dựng rộng rãi trong cộng
đồng trên cả đối tượng bà mẹ (người chăm sóc trẻ) tiêm ngừa miễn
phí, chưa tiêm ngừa và tiêm ngừa dịch vụ viêm gan siêu vi B cho trẻ
nhằm đánh giá hiệu quả bộ công cụ đo lường, đồng thời có cái nhìn
toàn diện hơn về kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm ngừa VGSVB
ở bà mẹ tiêm ngừa dịch vụ, miễn phí và chưa tiêm ngừa.
- Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe đại chúng cho người
dân: dù chương trình tiêm ngừa VGSVB cho trẻ dưới 1 tuổi trong
TCMR đã được thực hiện hơn 10 năm, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều
kiến thức, thái độ và thực hành không đúng. Do đó, cần tập trung các
kiến thức về đối tượng có khả năng mắc bệnh, lịch tiêm ngừa và giải
thích cho bà mẹ biết tác dụng phụ sau tiêm ngừa VGSVB rất thấp,
từ đó sẽ làm giảm các rào cản tiêm ngừa và tăng tỷ lệ thực hành
đúng. Khuyến khích bà mẹ cần tiêm ngừa đầy đủ mũi VGSVB sơ
sinh cho trẻ để phòng ngừa lây truyền từ mẹ sang con.
- Xét nghiệm huyết thanh sau khi hoàn tất lịch tiêm ngừa VGSVB sẽ
biết được chính xác tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ. Đối với những
trẻ có kết quả xét nghiệm kháng thể âm tính, khuyến khích bà mẹ
tiêm nhắc lại cho trẻ.