MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA THỂ LOẠI KỊCH VÀ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY VĂN BẢN KỊCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN THCS
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học được các cấp
quản lý giáo dục quan tâm nhiều, coi đó như một nỗ lực của ngành cần
được khai thác triệt để, nhằm tạo ra “bước nhảy” về chất lượng giáo dục.
Nghị quyết TW2 khoá VIII của Đảng đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục và đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng phương
pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học”. Quan điểm
của Đảng ta từng coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của
Đảng, Nhà nước và của toàn dân, vì vậy yêu cầu đổi mới phương pháp dạy
học được đặt ra là một vấn đề quan trọng và cấp bách.
Luật giáo dục của điều 24.2 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Để đáp ứng yêu cầu đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành thay
sách giáo khoa các bộ môn lớp 6, 7, 8, 9 tạo điều kiện cho giáo viên thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học. Một trong những nét mới khá nổi bật
của chương trình Ngữ văn THCS đó là đã giới thiệu một số trích đoạn kịch
bản văn học tiêu biểu. Ở lớp 7 là thể loại chèo của sân khấu dân gian Việt
Nam: Trích “Nỗi oan hại chồng”, chèo “Quan âm Thị Kính”; Ở lớp 8 trích:
1
“Ông Giuốc đanh mặc lễ phục”-trong vở hài kịch của Môlie “Trưởng giả
về một phương diện nào đó là dạy cách tiếp nhận văn học có vai trò tích
cực sáng tạo của học sinh.
Việc đưa những tác phẩm kịch vào chương trình, chủ yếu nhằm tạo
điều kiện cho học sinh tiếp xúc với đủ 3 loại hình (tự sự, trữ tình, kịch) và
một số thể kịch quen thuộc: Dân gian, cổ điển, hiện đại. Bên cạnh đó cũng
cần có sự phân biệt: kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp (Văn học,
hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, nhảy múa...) trong khi đó văn học là
loại hình nghệ thuật ngôn từ. Xem biểu diễn kịch trên sân khấu không
giống với việc đọc một bài văn, một bài thơ. Tuy nhiên kịch được dạy học
trong nhà trường là kịch bản văn học có bảng phân vai, hướng dẫn nội dung
về cách thức diễn vở kịch.
Là một thể loại văn học nằm trong loại hình nghệ thuật kịch, tác
phẩm kịch nói cũng chỉ thực sự khai thác trọn vẹn khi được diễn trên sân
khấu. Sau lao động của nhà viết kịch là chặng đường sáng tạo thứ 2 của đội
ngũ nghệ sĩ sân khấu gồm đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, hoạ sĩ. Nhưng
không phải bất cứ một kịch bản văn học nào cũng có điều kiện để dàn dựng
trên sân khấu. Là một thể loại văn học có đặc trưng riêng trong cấu trúc
hình tượng, phương thức biểu hiện trong ngôn ngữ nghệ thuật chúng ta vẫn
có thể thưởng thức tác phẩm kịch bằng cách đọc kịch bản văn học.
Dạy kịch bản văn học không đơn thuần là phân tích văn học, giảng
văn, thưởng thức vẻ đẹp của một lời văn hoặc biện pháp tu từ, cũng không
phải để mô phỏng diễn theo cử chỉ, điệu bộ của nhân vật kịch. Kịch bản
văn học vừa thể hiện đặc trưng của một văn bản văn học, vừa thể hiện đặc
trưng của thể loại kịch. Sự kết hợp giữa hai phương diện này vừa tạo nên
sức hấp dẫn riêng của một loại văn bản, lại vừa là thử thách không dễ vượt
qua cho người dạy và người tiếp nhận.
3
nhiệm vụ được giao. Nhìn chung học sinh THCS đã có khả năng độc lập,
tích cực trong học tập nhưng năng lực và hứng thú cá nhân chưa bền vững.
Nhất là học sinh ở vùng nông thôn việc tiếp xúc với sân khấu kịch còn hạn
chế, chủ yếu qua Tivi, sách giáo khoa. Vì vậy giáo viên cần nắm được tâm
sinh lý của học sinh để giúp học sinh tiếp cận tri thức hiệu quả nhất.
