CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI NHÁNH TÂY SÀI GÒN TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
CỦA NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI NHÁNH TÂY SÀI GÒN
TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LƯU THỊ THANH VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NÔNG LÂM

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2009


Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG AGRIBANK CHI
NHÁNH TÂY SÀI GÒN TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ”
do Lưu Thị Thanh Việt, sinh viên khóa 31, ngành KINH TẾ, chuyên ngành KINH TẾ
NÔNG LÂM, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày

.

TS. NGUYỄN VĂN NGÃI
Người hướng dẫn,

Ngày

Xin chân thành cảm ơn đến các anh chị, cô chú phòng kế hoạch kinh doanh của
ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn đã cung cấp những thông tin cần thiết cho
em trong quá trình thực tập.
Con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến mẹ, người đã luôn ở bên con, luôn
động viên nhắc nhở và cố gắng tạo mọi điều kiện tốt nhất để con được tiếp tục con
đường học tập của mình.
Mình xin gửi lời cảm ơn đến tất cả bạn bè - những người luôn giúp đỡ và động
viên mình trong suốt quãng thời gian còn ngồi trên ghế nhà trường.
Vì thời gian và kiến thức có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong được quý thầy cô lượng thứ.
Cuối cùng em xin kính chúc tập thể các thầy cô trường Đại Học Nông Lâm
cùng tập thể các anh chị, cô chú làm việc ở ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài
Gòn lời chúc sức khỏe và thành đạt.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2009
Sinh viên
Lưu Thị Thanh Việt


NỘI DUNG TÓM TẮT
LƯU THỊ THANH VIỆT. Tháng 07 năm 2009. “Các Yếu Tố Ảnh Hưởng đến
Chất Lượng Dịch Vụ của Ngân Hàng Agribank Chi Nhánh Tây Sài Gòn trong
Tiến Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế”.
LƯU THỊ THANH VIỆT. July 2009. “The Factors Influencing on Quality in
Banking Services at Agribank Bank – Branch Western Saigon in the Process of
the International Economic Integration”.
Khoá luận tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của ngân
hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn và qua đó nghiên cứu mối quan hệ giữa sự hài
lòng của khách hàng về các yếu tố chất lượng dịch vụ của ngân hàng. Từ đó có những
giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh
của ngân hàng, đặc biệt là trong thời buổi hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.


xi

CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

2

1.3. Phạm vi nghiên cứu

2

1.4. Cấu trúc khoá luận

2


10

2.3. Đánh giá tổng quát về dịch vụ của Ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây
Sài Gòn

18

2.3.1. Những kết quả đạt được

18

2.3.2. Những mặt còn tồn tại

20

2.4. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế

21
v


2.5. Phương hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Agribank Chi nhánh
Tây Sài Gòn trong năm 2009

22

CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu


3.2.5. Nghiên cứu sơ bộ - phỏng vấn thử

36

3.2.6. Điều chỉnh thang đo lần 2

37

3.2.7. Đo lường mức độ hài lòng của khách hàng

37

3.2.8. Nghiên cứu chính thức

37

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

38

4.1. Mô tả mẫu

38

4.2. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha

41

4.2.1. Kết quả thang đo chất lượng dịch vụ

hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn

55

4.6. Phân tích phương sai một yếu tố (Oneway anova)

56

4.7. Nhận xét kết quả nghiên cứu này với các kết quả nghiên cứu trước

60

vi


4.8. Đề xuất những giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với chất
lượng dịch vụ của ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

61
65

5.1. Kết luận

65

5.2. Kiến nghị

66


Exploratory Factor Analysis - Kỹ Thuật Phân
Tích Nhân Tố Khám Phá

SERVQUAL

Service Quality – Thang Đo Chất Lượng Dịch
Vụ của Parasuraman & ctg, 1985

QĐ – NHNN

Quyết Định Ngân Hàng Nhà Nước

STT

Số Thứ Tự

USD

Đô La Mỹ

VNĐ

Việt Nam Đồng

WTO

Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade
Organization)

