BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HUỲNH GIAO
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ
VỀ TIÊM NGỪA VIÊM GAN SIÊU VI B
VÀ TỶ LỆ TRẺ CÓ KHÁNG THỂ SAU TIÊM NGỪA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm vi rút viêm gan siêu vi B (HBV) là một vấn đề sức khỏe trên toàn thế
giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 2 tỷ người trên thế giới
(khoảng 30% dân số) đã bị nhiễm HBV, với hơn 350 triệu người đang mang mầm
bệnh mạn tính và hàng triệu người khác có nguy cơ lây nhiễm nhất là những người
bị nhiễm HBV mà không biết tình trạng bệnh mạn tính của họ. Năm 2002 có
khoảng 600 ngàn người tử vong, đến năm 2015 có 887.000 người tử vong do viêm
gan mạn bao gồm xơ gan và ung thư gan có liên quan đến HBV [49], [141], [148].
Đối với trẻ em, khả năng nhiễm HBV trở thành mạn tính còn tùy thuộc vào tuổi bị
nhiễm, nếu trẻ nhiễm lúc sinh khả năng tiến triển thành mạn tính là 90%, nhiễm từ 1
đến 5 tuổi khả năng là 30% và sau 5 tuổi chỉ còn 5 đến 10% [147]. Việt Nam được
xếp vào vùng lưu hành cao của HBV với khoảng 8-20% dân số đang mang mầm
vắcxin
dụng
phối hợp
5/1:
DPT-VGSVB-Hib
(Quinvaxem)
vàđưa
được
triển
khai trình
trênđược
toàn
quốc
vớidạng
lịchrộng
tiêm 0, 2, 3 và 4 tháng. Trước khi thực hiện chương trình tiêm ngừa thường quy, tỷ
lệ mang HBsAg ở trẻ em cao từ 9,3% – 14,1%, điều này cho thấy lây truyền chu
sinh và giai đoạn sớm là phương thức lây truyền chính ở trẻ em Việt Nam [101],
[107]. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chương trình tiêm chủng trong năm 2014, cho
thấy tỷ lệ trẻ nhiễm HBV chỉ còn 2,7%; như vậy tiêm chủng đã làm giảm đáng kể
tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ em và tầm quan trọng của liều sơ sinh [106]. Tuy nhiên,
nghiên cứu của Trần Ngọc Hữu (2011) tại Long An ở trẻ sử dụng Quinvaxem với
kết quả tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể lúc một năm sau mũi 3 thì thấp 76,7% [134]. Ngoài
ra, vào thời điểm năm 2013 - 2014, một loạt sự cố ghi nhận trẻ sơ sinh tử vong sau
tiêm vắc-xin VGSVB, mặc dù đã có kết luận của Hội đồng chuyên môn không có
liên quan giữa vắc-xin và tử vong nhưng tỷ lệ tiêm vắc-xin VGSVB tại Việt Nam
liên tục sụt giảm, chỉ có khoảng hơn 50% số trẻ sơ sinh được tiêm vắc-xin này. Đa
số các bà mẹ đồng ý cho con tiêm là vì tin bác sĩ chứ chưa thực sự hiểu vì sao phải
đúng về tiêm ngừa VGSVB và tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ sau tiêm ngừa theo
lối tiếp cận mới dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ sát hợp với tâm lý và hành vi
của cộng đồng bà mẹ có con chủng ngừa trong chương trình TCMR tại TP HCM.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ bà mẹ có KAP đúng về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Các
yếu tố nào liên quan đến KAP đúng?
Tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ (anti-HBs ≥ 10mUI/ml) sau tiêm ngừa vắcxin viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Các yếu tố nào liên quan đến đáp ứng miễn
dịch của trẻ?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Xây dựng và đánh giá bộ công cụ đo lường kiến thức, thái độ và thực hành
về viêm gan siêu vi B của các bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tại các
trạm y tế Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Xác định tỷ lệ bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tuổi tại Thành phố Hồ Chí
Minh có kiến thức đúng, thái độ đúng và thực hành đúng về tiêm ngừa viêm
gan siêu vi B.
3. Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành về tiêm ngừa
viêm gan siêu vi B và với các đặc điểm dân số của bà mẹ.