3. Thực tế giảng dạy và học tập ở nhà trường
Những năm gần đây nhà trường luôn có thành tích cao trong các kỳ
thi giáo viên giỏi và học sinh giỏi bộ môn Ngữ văn. Song quan niệm của
một số phụ huynh về vấn đề dạy văn học còn lệch lạc, thiên về đầu tư cho
các môn khoa học tự nhiên. Mặt khác trình độ giáo viên trong nhóm ngữ
văn chưa đồng đều, việc đổi mới phương pháp dạy học còn hạn chế. Đối
với thể loại kịch nhiều giáo viên vẫn xác định là khó dạy. Kinh nghiệm
thưởng thức kịch còn hạn chế, tài liệu viét về kịch ít và càng ít phổ biến.
Đó là những khó khăn khi dạy học kịch. Nhóm ngữ văn đã tiến hành một
số chuyên đề về dạy văn bản kịch,song chưa được kết quả như mong muốn.
Đó là cơ sở mà tôi nhận thấy cần phải đầu tư vào tìm hiểu đặc trưng của
kịch và đổi mới phương pháp dạy văn bản kịch trong trường THCS.
C. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
I. Đặc trưng của kịch
1. Về khái niệm kịch
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” Nhà xuất bản giáo dục 2004
( T167–168) thuật ngữ kịch được dùng theo hai cấp độ.
* Ở cấp độ loại hình:
Kịch là một trong 3 phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự,
trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu, vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn là
chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch.
5
cấu của kịch không ngừng thay đổi tuỳ theo quan niệm của người sáng tạo
và quy mô, tầm vóc của những sự kiện biến cố được phản ánh.
Trên cấp độ loại hình, kịch bao gồm nhiều thể loại: Bi kịch, hài
kịch, chính kịch, cùng nhiều tiểu loại và biến thể khác nhau.
* Ở cấp độ thể loại:
Là một khái niệm kịch được dùng để chỉ một thể loại văn học-sân
khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này, kịch
cũng gọi là chính kịch (hoặc kịch dram). Cũng giống như hài kịch, kịch tái
hiện cuộc sống riêng của con người bình thường nhưng mục đích chính
không phải là cười nhạo, chế diễu các thói hư tật xấu mà là mô tả cá nhân
trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối với xã hội. Và cũng giống
với bi kịch, kịch chú trọng tái hiện những mâu thuẫn gay gắt, song những
xung đột của nó cũng không căng thẳng đến tột độ, không mang tính chất
vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể giải quyết được ổn thoả. Còn các tính
cách của kịch thì không có gì đặc biệt, phi thường.
Kịch hình thành như một thể loại vào nửa sau thế kỷ XVIII qua
sáng tác của các nhà khai sáng ở Pháp và Đức như Đi-đơ-rô (1713-1784),
Bô-méc–se (1732-1799), G.E. Let xing (1729-1781). Nó hướng về những
lợi ích tinh thần đạo đức, về lý tưởng của các lực lượng dân chủ tiến bộ
đương thời. Trong quá trình phát triển của kịch, tính kịch bên trong của nó
ngày càng cô đọng, dồn nén hơn. Nó cũng tiếp nhận những thủ pháp nghệ
thuật, những phương tiện biểu đạt của các thể loại văn học sân khấu khác
như bi hài kịch, kịch hề... để tăng thêm sức hấp dẫn và tác động nghệ thuật
của nó đối với công chúng.
Ở Việt Nam kịch ra đời vào những năm 20 của thế kỷ XX với
những sáng tác như “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long, “Kim Tiền” của
7
bàn”. Sự khác biệt ấy chính là tính chất tập trung cao độ của sự xung đột
kịch, sự chi phối trực tiếp đến cấu trúc tác phẩm, đến nhịp độ vận động dồn
dập khác thường của cốt truyện.
Xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triển của hành động kịch
nhằm xác lập lên những quan hệ mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết
thúc tất yếu của tác phẩm kịch. Thiếu xung đột, tác phẩm kịch sẽ mất đi đặc
trưng cơ bản đầu tiên của thể loại, sẽ là những “vở kịch tồi”. Vì vậy người
viết kịch phải tạo được những xung đột mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, tính
khái quát lớn lao nhưng phải hết sức chân thực, nghĩa là xung đột mang
tính điển hình hoá.
Thiếu ý nghĩa điển hình, tác phẩm kịch chỉ là sự mô phỏng những
mâu thuẫn vụn vặt, tầm thường của đời sống. Thiếu ý nghĩa chân thức, tác
phẩm kịch chỉ là sự giả tạo, là những dòng lý thuyết suông. Công chúng
tìm đến với kịch là tìm đến một sự đồng cảm hoặc phản bác đối với tác giả
trước những vấn đề quan trọng của đời sống. Nghệ thuật kịch luôn là diễn
đàn tư tưởng của cuộc sống, là mối giao cảm sâu xa giữa tác giả và khán
giả.