viii

Bảng 4.3. Kiểm Định Cronbach’s Alpha của Thành Phần Tin Cậy

42

Bảng 4.4. Kiểm Định Cronbach’s Alpha của Thành Phần Đáp ứng

42

Bảng 4.5. Kiểm Định Cronbach’s Alpha của Thành Phần Năng Lực Phục Vụ

43

Bảng 4.6. Kiểm Định Cronbach’s Alpha của Thành Phần Đồng Cảm

44

Bảng 4.7. Kiểm Định Cronbach’s Alpha của Thành Phần Phương Tiện Hữu Hình

44

Bảng 4.8. Kiểm Định Cronbach’s Alpha của Thang Đo Mức Độ Hài Lòng

45

Bảng 4.9. Phân Tích Nhân Tố Khám Phá của Thang Đo Chất Lượng Dịch Vụ

46

Bảng 4.10. Kết Quả Phân Tích Nhân Tố Khám Phá của Thang Đo Mức Độ Hài
Lòng

59

Bảng 4.18. Phân Tích Phương Sai ANOVA về Thu Nhập

59

ix


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.2. Biểu Đồ Tổng Nguồn Vốn Huy Động qua 3 Năm 2006, 2007, 2008

11

Hình 2.3. Biểu Đồ Tổng Dư Nợ qua 3 Năm 2006, 2007, 2008

12

Hình 2.4. Biểu Đồ Tổng Doanh Số Thanh Toán Quốc Tế của Ngân Hàng qua 3 Năm
2006, 2007, 2008

15

Hình 3.1. Mô Hình 5 Khoảng Cách Chất Lượng Dịch Vụ của Parasuraman & Ctg

28

Hình 3.2. Mối Quan Hệ giữa Chất Lượng Dịch Vụ với Sự Hài Lòng Của Khách Hàng 31
Hình 3.3. Quy Trình Nghiên Cứu

cạnh tranh nhất. Thực hiện các cam kết Hiệp định thương mại Việt Mỹ, các cam kết
song phương và đa phương, ngành ngân hàng đang đặt ra cho một hướng đi mới. Mở
cửa thị trường tài chính, áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước và nước
ngoài ngày càng gia tăng. Thị trường bị chia sẻ đáng kể khi các tập đoàn, các ngân
hàng lớn của nước ngoài đầu tư ngày càng nhiều vào Việt Nam. Dù một số ngân hàng
đã có những bước đi nhằm cải thiện tình hình chất lượng dịch vụ nhưng nhìn chung
thực trạng chất lượng dịch vụ của các ngân hàng trong ngành vẫn còn bộc lộ nhiều hạn
chế đáng kể. Nguy cơ khách hàng chuyển sang sử dụng dịch vụ của các ngân hàng
nước ngoài ngày càng gia tăng đòi hỏi các ngân hàng trong nước phải nhận diện và
nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Agribank cũng như các ngân hàng thương mại khác đang đứng trước áp lực
cạnh tranh gay gắt này. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dịch vụ? Làm thế nào
để khách hàng Agribank có thể hài lòng với các dịch vụ của ngân hàng mình? Từ
những thực tế này, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng,
nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của khách hàng về
chất lượng dịch vụ ngân hàng là việc làm rất có ý nghĩa. Chính vì vậy khóa luận thực
hiện nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng Agribank
Chi nhánh Tây Sài Gòn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” nhằm đánh giá các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng để từ đó có biện pháp nâng cao
chất lượng dịch vụ ngân hàng trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế.


1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ ngân hàng và sự
hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn và đề ra
giải pháp phát triển chất lượng dịch vụ.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng phát triển dịch vụ của ngân hàng, những mặt mạnh và
những mặt còn tồn tại.

Chương 3: Chương này nêu lên những khái niệm, định nghĩa liên quan đến vấn
đề nghiên cứu. Phần cuối của chương nêu lên phương pháp được dùng để nghiên cứu
đề tài.
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận mà tác giả đã thu thập
trong quá trình điều tra nghiên cứu để đạt mục tiêu nghiên cứu ban đầu .
Chương 5: Rút ra những kết luận qua quá trình tìm hiểu, khảo sát nghiên cứu và
nêu ra những hạn chế của đề tài nghiên cứu, đề ra hướng nghiên cứu tiếp theo, và cuối
cùng đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần giải quyết vấn đề.

