TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ
NGUYỄN THỊ THANH
NGHIÊN CỨU SỨC CĂNG MẶT NGOÀI CỦA NGƯNG
TỤ BOSE-EINSTEIN MỘT THÀNH PHẦN TRONG
THỐNG KÊ CHÍNH TẮC
Chuyên ngành: Vật lý lý thuyết
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PGS.TS. Nguyễn Văn Thụ
HÀ NỘI, 2018
LỜI CẢM ƠN
Trước khi trình bày nội dung chính của luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Văn Thụ người đã định hướng chọn đề tài và tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo giảng
dạy chuyên ngành vật lý lý thuyết khoa vật lý, trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2. Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về ngưng tụ Bose-Einstein .... 4
1.1.2.1. Ngưng tụ Bose-Einstein đầu tiên của nguyên tố Erbium ... 4
1.1.2.2. Lần đầu tiên quan sát thấy hiệu ứng Hall ở một BEC ........ 5
1.2. Lý thuyết trường trung bình .................................................................. 6
1.2.1. Thế tương tác .................................................................................. 6
1.2.2. Phương trình Gross-Pitaevskii. ..................................................... 10
1.3. Phương pháp gần đúng parabol kép (Double parabola approximationDPA). ............................................................................................................... 12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................ 14
CHƯƠNG 2: SỨC CĂNG MẶT NGOÀI CỦA NGƯNG TỤ BOSEEINSTEIN MỘT THÀNH PHẦN TRONG THỐNG KÊ CHÍNH TẮC ....... 15
2.1. Các hệ thống kê. .................................................................................. 15
2.1.1. Hệ hạt đồng nhất. .......................................................................... 15
2.1.2. Hệ vi chính tắc .............................................................................. 16
2.1.3. Hệ chính tắc .................................................................................. 19
2.2. Trạng thái cơ bản trong gần đúng Parabol kép. .................................. 25
2.3. Khái niệm sức căng mặt ngoài. ........................................................... 27
2.4. Sức căng mặt ngoài trong hệ chính tắc. ............................................... 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................ 33
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 35
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BEC
suốt một thời gian dài. Năm 1995, một đội nghiên cứu đến từ trường đại học
Colorado ở Bouder lần đầu tiên đã tạo ra thành công được trạng thái này bằng
thực nghiệm.
Việc phát hiện ra trạng thái ngưng tụ Bose-Einstein đã mang lại những
phát minh quan trọng và mở đường cho sự phát triển của khoa học và công
nghệ hiện đại.
Trong các nghiên cứu về ngưng tụ Bose-Einstein thì nghiên cứu sức
căng mặt ngoài của nó có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong việc tìm hiểu
chuyển pha ướt của hệ. Đây là vấn đề được đưa vào vận dụng nhiều trong
công nghệ ngày nay. Vì lí do trên mà tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu sức
căng mặt ngoài của ngưng tụ Bose-Einstein một thành phần trong thống
kê chính tắc” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu.
1
Nghiên cứu sức căng mặt ngoài của ngưng tụ Bose-Einstein một thành
phần trong thống kê chính tắc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Xây dựng phương trình Gross-Pitaevskii và phương pháp gần đúng
parabol kép.
Nghiên cứu sức căng mặt ngoài của ngưng tụ Bose-Einstein một thành
phần trong thống kê chính tắc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Hệ ngưng tụ Bose-Einstein một thành phần trong thống kê chính tắc, tức
là hệ cô lập với số hạt không đổi.
5. Những đóng góp mới của đề tài.
Nghiên cứu sức căng mặt ngoài của ngưng tụ Bose-Einstein một thành
phần trong thống kê chính tắc có những đóng góp quan trọng trong lý thuyết
mô. Einstein đã đưa ra dự đoán này vào năm 1925 với các nguyên tử có spin
nguyên. Tiếp đó Einstein đã cải tiến quan điểm của Bose cho một hệ các hạt.