Ví dụ: Trong đoạn trích “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng, xung
đột cơ bản trong kịch “Bắc Sơn” là xung đột giữa lực lượng Cách mạng và
kẻ thù. Xung đột cơ bản ấy được thể hiện thành những xung đột cụ thể giữa
các nhân vật và trong nội tâm của một số nhân vật (Thơm, bà cụ Phương).
Xung đột kịch diễn ra trong chuỗi các hành động kịch có quan hệ gắn kết
với nhau. Trong hồi bốn, xung đột giữa cách mạng và kẻ thù được thể hiện
trong sự đối đầu giữa Ngọc cùng đồng bọn với Thái Cửu. Xung đột ấy lại
diễn ra trong hoàn cảnh cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, kẻ thù đang truy lùng
những chiến sĩ cách mạng. Nhưng xung đột ở hồn kịch này còn diễn ra ở
9
10
đột ấy. Hành động kịch thường phát triển theo hướng thuận chiều với xung
đột kịch. Xung đột càng căng thẳng thì thiên hướng hành động càng trở nên
quyết liệt, vì thế sức hấp dẫn của tác phẩm tăng lên.
Hành động kịch cần được hiểu trong tình huống thống nhất vẹn toàn
của nó. Hành động kịch không phải là những hành động đơn lẻ, ngắt quãng
mà là một chuỗi hành động liên tục xoay quanh trục xung đột. Hành động
kịch ở đây chính là cốt truyện kịch được tổ chức một cách thống nhất, chặt
chẽ trong khuôn khổ của một chính thể nghệ thuật. Các cốt truyện bằng
hành động ấy xoáy vào trung tâm xung đột bằng sự liên kết theo một quy
luật riêng: quy luật nhân quả. Mọi hành động trong tác phẩm kịch dù trực
tiếp hay gián tiếp đều dựa trên luật nhân quả.
Hình thức nhân quả trực tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất là
nguyên nhân sinh ra hành động thứ 2 và có thể cho đến hết.
Ví dụ trong đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” trích vở chèo cổ “Quan
âm Thị Kính”
Hành động 1: Hai vợ chồng Thiện Sĩ ngồi học và khâu vá dưới
trăng, sau đó Thiện Sĩ ngủ thiếp đi. Đây là nguyên nhân của hành động thứ
2.
Hoạt động thứ 2: Thị Kính cắt chiếc râu mọc ngược cho chồng là
kết quả của hành động 1 và là nguyên nhân của hành động 3.
Hành động 3: Bố mẹ Thiện Sĩ vu cho Thị Kính giết chồng, đuổi Thị
Kính đi là kết của của hành động 2 và là nguyên nhân của hành động tiếp
theo là Thị Kính giả trai đi tu.
Hình thức nhân quả gián tiếp là hình thức mà hành động thứ nhất có
khi là nguyên nhân của hành động thứ tư hoặc thứ 5.
Ví dụ: Trong vở Ô-Ten-Lô (Hồi 1, cảnh 1 và 2).
12
đến đấy, khán giả sẽ hồi hộp, lo lắng, chờ đợi xem số phận của Thị Kính
sau này sẽ ra sao? Nỗi oan kia liệu có được giải không. Mặt khác qua hành
động này, chúng ta thấy được một phần tính cách của Thị Kính. Đó là một
tâm hồn trong sáng, chân thật của một người vợ thương yêu chồng rất mực,
không muốn để chồng xấu vì một chiếc râu mọc ngược dưới cằm. Nếu tác
giả thay bằng hành động như Thị Kính ngồi quạt cho Thiện Sĩ ngủ thì
không có nỗi oan Thị Kính và Thị Kính không thể trở thành một hình tượng
nghệ thuật có giá trị tố cáo xã hội cũ.