3


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội địa phương năm 2008 ảnh hưởng đến
hoạt động của ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn
Năm 2008 là năm bản lề của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 20062010 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng, lại là năm mà tình hình kinh tế
thế giới và trong nước biến động rất phức tạp, khó lường, thậm chí vận động theo
những xu hướng trái chiều. Năm 2008 là năm thứ 3 thực hiện Nghị quyết Đảng bộ
quận 12 – TP.HCM lần thứ III, kế hoạch 5 năm (2006-2010). Hoạt động kinh tế trong
năm qua gặp rất nhiều khó khăn và chịu tác động trực tiếp cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới nhưng Chính phủ đã kịp thời và kiên quyết chỉ đạo các bộ ngành, địa phương
nổ lực thực hiện 8 nhóm giải pháp chống lạm phát để phấn đấu tăng trưởng kinh tế,
thực hiện an sinh xã hội. Kinh tế quận 12 vẫn giữ được nhịp tăng trưởng tốt, đảm bảo
các chỉ tiêu tăng trưởng mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận và kế hoạch năm đã đề
ra. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng Thương mại - Dịch vụ - Công
nghiệp – Nông nghiệp, trong đó chú trọng đến việc phát triển loại hình dịch vụ trình độ
cao, quy mô đầu tư lớn.
Kết quả hoạt động của một số ngành kinh tế của quận trong năm qua như sau:

số 53/HĐBT thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát
Triển Nông Nghiệp Việt Nam. Tuy đã hình thành, nhưng tổ chức bộ máy và cơ chế
hoạt động vẫn do Ngân hàng Nhà nước quản lý và điều hành.
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân
hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam là ngân
hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là
một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của
mình trước pháp luật.
Từ 1992, Ngân hàng Nông nghiệp mở ra hoạt động kinh doanh đối ngoại gồm
cả cho vay ngoại tệ và thanh toán quốc tế, đồng thời là Ngân hàng thương mại đầu tiên
5


thực hiện dự án của các tổ chức quốc tế. Là Ngân hàng thương mại, nhưng Ngân hàng
Nông nghiệp rất quan tâm đến đầu tư cho hộ nghèo, đóng góp tích cực vào xoá đói
giảm nghèo.
Năm 1994, Ngân hàng Nông nghiệp thành lập Quỹ Cho vay ưu đãi Hộ nghèo.
Trên cơ sở đó năm 1995, đề xuất được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
cho lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp. Ngân
hàng Phục vụ người nghèo được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao, từ năm
2003 chuyển thành Ngân hàng Chính sách Xã hội.
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng uỷ quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động kinh doanh có tư cách pháp nhân, được tổ chức và hoạt động theo
điều lệ thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn, vốn điều lệ của Nhà nước xác định
là 5000 tỷ đồng Việt Nam, có trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội: số 2 - Láng Hạ quận Ba Đình - Hà Nội.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là doanh nghiệp

mạnh hàng đầu được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lao động
trong thời kỳ đổi mới (2003), Huân chương độc lập hạng nhì (2008); hàng nghìn tập
thể, cá nhân được trao tặng nhiều huân chương, phần thưởng lớn.
Với những thành tựu đã đạt được như vây, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn được khẳng định là ngân hàng chủ đạo, chủ lực trong thị trường tài
chính nông thôn, đồng thời là ngân hàng thương mại đa năng, giữ vị trí hàng đầu trong
hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
2.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài
Gòn
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tây Sài Gòn (tiền
thân là Chi nhánh Quang Trung) là một trong những chi nhánh của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam được thành lập theo quyết định số 39LQĐNHNN ngày 08/07/1998 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam, trụ sở Chi nhánh đặt tại: 131A Lê Văn Khương, Phường Hiệp
Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ chính của chi nhánh là thực hiện các nghiệp vụ tiền tệ tín dụng, dịch
vụ ngân hàng và các nghiệp vụ khác đối với các thành phần kinh tế và dân cư tại Quận
12, cũng như các quận lân cận tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi thành lập đến nay,
7


ngân hàng luôn bám sát mục tiêu phát triển của ngành, của kinh tế địa phương, từng
bước đi vào hoạt động có hiệu quả. Từ đó tạo thành động lực phát triển, đưa hoạt động
của ngân hàng hoà vào sự phát triển chung của đất nước.
Với phương châm kinh doanh “Ngân hàng AGRIBANK - Chi nhánh Tây Sài
Gòn góp phần làm gia tăng lợi ích của khách hàng”, đến với Ngân hàng Agribank Chi
nhánh Tây Sài Gòn, khách hàng sẽ được phục vụ nhiệt thành, tận tâm, chu đáo, nhanh
chóng, an toàn và hiệu quả. Với mong muốn trở thành người bạn đồng hành cùng với
quá trình phát triển của doanh nghiệp và mọi nhà, Ngân hàng mong tiếp tục nhận được
sự quan tâm, hợp tác của các đối tác và của Quý khách hàng.
2.2.3. Bộ máy quản lí của ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn


