ĐẠI HỌC HUẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC
TRẦN MINH HUY
NGHIÊN CỨU TIÊN LƯỢNG
NHỒI MÁU NÃO CẤP BẰNG THANG ĐIỂM PLAN
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Khánh
HUẾ, 2014
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CLVT
:
Cắt lớp vi tính
CT
:
Cholesterol
ECG
:
Preadmission comorbidities, Level of
consciousness, Age, Neurologic decifit
TBMMN
:
Tai biến mạch máu não
TCYTTG
:
Tổ chức Y tế Thế giới
THA
:
Tăng huyết áp
TG
:
Triglyceride
3.1. Đặc điểm chung........................................................................................36
3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng.........................................................38
3.3. Đặc điểm thang điểm PLAN....................................................................40
3.4. Các yếu tố tiên lượng đối với kết cục.......................................................42
3.5. Giá trị tiên lượng của thang điểm PLAN.................................................51
Chương 4:BÀN LUẬN..................................................................................54
4.1. Đặc điểm chung........................................................................................54
4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng.........................................................60
4.3. Đặc điểm thang điểm PLAN....................................................................65
4.4. Nhận xét các yếu tố tiên lượng đối với kết cục........................................67
4.5. Giá trị tiên lượng của thang điểm PLAN.................................................73
KẾT LUẬN....................................................................................................75
KIẾN NGHỊ...................................................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não đang là nguyên nhân gây tử vong thứ hai trên
toàn thế giới sau các bệnh lý tim mạch [78]. Ở các nước phát triển, tai biến
mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng đầu trong các bệnh
thần kinh và đứng hàng thứ 3 gây tử vong ở người trưởng thành chỉ sau bệnh
tim mạch và ung thư [15]. Theo thống kê của tạp chí The Lancet, hai phần ba
số ca tử vong do đột quỵ trên toàn thế giới những năm đầu thế kỷ 21 xảy ra ở các
nước đang phát triển. Bệnh có xu hướng gia tăng theo tuổi và nhịp độ phát
triển của xã hội, tần suất mắc bệnh, tỷ lệ tử vong và tàn phế cao mặc dù có
nhiều tiến bộ đáng kể về các phương diện chẩn đoán, tiên lượng, điều trị và
dự phòng [14], [15]. Ngay cả khi thoát khỏi nguy hiểm đến tính mạng, bệnh
cũng có thể để lại những di chứng nặng nề và thực sự là một gánh nặng đối với y
khả quan. Thang điểm PLAN đánh giá dựa trên những yếu tố dễ dàng ghi
nhận ở bệnh nhân ngay tại thời điểm nhập viện bởi các bác sỹ lâm sàng tuy
nhiên vẫn đảm bảo tính chính xác trong tiên lượng.
Bệnh viện Trung Ương Huế là bệnh viện lớn nhất khu vực miền Trung –
Tây Nguyên, nơi tiếp nhận hàng năm rất nhiều bệnh nhân nhồi máu não cấp.
Để góp phần vào việc tiên lượng cũng như hỗ trợ điều trị, chúng tôi tiến hành
đề tài “Nghiên cứu tiên lượng nhồi máu não cấp bằng thang điểm PLAN
tại Bệnh viện Trung Ương Huế”. Với hai mục tiêu sau:
1. Khảo sát các đặc điểm của thang điểm PLAN ở bệnh nhân nhồi máu
não cấp.
2.Đánh giá mối liên quan/tương quan giữa thang điểm PLAN và thang
điểm m-Rankin trong tiên lượng sau nhồi máu não cấp.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
1.1.1. Sơ lược về giải phẫu, sinh lý của não
Đại não gồm 2 bán cầu phải và trái, ngăn cách nhau bởi rãnh gian bán
cầu. Mỗi bán cầu đại não có một lớp chất xám dày khoảng 2-4 mm bao quanh
gọi là vỏ não. Trên bề mặt vỏ não có nhiều rãnh chia vỏ não ra làm nhiều thùy
lớn, trong đó có 5 thùy chính: Thùy trán (phía trước bán cầu đại não), Thùy
chẩm (phía sau bán cầu đại não), Thùy đỉnh (nằm giữa thùy trán và thùy
chẩm), Thùy thái dương (ở phần bên và dưới bán cầu đại não), Thùy đảo (nằm
ở đáy khe Sylvius).