2.3. Ngôn ngữ kịch
Khi nói về các yếu tố của văn học. Giooc-ki đã coi “ngôn ngữ là
yếu tố đầu tiên của văn học”. Điều đó có nghĩa là không có ngôn ngữ sẽ
không có văn học. Đối với nghệ thuật kịch, vai trò quan trọng đó của ngôn
ngữ được nhiều tác giả kịch nổi tiếng trên thế giới công nhận. A.N.axtrop
xki nhà sáng lập ra nền kịch ở Nga ở thế kỷ XIX đã coi ngôn ngữ là điều
kiện đầu tiên của tính nghệ thuật. Giooc ki trong bài “Bàn về kịch” đã
khẳng định “Ngôn ngữ đối thoại có ý nghĩa to lớn và thậm chí có ý nghĩa
quyết định đối với việc sáng tác kịch”. So với các thể loại khác, hệ thống
ngôn ngữ kịch mang tính đặc thù rõ rệt.
* Ngôn ngữ nhân vật: Đây là hình thái tồn tại duy nhất của ngôn
ngữ kịch. So với hệ thống ngôn ngữ tự sự đây là điểm khác biệt rất rõ.
Ngôn ngữ tác giả, biểu hiện trong các lời chỉ dẫn về hoàn cảnh, về nhân
vật... chỉ có giá trị hướng dẫn người đọc, diễn viên, đạo diễn, hoạ sĩ trong
khi đọc kịch bản, còn khi dựng trên sân khấu chúng sẽ biến mất và nhường
chỗ cho tiếng nói của hoạ sĩ trong các cảnh trí, cho ngôn ngữ hành động
của diễn viên. Ngôn ngữ nhân vật bao gồm hai hình thức chủ yếu là đối
thoại và độc thoại.
14
Ngôn ngữ kịch súc tích, dễ hiểu và ít nhiều mang tính chất khẩu
ngữ. Ngôn ngữ kịch vừa gần với tiếng nói hàng ngày lại vừa có tính chất
văn học. Trong kịch thơ và ca kịch dân tộc ngôn ngữ giàu tính ước lệ, cách
điệu phù hợp với âm nhạc.
Ví dụ: Ngôn ngữ của Đào Huế ở lớp “Đánh ghen” trong trích đoạn
chèo cổ “Tuần Ty - Đào Hiếu” vừa gần gũi với đời sống, vừa được cách
điệu lên và phù hợp với âm nhạc của lớp này.
Đào Huế: - Liến chi, liến chi! Rẽ cậu ra để tôi trả lời cho em
Ới con tê ơi! Mày lấy được chồng bà
Đất lơ trời lẳng, đất lẳng trời lơ
Có thể ông tơ chết tiệt, bà nguyệt chết dầm,
Mồ cha đứa làm mối đặng người ni cho cậu
(Vĩa)
Ối em ơi! Em nghĩ mình em đáng giá lạng vàng mười
Đem ra kẻ chợ kém người năm phân
(Hát sắp đuổi) Chém cha con bợm lầu xanh
Rủ rê chồng chị, dỗ dành chồng tao.
Ở đây ta thấy tác giả khuyết danh của vở chèo vận dụng rất tài tình
ngôn ngữ dân gian của quần chúng kết hợp với yếu tố âm nhạc dựng nên
ngôn ngữ nhân vật Đào Huế với giọng đay nghiến, chì chiết, khinh bỉ của
một bà vợ đánh ghen.
Trong sân khấu kịch nói không sử dụng ngôn ngữ xa lạ với đời
sống. Các nhân vật kịch đối đáp với nhau một cách tự nhiên giản dị theo
cách đối thoại trong đời sống hàng ngày. Tuy nhiên sự giản dị, tự nhiên ấy
kịch bộc lộ ngay trong khả năng vận dụng tối đa sức mạnh đặc biệt của
ngôn ngữ hội thoại để cấu trúc tác phẩm và khắc hoạ hình tượng. ở Việt
Nam các tác giả: Nguyễn Huy Tưởng, Lộng Chương, Đào Hồng Cẩm, Lưu
Quang Vũ đã thể hiện khá rõ cá tính sáng tạo của mình trong sáng tạo ngôn
ngữ
II. Đổi mới phương pháp dạy kịch trong trường THCS.
1- Khởi động dạy một cách hấp dẫn.