4. Xác định tỷ lệ trẻ 12 tháng 24 tháng có đủ kháng thể bảo vệ sau tiêm ngừa
vắc- xin viêm gan siêu vi B và mối liên quan giữa đáp ứng miễn dịch với đặc
điểm dân số của trẻ.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm chung về VGSVB
1.1.1. Định nghĩa
Vi rút viêm gan siêu vi B, viết tắt là HBV (hepatitis B vi rút) thuộc họ
Hepadnaviridae được phát hiện vào năm 1883, là một vi rút có DNA sợi kép. Người
ta tìm thấy có 3 loại kháng nguyên khác nhau: HBsAg (hepatitis B surface antigen)
khác có trong máu. Chỉ dùng loại kim và ống tiêm dùng 1 lần, tất cả các dụng cụ
tiêm chích, dụng cụ y tế sử dụng trong ngành ngoại khoa đều phải đảm bảo tiệt
0
trùng đầy đủ (HBV chịu nhiệt, chỉ bị tiêu diệt hoàn toàn ở 100 C sau 30 phút).
Tạo miễn dịch thụ động (HBIg)
Là khi kháng thể được chủ động đưa vào cơ thể mà không phải do cơ thể tự
sản xuất được [1]. Trong thời kỳ chu sinh, HBIg cho thấy có hiệu quả khoảng 75%
phòng ngừa HBV có triệu chứng hoặc nhiễm mạn tính ở những trẻ sơ sinh từ mẹ có
HBV dương tính. Khi kết hợp HBIg và vắc- xin sẽ tăng hiệu quả bảo vệ lên 85-95%
[85], [146].
HBIg có vai trò bảo vệ cơ thể chống HBV nếu được dùng sớm sau khi tiếp xúc
với mầm bệnh (trong vòng 3 ngày đầu). HBIg thường được kết hợp với vắc-xin
VGSVB để phòng ngừa trong những trường hợp sau:
-
Trẻ sinh ra từ bà mẹ có HBsAg (+), đặc biệt có HBeAg (+) (tiếp xúc chu sinh).
-
Tiếp xúc với máu có HBsAg (+) qua đường niêm mạc hoặc xuyên da.
-
Quan hệ tình dục với người có HBsAg (+).
-
Ngoài ra còn dùng để bảo vệ bệnh nhân khỏi nhiễm HBV tái diễn sau ghép gan.
HBIg tạo sự bảo vệ ngay lập tức nhờ kháng thể nhận được thụ động, sau đó là
Vắc-xin Quinvaxem:
Vắc- xin VGSVB dạng phối hợp Quinvaxem còn gọi là vắc-xin “5 trong 1”
chứa 5 thành phần bao gồm giải độc tố vi khuẩn bạch hầu, uốn ván, vi khuẩn ho gà
bất hoạt, kháng nguyên HBV (tái tổ hợp) và kháng nguyên vi khuẩn Haemophilus
influenzae type b (Hib). Phòng được các bệnh: bạch hầu, uốn ván, ho gà, VGSVB
và viêm phổi, viêm màng não do vi khuẩn Hib. Thành phần vắc- xin Quinvaxem
mỗi 1ml có chứa kháng nguyên bề mặt HBV 20µg/ml.
Vắc- xin Quinvaxem do công ty Crucell, Hàn Quốc sản xuất, đạt tiêu chuẩn
của WHO và được khuyến cáo sử dụng từ năm 2006. Tính tới nay, hơn 400 triệu
liều Quinvaxem đã được sử dụng ở 94 quốc gia và được đưa vào chương trình
TCMR cho trẻ dưới 1 tuổi ở Việt Nam từ tháng 6/2010. Ưu điểm của vắc-xin
VGSVB dạng phối hợp 5/1 (Quinvaxem) là kết hợp phòng được 5 loại bệnh trong
một mũi tiêm (bạch hầu – uốn ván – ho gà – VGSVB – Hib), giúp giảm số mũi tiêm
cho trẻ. Tuy nhiên, khi có biến cố sau tiêm chủng thì khó xác định kháng nguyên
nào là tác nhân gây phản ứng [143], [151].
Hình 1. 1. Vắc- xin viêm gan B dạng phối hợp Quinvaxem
“Nguồn: World Health Organization, 2013” [151]
1.2.2. Liều vắc- xin viêm gan siêu vi B và đường dùng
Khuyến cáo liều dùng khác nhau bởi các nhà sản xuất và tuổi của người được
tiêm. Nói chung, liều cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (
Liều
Tuổi
Liều
Lúc sinh (
Lúc sinh (
+: Recombivax và Engerix (đơn kháng nguyên) nên sử dụng lúc sinh. Comvax và
Pediarix (vắc-xin phối hợp) không được sử dụng lúc sinh hoặc < 6 tuần tuổi.