Về chức năng tế bào vỏ não chia làm 3 loại: các tế bào cảm giác và giác
quan, các tế bào vận động, các tế bào trung gian (giữ vai trò liên lạc giữa 2 tế
bào trên).
bởi khung mạch. Các động mạch cung cấp máu cho não gồm hai trục chính
đó là động mạch cảnh và động mạch sống nền.Vòng đa giác Willis nối thông
các đường mạch nói trên và tạo ra một mặt phẳng động mạch ở đáy sọ xuất
phát các động mạch não [15], [59].
Các động mạch não chính thức loại nông và sâu có ba tầng bàng hệ thực
sự hỗ trợ cho chức năng tưới máu:
- Tầng thứ nhất hoặc các động mạch cung cấp (động mạch cảnh trong và
động mạch sống thân nền).
- Tầng thứ hai hay vòng động mạch đáy não (vòng Willis).
- Tầng thứ ba hay tầng hệ vỏ não – màng nuôi, thường là những động
mạch tận (động mạch não giữa, não trước và các nhánh động mạch tận của
động mạch tận của động mạch thân nền).
5
Tưới máu não:
Vòng động mạch đáy não, bố cục chính thức ở đáy sọ, phát ra các động
mạch trung tâm và ngoại vi.
- Các động mạch trung tâm hay động mạch sâu: thường có xu hướng
xuyên từ đáy não hướng thẳng đứng lên trên, sinh ra từ các vòng động mạch
và từ gốc ba động mạch lớn nông và đi sâu vào đáy não. Các mạch này tưới
máu cho đồi thị và vùng dưới đồi, các nhân bèo và nhân đuôi, bao trong và
cho cả đám rối màng mạch.
- Các nhánh động mạch ngoại vi hay các nhánh nông:
+ Động mạch não trước: sinh ra từ chỗ phân chia động mạch cảnh trong
và đoạn cảnh đầu ở đáy, nối với động mạch não trước đối diện bằng động
mạch thông trước, tạo ra một sự lưu thông phía trước và thông liên cảnh. Từ
đường giữa, động mạch não trước đi ra trước và lên trên trong khe dọc (khe
liên bán cầu) rồi uốn cong theo thể chai. Khái quát các nhánh động mạch não
7
1.1.3. Định nghĩa tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não (TBMMN) được Tổ chức Y tế thế giới
(TCYTTG) định nghĩa như một “hội chứng thiếu sót chức năng thần kinh,
thường là khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong 24 giờ.
Các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương” [15], [59], [67].
Định nghĩa này cũng là tiêu chí để chẩn đoán lâm sàng, khởi phát đột
ngột gặp 95% các trường hợp tai biến, đó là một trong ba tiêu chí có giá trị về
chẩn đoán trên lâm sàng.
Nhồi máu não (NMN) xảy ra khi một mạch máu não bị tắc. Tế bào não
tại khu vực không đựợc nuôi dưỡng sẽ tổn thương và chết. NMN có thể gây
nên tổn thương não kéo dài và không hồi phục. Vị trí và mức độ tổn thương
của não tùy thuộc vào vị trí mạch máu bị tắc nghẽn [15], [40], [59], [67].
1.1.4. Phân loại tai biến mạch máu não
1.1.4.1. Phân loại theo kinh điển: Có 3 loại
- Huyết khối mạch máu não (Thrombo Cerebro Vascular)
- Nghẽn mạch não (Emboli Cerebro Vascular)
- XHN (Cerebro Hemorrhage)
1.1.4.2. Phân loại theo thời gian
- TBMMN cấp: Tuần đầu đến 2 tuần sau đột quỵ.
- TBMMN bán cấp: Sau tuần thứ hai đến tuần thứ sáu.
- TBMMN mạn: Sau tuần thứ sáu [15].