16
Đây là hoạt động đầu tiên cho việc dạy bài mới. Nhưng đôi khi
người dạy thường xem nhẹ hoặc bỏ qua nó. Có những thầy cô đơn giản hóa
lời giới thiệu bài mới bằng điệp khúc muôn thủa : “Tiết trước chúng ta học
bài… hôm nay ta vào bài mới…:. Chính điệu đó phần nào làm giảm đi
hứng thú học văn của học sinh. Đây là “khúc dạo đầu” của bài giảng nhằm
tạo tâm thế cho giờ dạy, tạo hứng thú cho học sinh, thiết lập mối quan hệ
giữa kiến thức cũ và kiến thức mới. Đưa ra mục tiêu của bài học cho học
sinh. Giáo viên có thể tiến hành hoạt động này bằng nhiều cách khác nhau
như kể một câu chuyện, trình bày sinh động một trích đoạn của bài học
mới, đưa một thông tin hấp dẫn, một số tranh ảnh, giáo cụ trực quan, đặt
một số câu hỏi có tình huống cần giải quyết dựa trên vốn kinh nghiệm của
học sinh, có liên quan đến phần nội dung nào đó của bài học mới nhằm thu
hút sự quan tâm của học sinh với bài học.
VD1: Trích đoạn “Nỗi oan hại chồng” chèo “Quan âm Thị Kính”
-Giáo viên có thể giới thiệu từ tấm ảnh “Quan âm Thị Kính ở chùa
Tây Phương” để dẫn vào bài. Hoặc cho học sinh xem một đoạn băng hình
trích đoạn và dẫn vào bài.
VD2: Trích đoạn kịch : “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng có thể
giới thiệu từ bài hát Bắc Sơn-Nhạc và lời của Văn Cao 1945
văn đã không hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản. Tuy nhiên khi tiến hành
giờ dạy căn cứ vào từng đối tượng học sinh, đặc trưng thể loại, mục đích
yêu cầu giờ dạy để xây dựng hệ thống câu hỏi cho phù hợp.
Hệ thống câu hỏi đó cần kết nối được phần tự học, chuẩn bị bài ở
nhà với bài học trên lớp. Học sinh được tiếp tục mạch suy nghĩ, làm sáng tỏ
thêm những gì các em đã hiểu đã nhận thức, đã thực hành, ứng dụng và đặc
biệt điều chỉnh được những gì các em hiểu, làm chưa đúng, chưa trúng.
18
Câu hỏi phải chính xác, rõ ràng có màu sắc văn học, có khả năng
khêu gợi tình cảm, xúc động thẩm mĩ cho học sinh. Câu hỏi phải vừa sức
với học sinh, có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
*. Các loại câu hỏi:
a) Câu hỏi phát hiện (Gợi tìm)
Đây là câu hỏi có mức độ thấp nhất trong các loại câu hỏi, dùng để
phát hiện từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, các tín hiệu nghệ thuật nhằm
khơi gợi cảm thụ học sinh. Loại câu hỏi này phù hợp với học sinh trung
bình, thậm chí yếu kém.
Các em có thể chưa chỉ ra tác dụng của các biện pháp nghệ thuật
song lại có thể phát hiện ra rất nhanh những chi tiết nghệ thuật gợi mở dần
nội dung tác phẩm . Chúng ta nên khuyến khích các em thuộc đối tượng
này phát biểu và tôn trọng ý kiến của các em, đồng thời dẫn dắt để các em
từ phát hiện của mình cảm nhận sâu sắc hơn các giá trị nghệ thuật. Trong
văn bản kịch có thể dùng để phát hiện ngôn ngữ và thái độ của nhân vật.
VD1: Trích đoạn : “Nỗi oan hại chồng” ở lớp 7
Hỏi về nghệ thuật ngôn ngữ và hành động của vợ chồng Sùng Ông
được tác giả khắc hoạ như thế nào?
Định hướng : Hành động dúi đầu Thị Kính, bắt Thị Kính ngửa mặt
Ví dụ 1: Đoạn trích : “Bắc Sơn”
Hỏi: Vì sao “Bắc Sơn” được gọi là kịch?
Định hướng: Vì tác giả dùng ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật để thể
hiện mâu thuẫn xung đột trong đời sống.
VD2: Đoạn trích “ Tôi và chúng ta”
20
Hỏi: Em hiểu gì nhan đề của vở kịch?
Định hướng: Cái tôi cụ thể phải hướng đến câu chúng ta, câu chúng
ta phải là lợi ích của cái tôi cụ thể. Đó là mối quan hệ giữa lợi ích tập thể và
cá nhân.
c) Câu hỏi phân tích
Dùng năng lực cảm thụ văn học để giúp học sinh khám phá nội dung
và nghệ thuật của tác phẩm. Loại câu hỏi này phù hợp với đối tượng học
sinh trung bình và khá. Các em đỡ một số vấn đề kiến thức Ngữ văn. Khi
giáo viên đặt câu hỏi phân tích, các em có thể trình bày những điều hiểu
biết của mình về vấn đề đưa ra để giáo viên hướng dẫn đi vào những cảm
nhận đúng, sâu sắc.