PHÒNG
TTQT

PHÒNG GIAO
DỊCH 1

PHÒNG GIAO
DỊCH 2

PHÒNG GIAO
DỊCH 3

Nguồn tin: Phòng kế hoạch kinh doanh ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn

8


Trong đó:
PHÒNG KHKD: Phòng kế hoạch kinh doanh.
PHÒNG HCNS: Phòng hành chính nhân sự.
PHÒNG TTQT: Phòng thanh toán quốc tế.
b) Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban
Giám đốc: Chịu trách nhiệm điều hành và chỉ đạo chung toàn bộ hoạt động
kinh doanh của chi nhánh, trực tiếp chỉ đạo tất cả các phòng ban tại chi nhánh và tổ
chức sắp xếp bộ máy hoạt động sao cho phù hợp với quy định của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Phó giám đốc: Hỗ trợ cho giám đốc có hai phó giám đốc – là người quyết định
toàn bộ mọi hoạt động của chi nhánh, đề xuất, tham mưu cho giám đốc đồng thời phải
chịu trách nhiệm về mọi quyết định của mình.

và phòng ban.
Phòng giao dịch: Mỗi phòng giao dịch gồm 1 Giám đốc, 1 Phó Giám đốc và 6
nhân viên (3 nhân viên kế toán, ngân quỹ và 3 nhân viên tín dụng). Các phòng giao
dịch chịu sự điều hành trực tiếp của Giám đốc.
2.2.4. Các loại hình dịch vụ của ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn
a) Huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động truyền thống và chủ yếu của các ngân hàng thương
mại nói chung. Dịch vụ huy động vốn của ngân hàng chủ yếu là huy động tiền gửi tiết
kiệm của công chúng nhằm tạo ra nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Với nhiều hình
thức huy động vốn đa dạng và phong phú về kỳ hạn, về loại tiền gửi, lãi suất linh hoạt,
hấp dẫn, Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn đã thu hút ngày càng đông đảo khách hàng
Quận 12 và khu vực lân cận.
Nhìn chung, tình hình huy động vốn tại Chi nhánh tăng từ năm 2006 đến năm
2007 và sang năm 2008 thì giảm, thể hiện qua bảng và biểu đồ dưới đây:
Bảng 2.1. Nguồn Vốn Huy Động từ Năm 2006-2008 tại Ngân Hàng Agribank Chi
Nhánh Tây Sài Gòn
Đơn vị: tỷ đồng.
Chỉ tiêu

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Tổng nguồn vốn huy động

1092.2

1832

800
600
400
200
0

1832
1494
1092.2
Tổng nguồn vốn

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm

Nguồn tin: Tính toán tổng hợp
Tổng nguồn vốn huy động được cuối năm 2006 là 1092.2 tỷ đồng, đến cuối
năm 2007 là 1832 tỷ đồng, tăng 739.8 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 67.73%. Nhưng
đến cuối năm 2008, tổng nguồn vốn huy động giảm 338 tỷ đồng, còn 1494 tỷ đồng, tốc
độ tăng trưởng giảm 30.95%. Nguyên nhân là do năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO,
hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo
hướng thương mại dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp, kinh tế quận 12 đã có những
khởi sắc đáng kể, nhiều công ty đầu tư mới với tổng số vốn trên 1098 tỷ đồng, tăng
39% so năm 2006. Lượng vốn huy động được từ các công ty, các tổ chức kinh tế tăng
cao từ 438.4 tỷ đồng năm 2006 lên 1010 tỷ đồng năm 2007, tăng 571.6 tỷ đồng. Lượng
tiền gửi dân cư năm 2006 588.8 tỷ đồng, đến cuối năm 2007 là 818 tỷ đồng, tăng 229.2