§: globulin miễn dịch VGSVB được chích trong cơ khác vị trí với vắc- xin
¶: liều cuối vắc- xin không được trước 24 tuần tuổi
++: liều đầu vắc- xin có thể trì hoãn sau khi xuất viện đối với trẻ cân nặng >2.000g
và mẹ có HBsAg âm tính.
“Nguồn: Centers for Disease Control and Prevention, 2015” [52].
Bảng 1. 2. Lịch tiêm VGSVB cho trẻ cân nặng < 2000g với tình trạng HBsAg mẹ
Tình trạng HBsAg mẹ
Dương tính
Lời khuyên
*
-
HBIg + vắc- xin VGSVB (trong 12 giờ sau sinh)
-
Tiếp tục tiêm ngừa lúc 1-2 tháng tuổi dựa vào lịch tiêm
cho trẻ có mẹ HBsAg dương tính (Bảng 1.1).
-
Không tính liều sơ sinh vào lịch tiêm chủng.
-
Hoàn thành lịch tiêm chủng (Bảng 1.1).
*: Globulin miễn dịch VGSVB.
“Nguồn: Centers for Disease Control and Prevention, 2015” [52].
Lịch tiêm chủng VGSVB trong TCMR tại Việt Nam
Lịch tiêm VGSVB trong TCMR 4 liều với 1 liều sơ sinh (trong 24 giờ sau
sinh) và 3 liều vắc-xin phối hợp 5/1 (Quinvaxem).
Bảng 1. 3. Lịch tiêm chủng tại Việt Nam
Tuổi
Sơ sinh
2 tháng
3 tháng
4tháng
DTPw-
DTPw-
DTPw-
VGSVB-Hib 1
VGSVB-Hib 2
VGSVB-Hib 3
- Tiêm tăng cường 3 liều vắc-xin theo lịch thông thường, xét nghiệm anti-HBs 1
tháng sau liều cuối.
- Chỉ tiêm 1 liều vắc-xin tăng cường và xét nghiệm anti-HBs sau 1 tháng. Nếu antiHBs (-), tiếp tục tiêm 2 liều tăng cường theo lịch thông thường [148], [148].
Vắc-xin VGSVB đã được sử dụng cách đây hơn 3 thập niên, đến nay vẫn chưa
có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nào đủ điều kiện để ủng hộ hoặc bác bỏ sự cần
thiết phải sử dụng liều tăng cường vắc-xin VGSVB ở những người khỏe mạnh, có
miễn dịch bình thường và đã có đáp ứng miễn dịch sau khi hoàn thành lịch tiêm cơ
bản. Trong thời gian chờ câu trả lời từ các nghiên cứu tiếp theo, nên xem xét liều
tăng cường ở trẻ lớn, thanh thiếu niên và những người có nguy cơ cao lây truyền
ngang HBV[83], [84].
1.2.5. Đáp ứng miễn dịch sau tiêm ngừa
Chỉ điểm về miễn dịch là kháng thể anti-HBs. Nghiên cứu hiệu quả của vắcxin đã cho thấy có thể bảo vệ hoàn toàn chống lại VGSVB cấp và mạn tính ở những
người có miễn dịch bình thường với mức anti HBs ≥10 mIU/mL sau tiêm chủng. Vì
vậy, huyết thanh bảo vệ chống lại nhiễm HBV được định nghĩa là có mức kháng thể
anti HBs ≥ 10mIU/mL, được đo lường 1-3 tháng sau khi hoàn thành lịch tiêm chủng.
Nồng độ kháng thể đạt cao nhất sau khi kết thúc lịch tiêm chủng. Kháng thể
IgM xuất hiện sau 2 mũi tiêm đầu (75-80%), sau đó IgG xuất hiện nhưng nồng độ
kháng thể có chiều hướng giảm sau vài tháng. Nếu tiêm nhắc lại mũi thứ 3, nồng độ
IgG tiếp tục tăng và tồn tại kéo dài hơn. Hai năm sau, nếu không tái chủng hoặc
không tiếp xúc với HBV, nồng độ anti-HBs sẽ giảm còn 1/3 so với nồng độ sau khi
hoàn tất lịch tiêm chủng, nhưng sau đó giảm chậm lại [77], [125], [126].