VD1: Đoạn trích “ Nỗi oan hại chồng”
Hỏi: Thị Kính kêu oan một cách đáng thương như thế nào? Em hãy
lựa chọn chi tiết để phân tích.
Định hướng:
- Cử chỉ: Bị xô ngã, khóc vật vã, rũ rượi.
- Kêu oan: Không được trình bày sự việc, kêu oan 4 lần với
Sùng Bà và Thiện Sĩ nhưng Thiện Sĩ dửng dưng.
- Dồn dập bị mạt sát, không nói được một lời đối đáp, Thị
Kính càng kêu oan, nỗi oan càng dày, nàng trở nên cô độc.
- Đến lần thứ năm kêu oan với chú( Mãng Ông) Thị Kính
mới nhận được một sự cảm thông. Nhưng đó là sự cảm
quan hệ gia đình và hôn nhân phong kiến. Theo em đúng hay sai? Hãy trình
bày ý kiến của em?
VD2: Có ý cho rằng Ông Giuốc- đanh là nhân vật hài kịch. Hãy trình
bày ý kiến của em?
22
VD3: Xung đột kịch được thể hiện trong hồi bốn của vở “ Bắc Sơn”
A. Qua cuộc đối thoại giữa Thơm với Ngọc.
B. Qua cuộc đối thoại giữa Thái, Cửu với Thơm.
C. Qua sự đối đầu giữa Ngọc với Thái, Cửu và qua mâu thuẫn nội
tâm của Thơm.
D. Qua cuộc đối thoại của Ngọc với Thái, Cửu.
Em hãy nêu ý kiến của em.
VD4: Có ý kiến cho rằng trong vở “ Tôi và chúng ta” cuộc đấu tranh
giữa cái cũ và cái mới là tất yếuvà gay go, nhưng cuối cùng phần thắng sẽ
thuộc về cái mới, cái tiến bộ. Hãy trình bày quan điểm của em?
e) Câu hỏi gợi cảm xúc, hiện tượng, tường tượng.
Là câu hỏi khơi gợi những cảm xúc, ấn tượng, khả năng liên tưởng,
tưởng tượng của học sinh khi đọc tác phẩm, hoặc tìm hiểu cảm xúc tâm
trạng của nhân vật. Đối với văn bản kịch thì loại câu hỏi này rất cần thiết
khi học sinh học kịch bản văn học.
VD1: Việc lặp lại đến 5 lần kêu oan của Thị Kính gợi cho em ấn
tượng gì?
VD2: Trong suốt đoạn trích “ Ông Giuốc đanh mặc lễ phục” chi tiết
nào cho em ấn tượng nhất? Hãy minh hoạ bằng lời.
VD3: Cảnh 1 là cuộc trò chuyện giữa ông Giuốc đanh và bác Phô
rong tại phòng khách nhà ông Giuốc danh. Em hình dung gì về sân khấu và
luyện kỹ năng phân tích khám phá. Nâng cao sự cảm thụ của học sinh. Vì
vậy để có một giờ học sôi nổi thành công người thầy cần nắm chắc đặc
trưng thể loại, mục tiêu bài học để chuẩn bị một hệ thống câu hỏi khoa học,
nghệ thuật.
24
Trích ngang giáo án tiết 165 – 166 “ Tôi và chúng ta” của Lưu Quang
Vũ.
Hoạt động của thầy
Hoạt động của
Nội dung cần đạt
trò
Hỏi: Em hình dung Học sinh: tường II. Đọc – hiểu văn bản
không khí của cuộc họp tượng hình dung 1. Nhân vật Hoàng Việt
tại phòng giám đốc khung cảnh trên
- Họp tại phòng giám đốc rất
Hoàng Việt như thế sân khấu
khẩn trương, dân chủ.
nào? Mục đích của
- Trình bày kế hoạch mở rộng
cuộc họp đó là gì?
sản xuất và phương án làm ăn
sản xuât của xí nghiệp.
Hỏi: Đề án có điểm Học
phân vân trước quan
chúng ta”
điểm kế hoạch sản xuất
-> Hoàng Việt đã dùng lý lẽ để
của cấp trên?
bác bỏ.
Hỏi: Những phản ứng Học sinh: trả lời, - Giám đốc dám nghĩ, dám làm,
25