Sự cố gắng của hai nhà khoa học đã đưa ra lý thuyết về khí bose trong phạm
vi của thống kê Bose-Einstein. Einstein giải thích được nếu các nguyên tử
boson được làm lạnh đến độ không tuyệt đối thì hệ này sẽ bị tụ lại trong một
trạng thái lượng tử thấp nhất có thể sau đó vật chất hình thành lên một trạng
thái mới.
Hiện nay, người ta đã ngưng tụ được tổng cộng 13 nguyên tố. Trong đó
mười nguyên tố được tìm ra bởi mười nhóm nghiên cứu khác nhau trên thế
giới [4].
Năm 1995, khí đầu tiên đã được ngưng tụ thành công bởi hai nhà khoa
học Eric Cornell và Carl Wieman, đó là nguyên tử Rubidi được làm lạnh tới
nhiệt độ 170 nanokelvin (nK). Cùng thời điểm, nhà vật lý Wolfgang Ketterle
đã ngưng tụ thành công nguyên tử Natri để tạo ngưng tụ Bose-Einstein. Sau
đó Cornell, Wieman, Ketterle đã được trao giải Nobel Vật lý năm 2001.
Trong vật lý có hai lớp hạt cơ bản: lớp hạt boson và lớp hạt fermion.
Boson bao gồm các hạt với “spin nguyên” (photon, -meson, K-meson,...);
fermion bao gồm hạt với “spin bán nguyên” (electron, các nucleon,...). Các
3
hạt boson tuân theo thống kê Bose-Einstein, còn các hạt fermion tuân theo
thống kê Fermi-Dirac. Bên cạnh đó các hạt fermion còn tuân theo nguyên lí
loại trừ Pauli, đó là: “Nếu có một bộ bốn đại lượng động lực
( ,
,
,
Vật lý cơ bản.
4
Theo Ferlaino, “Erbium tương đối nặng và có từ tính mạnh. Những tính
chất này dẫn tới một trạng thái lưỡng cực cực độ của các hệ lượng tử”.
Bà và các cộng sự đã dựa vào kĩ thuật làm lạnh bay hơi và phương tiện
laser đã ngưng tụ thành công các nguyên tố phức tạp. Ở nhiệt độ gần độ
không kenvil (0K), một ngưng tụ Bose-Einstein từ tính được tạo ta từ một
đám mây chứa một lượng lớn các hạt erbium. Ở trạng thái này, tính chất đơn
lẻ của các hạt bị mất đi và đồng bộ hóa thành trạng thái của chúng.
Ba nguyên tố hóa học đó là Strontium, Cesium và Erbium đã được các
nhà nghiên cứu ở Innsbruck ngưng tụ thành công trong những năm trở lại đây.
Một bước tiến quan trọng mà Rudolf Grimm cùng nhóm đồng nghiệp của ông
đã thực hiện hồi năm 2002, đó là Cesium đã được ngưng tụ thành công, đã
đem lại hàng loạt những thành tựu cho khoa học trong những năm tiếp theo.
Florian Schreck, một thành viên thuộc nhóm nghiên cứu của Rudolf Grimm,
là người đầu tiên hiện thực hóa một ngưng tụ của Strontium hồi năm 2009. Và
nay Francesca Ferlaino lập tiếp kì công này với nguyên tố Erbium.
1.1.2.2. Lần đầu tiên quan sát thấy hiệu ứng Hall ở một BEC
Hiệu ứng Hall được tạo thành từ sự tương tác của dòng điện và từ trường
phổ biến với kim loại và chất bán dẫn. Hiệu ứng Hall được thay đổi và cải
tiến để ứng dụng rất nhiều trong kĩ thuật và trong vật lý từ những hệ thống tự
đánh lửa tự động cho đến những phép đo cơ bản của điện học. Những phát
hiện mới này làm cho các nhà vật lý hiểu được tường minh hơn về cơ sở vật
lý của các hiện tượng lượng tử như hiệu ứng Hall lượng tử.