1.1.4.3.Phân loại theo thể và nguyên nhân
Đột ngột xuất hiện triệu chứng thần kinh khu trú
8
Hình 1.2. TBMMN theo thể và nguyên nhân [15]
là mất thị giác và nhìn đôi. Mất thị lực một bên hoặc hai bên, trong bệnh mạch
máu não, nguyên nhân thiếu máu thị giác - võng mạc, do tắc động mạch hoặc
tĩnh mạch võng mạc trung tâm. Mù thoáng qua từ thiếu máu võng mạc được
gọi là “mù Fugax” thường do tắc động mạch cảnh cùng bên. Kết quả là do rối
loạn lưu lượng máu của mắt, hoặc cục nghẽn võng mạc có nguồn gốc đoạn đầu
trung tâm hệ động mạch cảnh, cũng có thể cục lấp mạch từ tim [15], [67].
10
- Rối loạn ngôn ngữ: mất ngôn ngữ vận động xuất hiện khi tổn thương
vùng Broca (phần sau hồi trán 3). Trong bối cảnh này, người bệnh mất khả
năng nói thành lời, nhưng căn bản vẫn giữ được khả năng am hiểu lời nói.
Cũng cần phân biệt với nói khó (dysathria) là rối loạn phụ thuộc vào các cơ
lưỡi và họng, ở đây người bệnh vẫn có thể vận động cơ lưỡi và môi, nhưng
mất khả năng vận động các cơ phụ trách động tác lời nói.
Mất ngôn ngữ giác quan (mất ngôn ngữ Wernicke) do tổn thương vùng
Wernicke, ở phần sau hồi thái dương trên. Người bệnh mất khả năng am hiểu
lời nói. Những câu chữ nghe thấy không gắn liền với những biểu tượng, khái
niệm hoặc đối tượng tương ứng. Đối với người bệnh trở nên không am hiểu
tiếng mẹ đẻ, chẳng khác gì một thứ tiếng chưa từng biết. Người bệnh thường
nói nhiều và nói quá thừa [15], [67].
- Các rối loạn cảm giác: khi bệnh nhân tổn thương não do nhồi máu
hoặc xuất huyết thì xuất hiện bất thường cảm giác, triệu chứng thường gặp là
tê. Triệu chứng này biểu hiện như một tổn thương chết hay mất cảm giác. Trái
lại một cơn động kinh cảm giác thì hiện tượng đau nhói hay nhận cảm quá
nhiều. Thông thường mất cảm giác hoặc rối loạn cảm giác trong TBMMN
thường kèm theo với liệt nửa người. Như hội chứng đồi thị do nhồi máu hay
xuất huyết thì bên cạnh hiện tượng mất cảm giác có thể yếu nhẹ nửa người
cùng bên rối loạn cảm giác [15], [67].
1.1.6. Một số yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não
1.1.6.1. Các yếu tố nguy cơ (YTNC) không thể thay đổi được
- Tuổi: TBMMN tăng dần theo lứa tuổi và tăng vọt lên từ lứa tuổi 50 trở
lên. Tuổi càng lớn thì bệnh mạch máu càng nhiều, mà trước hết là xơ vữa
động mạch.
- Giới tính: TBMMN gặp ở nam nhiều hơn nữ từ 1,5 đến 2 lần.
- Sắc tộc: Người da đen và người Mỹ gốc Tây Ban Nha có tỉ lệ mắc
TBMMN và tử vong cao hơn người da trắng.
12
- Tiền sử gia đình: Tiền sử cha mẹ mắc TBMMN liên quan với nguy cơ
mắc TBMMN ở con cái. Nghiên cứu cho thấy gia tăng gấp 5 lần TBMMN ở
những trẻ sinh đôi cùng trứng so những trẻ sinh đôi khác trứng [15].
1.1.6.2. Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
- Tăng huyết áp: (THA) Là một YTNC độc lập gây ra các loại
TBMMN. Có mối liên quan liên tục giữa cả HA tâm thu và HA tâm trương
đến nguy cơ đột quỵ NMN. Khi HA tâm thu > 160mmHg và hoặc là HA tâm
trương > 95 mmHg thì nguy cơ tăng 3,1 lần ở nam giới và 2,9 lần ở nữ giới so
HA bình thường. Nếu HA tâm thu 140-159mmHg và HA tâm trương 90-95
mmHg thì 50% gia tăng đột quỵ. Trong khi đó nếu giảm HA tâm thu trung
bình khoảng 12 mmHg và HA tâm trương trung bình 5 mmHg thì có thể giảm
đến 43% nguy cơ TBMMN tái phát và giảm 40% nguy cơ các bệnh mạch
máu lớn [14], [15], [64].