Kháng nguyên protein trong vắc-xin VGSVB gây ra cả đáp ứng miễn dịch
dịch thể và miễn dịch tế bào và còn gây miễn dịch nhớ kéo dài. Sau khi đưa kháng
nguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ đáp ứng bằng 2 cách:
- Lympho bào B nhận biết trực tiếp các protein nằm trên bề mặt siêu vi bằng các
thụ thể liên kết với các globulin miễn dịch (B-cell epitopes).
- Lympho T nhận biết các thành phần của siêu vi do các tế bào của ký chủ tiết ra
trong lúc bị nhiễm trùng (T-cell epitopes).
- Đáp ứng Ab của vắc-xin sống cao hơn so với loại
bất hoạt.
Protein và
Polysaccharide (PS)
Tá dược
- Nhờ tế bào T giúp đỡ và sự kích hoạt trung tâm
mầm
làm cho đáp ứng Ab của vắc-xin loại protein cao hơn
PS.
- Chi phối sự phóng thích và tồn tại lâu dài Ag (lưu
giữ hoặc phóng thích chậm), tăng cường đáp ứng của
Th (điều hòa miễn dịch: immunomodulator) có thể hỗ
Kháng nguyên
Kháng nguyên Protein
trợ hoặc hạn chế đáp ứng tạo Ab.
- Bao gồm các epitop (vị trí trên bề mặt Ab sẽ trực
tiếp kết hợp với một vị trí nhất định trên bề mặt Ag)
được nhận diện dễ dàng bởi các tế bào B, các epitop
được nhận diện bởi tế bào T giúp đỡ và khả năng Ag
liên kết/bền vững khi kết hợp với các tế bào đuôi gai
nang hóa (FDC: Follicular Dendritic Cells) tạo đáp
ứng kháng thể mạnh hơn.
Liều Ag
- Liều Ag càng cao sẽ làm tăng tính sẳn có của Ag
Tuổi trước sinh (tuổi thai) và tuổi sau sinh ở thời điểm tiêm ngừa quyết định đáp
ứng kháng thể ở trẻ sinh non. Lịch tiêm 3 liều vắc-xin cho trẻ với khoảng cách thời
gian giữa các liều là một tháng (thí dụ: 2,3,4 tháng hoặc 3,4,5 tháng) sẽ cho kết quả
đáp ứng miễn dịch thấp hơn so với lịch tiêm mà khoảng cách thời gian giữa các liều
hoặc liều đầu và liều tăng cường dài hơn (thí dụ 2,4,6 tháng) hoặc (3,5,12 tháng).
Mức độ đáp ứng kháng thể ở trẻ sơ sinh đối với lịch tiêm nhiều liều phụ thuộc vào
khoảng cách thời gian giữa các liều (khoảng thời gian giữa các liều dài hơn sẽ cho
đáp ứng mạnh hơn) và tuổi lúc tiêm liều cuối. Như vậy, để tạo đáp ứng miễn dịch
mạnh đối với một liều vắc-xin được cho sớm sau sinh thì khó đạt được mục tiêu, và
đáp ứng mạnh như người lớn chỉ có thể thấy ở những trẻ lớn hơn. Đáp ứng kháng
thể giảm nhanh trước 12 tháng tuổi và hiệu giá kháng thể nhanh chóng giảm trở về
mức ban đầu, điều này có thể liên quan đến sự bùng phát dịch bệnh [56].
Bảng 1. 5. Yếu tố quyết định đáp ứng tạo kháng thể của vắc-xin ở người khỏe
mạnh
Các yếu tố quyết định
Cơ chế (giả định)
Loại vắc-xin
Lịch tiêm
Khoảng cách liều
- Khoảng cách thời gian tối thiểu 3 tuần cho phép tạo
đáp ứng miễn dịch tiên phát với Ag đặc hiệu mà không bị
bất kỳ cản trở nào.