Hiệu ứng Hall do Edwin Hall tìm ra vào năm 1879, để hiểu một cách
đơn giản ta hãy xét một chất dẫn điện hình chữ nhật ví dụ một tấm đồng hình
chữ nhật và dọc theo chiều dài của tấm đồng ta cho một dòng điện đi qua nó.
p 2
1 N N
i
ˆ
ˆ
H
Vext ri V ri rj ,
2 i 1 j 1
i 1 2m
N
6
(1.1)
với số hạng thứ nhất bên vế phải là động năng của hạt thứ i, số hạng thứ hai
mô tả trường thế năng bên ngoài, thông thường nó là trường thế giam cầm hệ
trong một không gian nhất định, số hạng còn lại biểu thị tương tác cặp giữa N
hạt trong hệ. Để tìm năng lượng của hệ ta sử dụng phương pháp cực trị. Từ
năng lượng tự do ta có năng lượng cần làm cực tiểu F E N , với E là
2
y * ri y ri dri
i 1 2m
i 1 2m
ˆ i2
N
N
2
*
N
y
r
y
r
Như đã trình bày ở trên là tích tenxơ của N hàm sóng của các hạt
và y ri là hàm sóng của một hạt, để có được kết quả sau cùng trong biểu
thức (1.3) chúng ta áp dụng tính chất của hàm Green. Khi đó thế năng của hệ
có dạng
V r
N
ext
i
i 1
N y * r 2y r dr .
(1.4)
Số hạng cuối cùng mô tả tương tác giữa N hạt trong hệ có dạng sau
1 N N
V ri rj
2 i 1 j 1
i
i
j
i
j
i
j drj
2 i 1 j 1
N N 1 N N
* *
d r .
dr
y
r
y
r
V
r
r
y
r
y
r
y * r y r dr
N
,
(1.6)
Biểu thức có dạng như trên để dễ dàng cho việc tính toán.
Tiếp theo ta sẽ khảo sát biến thiên nhỏ của hàm sóng y r , thực ra ta
phải khảo sát sự biến thiên của các thành phần thực và ảo của hàm sóng khi
đó chúng ta xem như y và y * độc lập với các biến số. Từ đây ta có đạo hàm
8
cho các biểu thức (1.3) và (1.4). Với biểu thức (1.5), ta có đạo hàm hai
y *
lần của hàm sóng y * , nhưng r có thể biến đổi vì vậy ta có
1 N N
N y * r y r dr
*
y
N 1
y
*
r y r dr
N y * r y r dr .
(1.8)
Thế đồng thời các công thức trên vào biểu thức lấy biến phân của năng
Đa số thế tương tác được chọn có dạng sau
4 2
V r r
a r r ,
2m
với a là chiều dài tán xạ sóng s, sử dụng gần đúng N 1 N cuối cùng ta thu
được
2 2
Trong gần đúng trường trung bình hàm Lagrangian được viết như sau
*
L1 i
.
t
*
(1.12)
Đại lượng trong (1.12) gọi là mật độ Hamilton, nó có dạng
2 * 2
g 4
,
2m
2
(1.13)
với r , t là hàm sóng của hệ ở trạng thái cơ bản; m là khối lượng của
hạt, g là hằng số tương tác dương theo as được xác định bởi công thức
g
4 2
as .
10
2 2
3
y y g y 0.
2m
(1.18)
Khi các thành phần ngưng tụ được phân bố dọc theo phương Oz và có
tính chất đối xứng tịnh tiến theo các phương Ox, Oy thì (1.18) sẽ được viết lại
2 d 2y
3
y g y 0. (1.19)
2
2m dz
Đưa phương trình (1.19) về dạng không thứ nguyên bằng cách đưa ra
một số đại lượng sau
.
2mgn0
(1.21)
Thế (1.20) và (1.21) vào (1.19) ta thu được biểu thức sau
2 gn0
1
. n0
2
d 2
gn0 n0 gn0 n0 3 0.
2
d
Khi đó phương trình (1.19) dưới dạng không thứ nguyên có dạng
2 3 0.