- Các bệnh lý tim: Hẹp hai lá hoặc và rung nhỉ do thấp tim... là những
YTNC quan trọng sinh TBMMN thể NMN là do bệnh van tim. Sau 36 năm
theo dõi ở Framingham thấy 80,8% tai biến do THA, 32,7% do bệnh mạch
vành, 14,5% do suy tim, 14,5% do rung nhỉ và 13,6% không phải các bệnh
trên [15], [55], [79].
1.1.7.1. Tình hình tai biến trên thế giới
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều công trình đi sâu vào nghiên
cứu TBMMN về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, lâm sàng, dự phòng và nhiều
khía cạnh khác. Đồng thời, ngày càng có nhiều phương tiện chuẩn đoán mới
và hiện đại như: Chụp não cắt lớp vi tính, chụp cộng phẫu thuật hưởng từ hạt
nhân… đi đôi với những tiến bộ trong hồi sức cấp cứu, thần kinh và nâng cao
hiệu quả công tác dự phòng, đã mang lại được những kết quả to lớn trong điều
trị TBMMN.
14
- Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ mới mắc
Theo nhiều nghiên cứu, trong năm 2010 có khoảng 16,9 triệu người bị
đột quỵ não lần đầu tiên, 33 triệu bệnh nhân TBMMN trên toàn thế giới trong
đó hơn một nữa thuộc các nước đang phát triển và 5,9 triệu trường hợp tử
vong do TBMMN với 71% trong đó thuộc các nước có mức thu nhập thấp và
trung bình. Những số liệu thống kê gần đây cũng cho thấy rằng trong khi tỷ lệ
mới mắc và tỷ lệ tử vong do TBMMN giảm đi rõ rệt ở các nước có mức thu
nhập cao do kiểm soát tốt được tăng huyết áp và các YTNC khác, thì tỷ lệ này
lại đang gia tăng ở phần còn lại của thế giới [36].
Tỷ lệ mắc bệnh có sự khác biệt giữa các nước và khu vực trên thế giới.
Hằng năm, ở Châu Âu có khoảng một triệu bệnh nhân vào vịên điều trị
TBMMN. Ở Hoa Kỳ tỷ lệ thường gặp TBMMN là 794/100.000 dân, 5% dân
số trên 65 tuổi bị đột quỵ, hằng năm có trên 400.000 bệnh nhân được ra viện
sau điều trị TBMMN. Theo thống kê của Feigin vào năm 2010, tỷ lệ mới mắc
TBMMN trên toàn thế giới là 257,96/100.000 người, tỷ lệ hiện mắc là
502,32/100.000 người [36]. Ở Châu Á tỷ lệ mắc bệnh trung bình hằng năm ở
các nước có sự khác biệt. Cao nhất là Nhật Bản: 340-532/100.000 dân. Trung
Quốc: 219/100.000 dân, riêng thủ đô Bắc Kinh là 370/100.000 dân [15].
năm là 416/100.000 dân, tỷ lệ mới mắc là 152/100.000 dân [15].
- Tỷ lệ XHN và NMN
Theo các công trình nghiên cứu đã được công bố, tỉ lệ tai biến NMN
luôn luôn chiếm ưu thế so với thể tai biến XHN chiếm 10-15% TBMMN
chung, trong khi NMN chiếm đến 85-90%. Ở Châu Á tỷ lệ XHN có cao hơn
các nước Âu – Mỹ nhưng không bao giờ chiếm ưu thế so với NMN. Ở Việt
Nam, theo Lê Văn Thành và cộng sự (1990) điều tra 2962 bệnh nhân, nhóm
XHN chiếm 40,42%, nhóm NMN chiếm 59,58%. Ở Huế theo Hoàng Khánh
tỷ lệ XHN 39,42%, NMN là 60,58% [15].
16
- Tỷ lệ tử vong
Theo Lê Văn Thành và cộng sự (1990), tỷ lệ tử vong chung của
TBMMN là 30%. Theo Hồ Hữu Lương và Phan Việt Nga (1996), tỷ lệ tử
vong XHN là 48% và NMN là 7%. Theo Hoàng Khánh: tỷ lệ tử vong hàng
năm trung bình là 1,92/100.000 dân [15].