Các yếu tố quyết định
Khoảng cách liều
tăng cường
HBV ở trẻ sinh ra từ mẹ HBsAg dương tính tăng đáng kể khi cho liều đầu vắc- xin
VGSVB sau 7 ngày so với những trẻ được tiêm liều đầu vào ngày 1-3 sau sinh
[144], [148]. Sự bền vững của trí nhớ miễn dịch không đủ để bảo vệ chống lại
VGSVB cấp tính sau khi kháng thể do tiêm ngừa giảm. Khi anti-HBs giảm
1. Viêm cấp đã/đang hồi phục
2. Anti-HBc dương tính giả
3. Nhiễm HBV lâu, không còn kháng
thể
“Nguồn: World Health Organization, 2012” [148]
Theo Tổ chức Y tế thế giới(WHO), xét nghiệm sau tiêm ngừa thường qui thì
không cần thiết nhưng được khuyến cáo thực hiện ở những người có nguy cơ cao.
Tuy nhiên, nếu không xét nghiệm huyết thanh sẽ không biết được tỷ lệ chính xác
những người đã được tiêm ngừa đầy đủ được bảo vệ như thế nào. Sau tiêm ngừa,
hiệu giá kháng thể giảm theo thời gian, nghiên cứu 640 trẻ đã tiêm ngừa VGSVB
đầy đủ cho thấy tỷ lệ có kháng thể ban đầu là 93% đã giảm đến 70%, 40% và cuối
cùng là 25% lúc 5, 10 và 15 tuổi [118]. Xét nghiệm kiểm tra nên thực hiện 1-2
tháng sau liều cuối của lịch tiêm chủng bằng cách xác định nồng độ kháng thể antiHBs ≥10 mIU/ml. Nếu phát hiện anti-HBs
2013
2012
2011
2014
2013
2012
2011
94
96
96
95
99
99
99
99
99
99
99
99
99
98
98
Philipin
54
44
35
40
79
94
70
tính và biến chứng có liên quan VGSVB [160].
Đài Loan trước đây được xếp vào vùng có tỷ lệ lưu hành VGSVB cao với tỷ lệ
15 – 20% người mang HBsAg trong dân số, lây truyền dọc là nguyên nhân chính
gây ra nhiễm HBV mạn tính. Bắt đầu chương trình tiêm ngừa VGSVB năm 1984
cho trẻ sơ sinh của các bà mẹ nguy cơ cao và năm 1986 mở rộng cho tất cả trẻ sơ
sinh, làm cho tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ở trẻ em đã giảm hơn 90% [95], [155].
Hiệu quả của chương trình TCMR đang ngày càng làm cho tỷ lệ nhiễm HBV ở Đài
Loan dần trở thành vùng lưu hành thấp [72].
Bảng 1. 8. So sánh tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ở trẻ em sinh trước và sau khi đưa
vắc-xin VGSVB vào chương trình tiêm chủng
Địa điểm
Số xét
Tuổi
nghiệm
Độ bao phủ
Tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính
vắc-xin
Trước TCMR
Sau TCMR
87
7
0,5
Indonesia
2519
4
>90
6,2
1,9
Thái Bình Dương
200
3-4
94
9
0,5
2007 – 2008 (1,64%). Những trẻ tiêm đủ liều (≥ 3 liều bao gồm liều sơ sinh trong
24 giờ) có tỷ lệ mang HBsAg 1,75%, thấp hơn trẻ tiêm đủ ≥ 3 liều nhưng thiếu liều
sơ sinh 2,98% và thấp hơn đáng kể so với trẻ chưa được tiêm chủng (3,47%). Điều
này cho thấy tiêm chủng đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ em và tầm
quan trọng của liều sơ sinh [106]. Hiện nay, tỷ lệ mang HBsAg ở Việt Nam vẫn cao
trong dân số, có thể do chương trình chủng ngừa VGSVB chưa được thực hiện ở trẻ
lớn và người lớn và vẫn còn tồn tại kiến thức sai lầm về tiêm ngừa VGSVB (biểu đồ
1.2).