(1.22)
N n0 2 d , (1.23)
0
Phương trình (1.22) chính là phương trình Gross-Pitaevskii không phụ
4
2
)
V
4
2
(
).
gn02
2
V
VGP , khi đó ta có
gn02
VGP 2
4
2
(1.25)
.
VDPA 2a
1
1
2( 1) 2 ,
2
2
(1.27)
trong đó VDPA là thế gần đúng trong parabol kép.
0.4
V
0.2
0.0
0.2
0.4
1.5
1.0
0.5
0.0
SỨC CĂNG MẶT NGOÀI CỦA NGƯNG TỤ BOSE-EINSTEIN MỘT
THÀNH PHẦN TRONG THỐNG KÊ CHÍNH TẮC
2.1. Các hệ thống kê.
2.1.1. Hệ hạt đồng nhất.
Khảo sát hệ gồm N hạt chuyển động phi tương đối tính. Khi đó phương
trình viết cho toán tử Hamilton có dạng
N
ˆ i2 ˆ
ˆ
ˆ
H
V r1 , r2 ,, rN W,
2
m
i 1
(2.1)
ˆ là toán tử biểu thị cho
với Vˆ là toán tử thế năng tương tác giữa các hạt, W
tương tác spin - quỹ đạo.
Hàm sóng của phương trình Schrodinger có dạng
ˆ
i H y 1, 2,, N , t 0,
t
X f H X , a
(2.3)
Đồng thời hàm phân bố phải thỏa mãn điều kiện chuẩn hóa
X dX 1.
(2.4)
x
Rõ ràng là, dạng cụ thể của hàm f ( H ) phụ thuộc vào hệ vĩ mô (hệ nhiệt
động), hoặc là theo quan điểm vĩ mô, thì nó phụ thuộc vào tính chất của mối
liên hệ của hệ với các vật bên ngoài và vào phương pháp lựa chọn hệ. Thường
có hai loại hệ là hệ đoạn nhiệt (hệ không tương tác với các vật bên ngoài) và
hệ đẳng nhiệt (hệ có nhiệt độ rất cao được xác định và cho trước, có nhiệt
dung rất lớn).
Ta xét một hệ đoạn nhiệt với các thông số ngoại là hằng số. Đối với một
hệ như vậy, hiển nhiên có
H X , a E const.
(2.5)
Hàm f a phải có dạng cực đại nhọn, bởi vì năng lượng của hệ phải có
giá trị hoàn toàn xác định và sẽ không thay đổi với thời gian. Nói khác đi
năng lượng của hệ không thể sai lệch một cách đáng kể với giá trị hoàn toàn
16
x
Công thức (2.7) được gọi là phân bố vi chính tắc Gipxơ. Từ đó ta có thể
tính được trị trung bình của các đại lượng vật lí bất kì đối với hệ cô lập đoạn
nhiệt dựa vào công thức
F FX
x
1
E H X , a dX ,
E, a
(2.8)
với đại lượng E , a có ý nghĩa hình học cụ thể. Ta hãy xét tích phân của
E , a theo năng lượng lấy trong khoảng giới hạn từ giá trị cực tiểu khả hữu
E0 của năng lượng của hệ tới giá trị E :
E
E
E , a , a d H X , a d dX .
E0
(2.9)
x E0
Do đó tính chất của hàm , biểu thức dưới dấu tích phân trong (2.9) (tức
là tích phân theo x) có trị số bằng 1 khi E0 H X , a E , và bằng không khi
Để làm sáng tỏ ý nghĩa nhiệt động của đại lượng E , a ta xét vi phân
của
:
d ln
1
dE
da .
E
a
Theo (2.9)
E , a
E
H X , a E
E0
H
X
,
a
Hiển nhiên là 0 khi E E0 theo (2.9), nghĩa là E0 , a 0 từ đó
E0 , a
0 , và tận dụng khái niệm về trị trung bình (2.8), ta được
E0
H
a
a
A,
18
(2.12)