1.1.8. Các nghiên cứu liên quan
Ý nghĩa các yếu tố dự đoán kết cục sớm ở BN đột quị có tầm quan trọng
đặc biệt, chẳng hạn như làm cơ sở cho các chiến lược phòng ngừa thứ phát,
hỗ trợ quyết định điều trị hoặc thiết kế các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên.
Với những mục đích trên, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước được
thực hiện nhằm tổng hợp các yếu tố dự đoán kết cục thành những thang điểm
cụ thể cũng như áp dụng vào lâm sàng.
Bo Carlberg năm 1993 sau khi nghiên cứu 85 bệnh nhân XHN và 831 bệnh
nhân NMN nhằm tìm hiểu giá trị tiên lượng của huyết áp lúc vào viện với mức
độ trầm trọng của đột quỵ đã ghi nhận rằng huyết áp quá cao trong giai đoạn cấp
có thể gây ra tình trạng tái chảy máu ở những bệnh nhân XHN [33].
Armin J. Grau và Christian Weimar cùng cộng sự trong nghiên cứu 5017
Năm 2010 Trương Văn Sơn và Cao Phi Phong với nghiên cứu “Ứng
dụng thang điểm đánh giá đột quỵ trong tiên lượng sớm bệnh nhân đột quỵ
thiếu máu não cục bộ cấp” với 243 bệnh nhân tại bệnh viện Nhân Dân 115
Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận kết quả điểm NIHSS trung bình là 8,39,
điểm mRankin trung bình là 2,4. Có 54,3% bệnh nhân có kết cục tốt và 45,7%
bệnh nhân có kết cục xấu lúc xuất viện. Nghiên cứu cho thấy NIHSS lúc nhập
viện có liên quan độc lập và mạnh mẽ nhất với kết cục 30 ngày của đột quỵ
thiếu máu não cục bộ cấp sau khi điều chỉnh các biến khác [19].
Tác giả Nguyễn Văn Khách trong nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, hình
ảnh học sọ não và các yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân NMN cấp tại bệnh viện
đa khoa khu vực Củ Chi” cho thấy các yếu tố Glasgow ≤ 8, NIHSS ≤ 12 và
tình trạng rối loạn cảm giác có liên quan chặt với tiên lượng nặng của bệnh
nhân NMN cấp [12].
18
Năm 2012, Bành Quang Khải nghiên cứu 127 bệnh nhân TBMMN giai
đoạn cấp và bán cấp ghi nhận Rối loạn nhịp thở, tuổi, thân nhiệt, tỷ lệ bạch cầu
trung tính và điểm Glasgow có giá trị độc lập tiên lượng tử vong sau 30 ngày.
Tác giả cũng cho thấy tỷ lệ tử vong tỷ lệ thuận với số YTNC mắc phải [13].
Trần Minh Tùng trong nghiên cứu của mình năm 2013 sau khi phân tích
hồi quy đa biến đối với các thể TBMMN đã chứng minh được thang điểm đột
quỵ châu Âu có giá trị tiên lượng độc lập đối với tiến triển của bệnh với độ
mạnh là p < 0,009 [25].
Các nghiên cứu đã cho thấy tiên lượng dự hậu sau đột quỵ não cấp nói
chung và sau NMN cấp nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong lâm
sàng cũng như cung cấp thông tin cần thiết cho bệnh nhân và gia đình. Qua đó
hỗ trợ công tác điều trị cũng như phục hồi chức năng sau tai biến.
1.2. NHỒI MÁU NÃO
- Xơ vữa động mạch thường gặp nhất khi trên 50 tuổi, nếu có đái tháo
đường, tăng huyết áp thì có thể dưới 50 tuổi, gây hẹp mạch tại não (hẹp trên
80% mới có triệu chứng) và tạo cục máu nghẽn từ các động mạch lớn nhất là
động mạch cảnh có y nghĩa về điều trị dự phòng nội và ngoại khoa.
- Viêm động mạch: Viêm động mạch hạt lao, Takayashu, bệnh tạo keo …
- Bóc tách động mạch cảnh, động mạch sống lưng, động mạch đáy não…
- Các bệnh máu: Tăng hồng cầu, hồng cầu hình liềm, thiếu hồng cầu nặng…
- U não chèn ép các mạch máu...