Biểu đồ 1. 2. Tỷ lệ mang HBsAg trong dân số chung
“Nguồn: Nguyen, 2012” [105]
Ghi nhận các biến cố sau tiêm vắc-xin Quinvaxem tại Việt Nam
Vắc-xin VGSVB dạng phối hợp 5/1 được sử dụng trong chương trình TCMR
từ tháng 6/2010. Từ tháng 6/2010 đến 5/2013 có 43 trường hợp tác dụng có hại
nghiêm trọng trong đó 27 trường hợp tử vong sau dùng Quinvaxem. Theo WHO,
các phản ứng này bao gồm: dị ứng, co giật, giảm trương lực cơ, các trường hợp tác
dụng có hại nghiêm trọng khác bao gồm cả tử vong, được báo cáo ở Việt Nam là
hoặc trùng hợp với các vấn đề sức khỏe ngẫu nhiên nhưng không liên quan đến vắcxin hoặc các trường hợp thông tin thu được không cho phép đưa ra quyết định
khẳng định. Tuy nhiên, những trường hợp tử vong này không có các yếu tố có thể
liên quan đến vắc-xin [150]. Trong năm 2015, ghi nhận có: 05 trường hợp tử vong
sau tiêm vắc- xin VGSVB và 02 trường hợp tử vong sau tiêm vắc- xin VGSVB và
BCG trên tổng số khoảng 1,3 triệu liều vắc-xin VGSVB, có 29 trường hợp tai biến
nặng sau tiêm vắc- xin Quinvaxem và uống vắc- xin OPV (17 trường hợp hồi phục,
12 trường hợp tử vong), bốn trường hợp hồi phục sau tiêm vắc-xin Quinvaxem,
uống vắc-xin OPV và Rota và 01 trường hợp hồi phục sau tiêm vắc-xin Quinvaxem
và uống vắc-xin Rota trên tổng số khoảng 5,1 triệu liều vắc-xin Quinvaxem và OPV
mỗi loại đã sử dụng [5]. Vì sự lo lắng liên quan đến an toàn vắc- xin, xu hướng hiện
nay phụ huynh cho trẻ tiêm dịch vụ hoặc trì hoãn và từ chối tiêm ngừa, nên tỷ lệ
ngày của đối tượng được phỏng vấn, để họ trả lời chính xác. Các từ khóa và đề mục
này được thu thập từ nghiên cứu định tính trên nhóm đối tượng cần khảo sát [116].
Bên cạnh đó, để đảm bảo nội dung đầy đủ, bộ câu hỏi khảo sát cần xây dựng dựa
trên khung lý thuyết. Có nhiều mô hình hành vi sức khỏe: mô hình Các giai đoạn
thay đổi (Stages of change model), mô hình Quá trình chấp nhận dự phòng
(Precaution adoption process model), mô hình Lý thuyết hành động hợp lý (TPB =
Theory of planned behavior) và mô hình Niềm tin sức khỏe (Health Belief Model).
Những học thuyết này cũng được sử dụng để can thiệp nhiều hành vi sức khỏe bao
gồm chụp nhũ ảnh, thuốc lá, giảm cân, kế hoạch hóa gia đình và sử dụng bao cao su
để phòng HIV [68]. Ở đây, chúng tôi chọn mô hình Niềm tin sức khỏe để làm
khung xây dựng bộ câu hỏi. Mô hình này chú trọng đến các quá trình nhận thức của
con người trong việc lý giải hành vi/ thực hành, nhằm giải thích vì sao khi không có
triệu chứng rõ ràng của bệnh mà người ta lại tự nguyện thực hiện các hành vi dự
phòng như đi khám bệnh, tiêm ngừa. Giá trị nội dung của bộ câu hỏi được xác định
dựa vào: sự rõ ràng, phù hợp, đơn giản và tính nhất quán của từng câu hỏi [66],
[123]. Trong bộ câu hỏi nghiên cứu, để giảm các sai lệch do sợ ảnh hưởng uy tín
(prestige bias), các biến số dịch tễ sẽ được đặt ở cuối bộ câu hỏi [66], [123].
1.4.2. Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM)
Là mô hình nhận thức xã hội được phát triển bởi Rosenstock, Hochbaum và
cộng sự trong những năm 1950. HBM là một trong những mô hình được phát triển
sớm nhất để giải thích hành vi liên quan đến chương trình phòng chống bệnh lao.
Mô hình có 5 yếu tố cơ bản bao gồm: nhận thức sự nhạy cảm, nhận thức sự nghiêm
trọng, nhận thức rào cản và lợi ích, tín hiệu hành động hành động và sự tự chủ (Biểu
đồ 1.3). HBM được sử dụng để hiểu tại sao người ta chấp nhận các dịch vụ sức
khỏe dự phòng và tại sao họ tham gia hoặc không tham gia các dịch vụ chăm sóc
sức sức khỏe khác. HBM đã giúp tạo ra hàng nghìn nghiên cứu về hành vi sức khỏe
và giáo dục sức khỏe và đã cung cấp nhiều khái niệm cơ bản cho sự can thiệp trong
nhiều năm từ khi nó được hình thành. Mô hình được sử dụng trong nhiều lĩnh vực