712.6

1572

1220

Giá trị tăng trưởng

859.4

-352

Tốc độ tăng trưởng (%)

120.6

-22.39

+ Dư nợ nội tệ

704.7

1485

1198

+ Dư nợ ngoại tệ quy VNĐ

7.9

12


Tổng dư nợ của Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn thay đổi qua 3 năm: năm
2006, dư nợ tại thời điểm ngày 31/12/2006 đạt 712.6 tỷ đồng, trong đó dư nợ nội tệ
704.7 tỷ đồng và dư nợ ngoại tệ quy VNĐ là 7.9 tỷ đồng; ngày 31/12/2007, dư nợ đạt
1572 tỷ đồng, tăng 859.4 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 120.6%, trong đó dư nợ nội tệ
1485 tỷ đồng và dư nợ ngoại tệ quy VNĐ là 87 tỷ đồng; đến ngày 31/12/2008 dư nợ
giảm 352 tỷ đồng, còn 1220 tỷ đồng, tốc độ giảm 22.39%, trong đó dư nợ nội tệ 1198
tỷ đồng và dư nợ ngoại tệ quy VNĐ là 22 tỷ đồng.
Trong cơ cấu dư nợ tín dụng tại Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn, dư nợ nội tệ
tăng từ cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 là 780.3 tỷ đồng, tuy nhiên đến cuối năm
2008 lại giảm 287 tỷ đồng. Dư nợ ngoại tệ cũng có xu hướng biến động như dư nợ nội
tệ, đến cuối năm 2007, dư nợ ngoại tệ tăng 79.1 tỷ đồng, tuy nhiên đến cuối năm 2008
dư nợ ngoại tệ giảm 65 tỷ đồng.
Qua 3 năm, dư nợ tín dụng của Ngân hàng Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn
biến động tăng rồi lại giảm, nguyên nhân là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế.
Khủng hoảng kinh tế không những làm cho tình hình huy động vốn của Ngân hàng
giảm mà còn tác động đến hoạt động cho vay của Ngân hàng làm cho dư nợ cho vay
giảm đáng kể, tuy nhiên dư nợ cho vay cuối năm 2008 vẫn cao hơn dư nợ cho vay cuối
năm 2006.
c) Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh là dịch vụ phục vụ các khách hàng doanh nghiệp, công ty nhằm bảo
lãnh thực hiện nghĩa vụ của khách hàng với bên thứ ba.
Đối với dịch vụ bảo lãnh, Chi nhánh Tây Sài Gòn thực hiện khá đầy đủ các
nghiệp vụ bảo lãnh theo văn bản số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và công văn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam bao gồm: bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh
dự thầu, các nghiệp vụ bảo lãnh khác,…. Mặc dù, thu nhập từ hoạt động dịch vụ bảo
lãnh còn thấp và chưa đáng kể trên tổng thu nhập tại Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn

+ Số món

10

13

7

+ Số tiền

1769

5071

4989

+ Số món

3

2

3

+ Số tiền

84

324


6938

8175

Tổng số phí thu được

45

67

82

Bảo lãnh dự thầu

Bảo lãnh khác

Nguồn tin: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2006, 2007, 2008 Ngân hàng
Agribank Chi nhánh Tây Sài Gòn
Trong năm 2006 Ngân hàng phát hành được 17 món bảo lãnh các loại, với số
tiền bảo lãnh là 2 tỷ 149 triệu đồng và số phí thu được là 45 triệu đồng, sang năm 2007
phát hành được 25 món bảo lãnh, tăng 8 món bảo lãnh, với số tiền 6 tỷ 938 triệu đồng
và số phí thu được là 67 triệu đồng. Năm 2008, Ngân hàng phát hành được 30 món
bảo lãnh, tăng thêm 5 món bảo lãnh so với năm 2007, với số tiền là 8 tỷ 175 triệu
đồng, và tổng số phí thu được năm 2008 là 82 tỷ đồng. Qua 3 năm phát hành bảo lãnh
2006, 2007, 2008, chưa năm nào xảy ra tình trạng Ngân hàng phải trả thay số tiền nhận
bảo lãnh. Đây là tín hiệu rất khả quan khi mà dịch vụ này đã ngày càng được các
doanh nghiệp sử dụng rộng rãi.

14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status