1.2.3.2. Co mạch (Vasospasme)
- Co mạch sau xuất huyết dưới nhện.
- Co mạch hồi phục, sau bán đầu thống, sau sang chấn sọ, sản giật…
1.2.3.3. Lấp mạch (embolie)
- Nguồn gốc xơ vữa: Chỗ phân đôi động mạch cảnh (50%), vòi cảnh
(20%), động mạch sống lưng khúc tận, quai động mạch chủ.
- Từ tim cũng thường gặp 20%, ở lứa tuổi dưới 45 như: hẹp 2 lá, loạn
20
nhịp tim nhất là rung nhĩ, tim bẩm sinh, nhồi máu cơ tim giai đoạn cấp, thấp
tim, van giả, sa van 2 lá, hội chứng yếu xoang, viêm nội tâm mạch nhiễm
khuẩn cấp hoặc bán cấp, ung thư phổi, sản giật, động kinh, thuốc chống thụ
thai, viêm tắc tĩnh mạch sâu, chấn thương (mỡ, khí), phẫu thuật tim, thông
tim, chụp mạch não…[15], [43].
1.2.4. Cơ chế bệnh sinh
Khi thiếu máu cục bộ thấy một vùng trung tâm bị hoại tử có lưu lượng
máu 10 – 15ml/100g não/phút và khu vực bao quanh vùng hoại tử có lưu
lượng máu 23ml/100g/phút, với lưu lượng này đủ cho tế bào không chết
nhưng không hoạt động được gọi là vùng tranh tối – tranh sáng hay còn gọi
là vùng điều trị vì nếu hồi phục lưu lượng máu thì tế bào não hoạt động trở
22
sàng được sử dụng rộng rãi bao gồm GCS đối với chấn thương sọ não và các
rối loạn khác, Thang Hunt-Hess và WFNS với xuất huyết dưới nhện, Thang
NIHSS đối với NMN.
Một vài mô hình tiên lượng NMN đã được xây dựng và phát triển trước
đây đã được chứng minh có giá trị như NIHSS, CHADS 2, FSV, IScore,
EROS... Những mô hình này đã đưa ra được một số đặc điểm liên quan với
dự hậu của bệnh nhân cũng như các phương pháp tiên lượng tỉ lệ tử vong
và kết cục. Một số thang điểm chỉ dựa trên một thang đo đơn lẻ hoặc kết
hợp một thang đo phụ. Tuy nhiên số khác đòi hỏi sự đánh giá của bác sỹ
được đào tạo chuyên khoa Thần kinh và đôi khi kết hợp cả một số xét
nghiệm cận lâm sàng. Điều này gây khó khăn cho các bác sỹ ở tuyến cơ
sở, những nơi thiếu thốn cơ sở vật chất, đặc biệt là ở nước ta. Việc tìm ra
một thang điểm tối ưu, có thể phù hợp với mọi tình huống vẫn còn là đề
tài nghiên cứu của nhiều chuyên gia thần kinh trên thế giới cũng như ở
Việt Nam. Phần lớn đều hướng đến một thang điểm tổng hòa được yếu tố
đơn giản trong sử dụng nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác trong khả năng
tiên lượng dự hậu [19], [28], [51], [53], [61], [62], [63], [76].
Với mục đích như trên, sau 5 năm nghiên cứu phân tích dữ liệu của
9847 bệnh nhân tại Ontario – Canada, vào tháng 10/2012 nhóm nghiên cứu
của tiến sỹ Martin O’Donnell tại Đại học Quốc gia Ireland đã công bố thang
điểm PLAN (Preadmission comorbidities, Level of consciousness, Age, and
Neurologic deficit) nhằm đơn giản hơn việc tiên lượng tình trạng bệnh nhân
sau NMN cấp, dùng cho các bác sĩ lâm sàng tại thời điểm nhập viện [61].
Thang điểm PLAN đánh giá dựa trên tiền sử bệnh lý trước nhập viện,
mức độ ý thức, tuổi và các thiếu sót thần kinh trung ương của bệnh nhân.
Tổng điểm tối đa là 25 điểm, bao gồm 5 điểm cho tiền sử các bệnh đồng mắc